Bài tổng quan
Thi Cử Định Kỳ: Từ Đồng Thí, Tuế Khảo Đến Lương Bổng Và Thi Đình
Một nho sinh xem quẻ Tuế khảo, được hào Phụ Mẫu vượng tướng lâm Nguyệt kiến, tưởng chắc đỗ cao. Nhưng Nhật thần lại khắc hào Thế, nên hôm ra kết quả anh bị thầy quở trách — may nhờ nét chữ đẹp mà vẫn được xếp hạng ba. Một người khác hỏi liệu đơn vị có tăng lương cho mình không, quẻ hiện hào Tài được Nhật sinh nhưng hào Thế gặp Không, kết quả không được tăng, chỉ vì thiếu một tấm bằng cấp. Tăng San Bốc Dịch xâu chuỗi cả loạt kỳ thi định kỳ thời khoa cử vào cùng một hệ quy chiếu: vượng suy của hào Phụ Mẫu và hào Quan Quỷ. Điều gì khiến cùng một hào Phụ khi thì định văn chương, khi lại định cả vận may rủi của đời khoa bảng?
Mục lục · 5 phần
Cầu Danh: Xem Riêng Từng Cấp Thi Huyện, Thi Phủ, Thi Tỉnh
Dã Hạc bàn rằng: Khi xem về thi cử, nhiều khi được quẻ tốt, nhưng về sau thi tỉnh vẫn không đỗ đạt, là tại sao? Đó là thần cho ứng nghiệm chuyện gần chứ không ứng nghiệm việc xa. Đã báo danh thi ở phủ, huyện, thì trước hết cần phải xem kỳ thi huyện, sau đó tiếp tục xem về kỳ thi phủ, rồi sau đó mới xem về thi tỉnh. Nếu đều là quẻ tốt, mới đoán là đỗ cả. Nếu có quẻ không tốt, thì đừng mong thi tỉnh thành công.
Chú thích: Thi huyện, thi phủ, thi tỉnh xưa kia cũng tương đương với thi cử ở các bậc tiểu học, trung học, đại học thời hay. Xem phải thận trọng, nếu xem về thi tiểu học được quẻ tốt, không nên đem vận vào kỳ thi trung học, đại học sau này. Muốn thi vào cấp nào, vào trường nào, cần phải chia riêng ra từng quẻ để xem, mới tránh dược sai lầm.
Đồng Thí: Hào Phụ Mẫu Và Hào Quan Quỷ Định Thứ Hạng Sơ Khảo
Nắm được nguyên tắc chung, phép xem cụ thể cho từng kỳ thi bắt đầu từ khoa Đồng thí.
Phụ vượng Quan hưng, kham kỳ thủ tuyển; Quan suy Phụ phát, diệc hứa luân thu.
Phụ vượng, Quan hưng, sẽ được đỗ đầu; Quan suy, Phụ động, cũng được tuyển chọn.
Hào Quan trì Thế, được Nhật, Nguyệt, hào động tương sinh tương hợp, chắc chắn sẽ được đỗ đầu bảng. Hào Phụ trì Thế, được Nhật, Nguyệt, hào động tương sinh tương hợp, nếu Quan tinh hữu khí, sẽ được thành danh.
Tử hưng Tài phát ư quái trung, nan du Phán thuỷ.
Chú thích: Phán thủy hay Phán cung là chỉ nơi học tập của các chư hầu, sau dùng phiếm chỉ trường học.
Tử động, Tài động trong quẻ, khó thành nghiệp học.
Hào Tử động khắc Quan, hào Tài khắc Phụ, hoặc Tử, Tài trì thế, đều bất lợi cho thi cử.
Tân bình thích: Thuyết này hữu lý.
Ví dụ: Ngày Kỷ Hợi tháng Thìn, nữ xem thi, được Dự biến Bác.


Quan Quỷ tuy được Nguyệt sinh, Phụ Mẫu được Nhật thần tỉ phù, nhưng Tử Tài phát động trong quẻ, thi rất khó qua, quả nhiên không qua được.
Thế Phá Thân Không kiêm Mộ Tuyệt, tái phấn vân song!
Chú thích: Vân là loại cỏ có hương để diệt mối mọt. Vân song phiếm chỉ phòng đọc sách.
Thế gặp Phá, Không, Mộ, Tuyệt, tiếp tục dùi mài.
Hào Thế gặp Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hoặc bị Nhật, Nguyệt, hào động xung khắc, hoặc động mà biến hung, thi cử đều không được toại nguyện.
Tân bình thích: Thuyết này hữu lý.
Ví dụ: Ngày Canh Ngọ tháng Hợi, nam xem thi, được Tỉnh biến Tốn.


Quan Quỷ hưu tù bị Nhật khắc, hào Thế Không Vong, khó mà thi đậu, quả nhiên ứng nghiệm.
Phụ vượng tao thương, thu nhi phục khí; xung trung phùng hợp, kiến khí phục thu.
Phụ vượng gặp thương, chọn rồi lại bỏ; xung mà gặp hợp, bị trượt lại thu.
Hào Phụ Mẫu vượng tướng, nếu hóa hưu tù, Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hóa hồi đầu khắc hoặc bị xung khắc, là tượng trước thì lấy đỗ, sau lại đánh trượt.
Hào Thế, hào Phụ động mà gặp xung, nếu được Nhật, Nguyệt, hào động tương hợp, tức trong xung gặp hợp, chủ về trước bị trượt, sau lại lấy đỗ.
Phụ suy biến vượng, dũ xuất dũ kỳ; Phụ hóa Thoái thần, nhật trường, nhật đoản.
Phụ suy biến vượng, ngày thêm xuất sắc; Phụ hóa Thoái thần, trước hay sau dở.
Hào Phụ suy, nhưng động mà hóa vượng, hóa hồi đầu sinh, hóa Tiến thần, là tượng văn chương đắc ý, càng về sau càng xuất sắc. Nhưng Phụ không nên hóa Thoái thần. Hào Phụ vượng mà hóa Thoái thần, thì bài thi trước còn được, càng về sau càng kém. Hào Phụ suy mà hóa Thoái thần, hoặc hóa Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hoặc hóa hồi đầu khắc, có cất công dùi mài, đi thi cũng là vô ích.
Ví dụ: Ngày Bính Thân tháng Hợi, xem về kỳ thi tỉnh, được quẻ Phong biến Cách:


Hào Phụ Mẫu trì Thế hóa Tiến thần, Nhật thần làm Quan tinh sinh Thế, là tượng văn chương ngày càng xuất sắc, ắt sẽ đỗ đầu. Sau quả được đỗ đầu khoa.
Ví dụ: Ngày Nhâm Tý tháng Mão, xem về kỳ thi tỉnh, được quẻ Tiểu Súc:

Đoán rằng: Hào Phụ Mẫu Tý thủy lâm Nhật thần, vượng mà trì Thế, chủ về văn chương xuất sắc, nhưng hiềm vì hào Quan tinh Dậu kim gặp Nguyệt phá, nên phục mà không được hiển lộ, may nhờ Thìn thổ làm Phi thần, phá mà gặp hợp. Nếu thi vào tháng ba (tháng Thìn), ắt sẽ thi đỗ. Sau quả nhiên thi vào tháng ba mà được lấy đỗ.
Ví dụ: Ngày Đinh Tị tháng Thìn, xem về thi cử, được quẻ Cách biến Ký Tế:


Như đã trình bày tại phần trước, hào Phụ suy nếu biến vượng là tốt, trong quẻ này hào Thế Hợi thủy bị Nhật xung Nguyệt khắc, nhưng may nhờ hóa hồi đầu sinh, nên về sau vẫn được lấy đỗ.
Chú thích: Đồng thí là một chế độ thi cử thời Minh Thanh, quy định tổ chức ba năm một lần tại kinh thành, để tuyển chọn nhân tài cho quốc gia. Khi xem về kết quả thi cử, tốt nhất là hào Quan động, hào Phụ vượng; hào Quan là Nguyên thần của hào Phụ, kỵ gặp Tử, Mộ, Tuyệt, Không. Hào Phụ vượng, chủ về văn chương xuất sắc, thành tích vượt trội; hào Quan vượng chủ về công danh thăng tiến. Hào Quan, hào Phụ cùng vượng động, tương sinh, lại được Nhật Nguyệt, hào động sinh phò củng hợp, thì thành tích thi cử được như ý, chắc chắn sẽ đỗ đạt. Kỵ hào Tử, hào Tài động, hoặc hào Tử, hào Tài trì Thế, vì là tượng thành tích kém cỏi, công danh vô vọng.
Tuế Khảo: Kỳ Thi Hằng Năm Và Thang Bậc Xếp Hạng Bài Thi
Đồng thí định việc tuyển chọn ban đầu, Tuế khảo lại là kỳ sát hạch lặp lại mỗi năm.
Văn nghi vượng tướng, tối kỵ hưu tù; Quan nghi sinh Thân, bất nghi khắc Thế.
Phụ cần vượng tướng, kỵ nhất hưu tù; Quan nên sinh Thế, không nên khắc Thế.
Hào Phụ và hào Thế vượng tướng, lại được Nhật, Nguyệt, hào động sinh phò, hoặc động hóa cát, thì bài thi xuất sắc, không có thiếu sót, chắc chắn đỗ cao. Nếu hai hào này vượng mà gặp sinh là tốt nhất. Vượng mà không được sinh, tướng mà không được phò, nhưng không bị hình xung khắc phá là tốt thứ hai. Nếu một trong hai hào bị hình xung, là hạng kém hơn nữa. Hào Thế bị khắc, khó tránh khỏi bị phạt. Hào Thế, hào Phụ cùng bị khắc, là tượng bài thi hạng bét.
Dã Hạc bàn rằng: Phương pháp này là đúng, nhưng cũng cần phải biết biến thông, phải xem trạng thái của hào Phụ và hào Thế ra sao. Quẻ toàn mỹ là hào Thế, hào Phụ cùng vượng, được sinh phò, lại không bị hình khắc, nên bài thi sẽ là hạng nhất. Theo đó mà tra xét từng tầng bậc, hoặc được sinh phò mà được quẻ Lục xung biến xung, quẻ Phản ngâm, Phục ngâm, hóa Khắc hóa Tuyệt, chỉ bài thi có sơ hở. Hào Phụ bị khắc mà không được cứu ứng, là bài thi rất kém. Hào Thế bị khắc mà được phò trợ, cũng có thể được đỗ vớt.
Giác Tử bàn rằng: Căn cứ vào trạng thái vượng suy của hào Phụ để đoán định mức độ tốt xấu của bài thi, như vậy là đúng. "Dịch mạo" có viết: "Quẻ hóa Tiến thần, sẽ đỗ hàng đầu. Quẻ hóa Thoái thần, bài thi hạng bét". Nếu như quẻ không hóa Tiến thần, Thoái thần, lấy gì để định đoạt?
Ví dụ: Ngày Ất Tị tháng Thân, xem về Tuế khảo, được quẻ Đại Quá biến Đỉnh:


Có người cho rằng, hào Tài động sẽ khắc Phụ, lý luận như vậy là không biết biến thông. Quẻ này hào Phụ Hợi thủy trì Thế, được Nguyệt kiến Thân tương sinh, nên Phụ vượng mà Thế cũng vượng. Thế được Nhật thần Tị xung nên ám động. Hào Tài Mùi thổ tuy động mà sinh trợ Dậu kim Quan tinh; Quan lại sinh Thế, như vậy là tượng liên tục tương sinh, chủ về văn chương kiệt xuất, lời châu hàng gấm. Hào Tài sinh Quan vượng, chủ về đỗ hạng ưu, được lương bổng. Sau quả nhiên đỗ đầu, được ăn lộc.
Dã Hạc bàn rằng: Nói chung gặp quẻ Lục xung biến xung, hoặc có nhiều hào động, hoặc Phụ, Thế cùng vượng, thì đỗ hạng trung bình. Nếu hào Phụ suy, bị khắc, và hào Thế cũng hưu tù, bị khắc, hoặc biến hung, chắc chắn là thi hỏng.
Phi thần vô trợ Thân vô khắc, vinh nhục vô thi; Phục tàng vượng tướng Thế tao thương, thưởng phạt tịnh kiến.
Phi thần không được giúp, Thế không bị khắc, không nhục không vinh; Phục tàng mà vượng tướng, Thế bị khắc hại, thưởng phạt đều có.
Hào Phụ xuất hiện, không vượng không suy, tuy không được sinh phò, nhưng cũng không bị khắc chế, mà hào Thế không bị xung khắc, nên vẫn có thể xếp hạng trung bình.
Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Ngọ, xem về Tuế khảo, được quẻ Địa Thiên Thái:

Hào Phụ Mẫu Ngọ hỏa lâm Nguyệt kiến, trong quẻ hào Tị hỏa phục dưới hào Dần mộc, vượng mà được Phi thần tương sinh, lại là quẻ Lục hợp, nhưng hiềm vì Nhật thần khắc Thế, nên ngày ra kết quả, bị thầy trách mắng, nhưng nhờ tài viết chữ, mà được lấy đỗ hạng ba. Sau ngộ ra rằng, hỏa của Tị, Ngọ không phải vượng về văn chương mà là tốt về chữ viết. Quẻ loại này tuy nhiều, nhưng trường hợp này hiếm gặp, nên để lại làm mẫu.
Tân bình thích: Ví dụ này là bởi vì Quan lâm Nhật khắc Thế cho nên bị mắng.
Nói tóm lại, hào Thế và hào Phụ vượng tướng lại được sinh phò là hàng đầu; có chút bất lợi là kém tốt hơn; nếu bị hình xung mà được tương trợ, lại kém hơn một bậc. Nếu bị hình thương nhẹ mà không được cứu trợ, lại kém hơn nữa; hào Thế bị hình xung khắc phá nặng, là bài thi hạng bét. Tất cả đều trông vào lẽ biến thông, kết hợp với tượng quẻ cát hung, Dụng thần suy vượng để luận đoán.
Chú thích: Tuế khảo là một chế độ thi cử thời Thanh, do Đốc học chính các tỉnh tổ chức trong khu vực quản lý của mình. Cách luận đoán trong chương này về cơ bản tương tự như trong chương "Đồng thí", học giả nên xem xét cho kỹ.
Tăng Lương: Hào Tài Quyết Định Bổng Lộc Của Nho Sinh
Thi đỗ rồi, mối lo kế tiếp của nho sinh lại chuyển sang khoản lương bổng được cấp.
Giác Tử nói rằng: Xem về lương bổng, nếu không hiểu được bí quyết, sẽ ít được ứng nghiệm. Tại sao lại như vậy? Xem về lương bổng dùng hào Tài làm Dụng thần, mà Tài là Kỵ thần của Phụ Mẫu văn chương, nếu không biết cái lý sâu xa của nó, lại dùng một quẻ để xem chung về Tuế khảo và học bổng, nếu hào Tài vựợng, hào Phụ Mẫu sẽ bị khắc thương; nếu hào Tài hưu tù, làm sao có thể nhận được bổng lộc? Theo cách của ta, trước hết xem Tuế khảo tốt xấu ra sao, sau lại xem thêm một quẻ nữa về lương bổng, như vậy là hiểu được chỗ uyên thâm của quẻ Dịch.
Xem về lương bổng, chuyên dùng hào Tài làm Dụng thần. Nếu hào Tài trì Thế, hoặc động mà sinh Thế, là tốt. Cách suy đoán tương tự như chương "Cầu tài".
Nếu đã có lương bổng mà sợ mất, khi xem kỵ nhất hào Huynh Đệ trì Thế, hào Huynh Đệ phát động, và hào Tài gặp Không, Phá, Mộ, Tuyệt, động mà biến hung, đều là tượng mất lộc. Nếu như hào Quan, hào Huynh khắc Thế, nhẹ thì cắt lương bổng, nặng ắt bị phạt. Nếu trong quẻ gặp Tam hợp Huynh cục, cũng chủ về cắt lương bổng.
Tân bình thích: Ngày xưa lấy thi cử để xác định khoản lương bổng, cách làm thời nay chưa hẳn như vậy, cho nên chỉ xem hào Tài là được.
Ví dụ: Ngày Canh Tý tháng Dậu, một người hỏi đơn vị tăng lương, bản thân có được tăng không? Được Tụy biến Tùy.


Lấy Tài làm Dụng, Tài tuy Nguyệt phá, nhưng được Nhật sinh, điều không nên là hào Thế gặp Không, hào Tài nhập Mộ ở Phụ Mẫu Mùi thổ, tiền lương khó tăng. Kết quả là bởi vì bản thân người này không có bằng cấp nên không được tăng lương. Phụ Mẫu chính là văn thư, bằng cấp, trình độ học vấn.
Thi Di Tài, Yết Bảng Và Thi Đình: Ba Chặng Cuối Của Một Khoa Thi
Từ chỗ lo cơm áo, mạch quẻ quay lại với chính con đường khoa bảng, qua ba chặng thi tuyển bổ sung.
Hào Quan trì Thế sinh Thế, thì bản thân sẽ được lấy đỗ. Hào Phụ Mẫu Không, Phá, Mộ, Tuyệt, sẽ không được dùng.
Nếu như hào Thế bị khắc, hoặc gặp Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hoặc động mà hóa hung, hoặc hào Tử Tôn trì Thế, hoặc động trong quẻ, đều chủ về không thi đỗ. Nếu hào Phụ Mẫu sinh Thế, trì Thế, sẽ cát lợi; nếu hưu tù, Không Phá, cũng không tốt.
Chú thích: Di tài là hình thức thi tuyển quan lại thời xưa, tức các quan chức trước đây do nhiều nguyên do mà từ chức, triều đình sẽ tổ chức thi Di tài, tức tiến hành thi tuyển các quan lại cũ để chuẩn bị ra nhiệm chức mới, cũng tương tự như thi công chức hiện nay.
Hào Phụ là Dụng thần, nếu suy, cần đợi đến ngày sinh vượng; Nếu vượng, đợi đến ngày trực, ngày xung; Nếu động, đợi đến ngày trực, ngày hợp. Nếu lâm Không hoặc nhập Mộ, đợi đến ngày xung khai. Nếu gặp phá hoặc Tuần Không, cần đợi ngày điền thực.
Ta chiêm nghiệm thấy rằng: Trong lòng có lo âu, nếu gặp Tử Tôn trì Thế, thì đến ngày trực của Tử Tôn, sẽ yết bảng. Nếu trong lòng mong đón tin vui, được hào Quan trì Thế, đợi đến ngày Quan Quỷ sẽ yết bảng.
Lấy Quan tinh làm Dụng thần, tiếp đó xem hào Phụ. Nếu trì Thế, được Nhật thần, Nguyệt kiến, Thái Tuế tương sinh tương hợp, là tượng đỗ đầu.
Nếu hào Quan hào Phụ hình thành Tam hợp, sẽ được hoàng đế sủng ái đặc biệt.
Nếu hào Thế hoặc hào Quan gặp Không, Phá, Mộ, Tuyệt, Hình, Xung, Khắc, Hại, hoặc động mà hóa hung, là điềm không may mắn.
Tuế ngũ Quan Quỷ, xung khắc hào Thế, chủ về tai họa bất trắc.
Chú thích: Thi Đình là một chế độ thi tuyển thời Minh Thanh, do Hoàng đế đích thân sách vấn những thí sinh xuất sắc hơn cả, căn cứ vào kết quả thi tuyển, để tiến hành bổ nhiệm quan tước theo tài năng.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
