Bài tổng quan
Mệnh là hạt giống, vận là thời tiết, hoa nở hay rụng
Cùng một hạt giống, gặp mưa thuận gió hòa thì nở hoa, gặp sương muối thì rụng sớm. Lá số cũng vậy: có người mệnh tốt mà đứng giữa vận nghịch như anh hùng không đất dụng võ, có người bát tự tầm thường lại nhờ vận bù chỗ khuyết mà trỗi dậy...
Mục lục · 8 phần
- 01Xem vận cũng như xem mệnh: lấy can chi của vận phối với hỉ kị
- 02Vận lấy phương làm trọng, mười năm phải hợp lại mà xem
- 03Vận hỉ: trợ cho thần mà mệnh đang cần
- 04Vận kị: chống lại thần mà mệnh đang cần
- 05Tưởng hỉ mà là kị, tưởng kị mà hóa hỉ
- 06Được can mà không được chi, được chi mà không được can
- 07Cùng loại mà không đi chung: Bính với Đinh, Thân với Dậu
- 08Xung có cấp có hoãn, có xung mà không xung, một xung thành hai
Xem vận cũng như xem mệnh: lấy can chi của vận phối với hỉ kị
Phép xem vận cũng chẳng khác phép xem mệnh. Xem mệnh thì lấy can chi của tứ trụ phối với hỉ kị của nguyệt lệnh; còn xem vận thì lấy can của vận phối với hỉ kị của Bát Tự. Vận đi đến đâu, mỗi vận là một chữ, nhất định lấy chữ ấy ghép với can chi trong mệnh, nhìn toàn cục một lượt, là hỉ hay là kị, cát hung tự phân rõ.
Mệnh tốt không bằng vận tốt.
Phú quý định ở mệnh, còn cùng đường hay hanh thông là ở vận. Mệnh ví như hạt giống của cây, vận ví như thời tiết quyết định hoa nở hay hoa rụng. Mệnh tốt mà không gặp thời thì như anh hùng không có đất dụng võ. Ngược lại có lá số bình thường, nhưng vận bổ được chỗ khuyết của mệnh cục thì vẫn có thể thừa cơ quật khởi. Phép chọn dụng thần khi xem mệnh không ngoài năm đường: phù ức, khử bệnh, thông quan, điều hậu, trợ vượng. Xem vận cũng chỉ là trợ cho cái hỉ dụng của mình, bổ cho cái thiếu của mình, thành bại biến hóa nhìn tổng thể vẫn như nhau.
Vận lấy phương làm trọng, mười năm phải hợp lại mà xem
Riêng với vận thì phương vị quan trọng: Dần Mão Thìn là phương đông, Tị Ngọ Mùi là phương nam, Thân Dậu Tuất là phương tây, Hợi Tý Sửu là phương bắc. Những vận như Canh Thân, Tân Dậu, Giáp Dần, Ất Mão thì can chi cùng một hành, chẳng có gì để bàn. Những vận như Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Dần, Đinh Mão thì mộc hỏa đồng khí; Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Thân, Quý Dậu thì kim thủy đồng khí, hỉ hay kị đều như nhau cả. Còn những vận như Bính Tý, Bính Thân thì hỏa không thông gốc; Canh Dần, Tân Mão thì kim không thông căn. Ở những vận ấy sức của can nhỏ mà sức của phương lớn. Lúc đó, can là hỉ thì phúc chưa đủ, can là kị thì cái hại cũng không lớn.
Vì thế khi xem đại vận phải hợp luận cả mười năm, không thể chỉ nhặt ra một chữ hỉ hay kị rồi đoán như thầy bói xem voi, gọt chân cho vừa giày.
Vận hỉ: trợ cho thần mà mệnh đang cần
Hỉ là gì? Là trong mệnh có thập thần giúp ích cho mình, và vận phải tìm cách trợ cho nó có sức. Quan cách dùng Ấn chế Thương thì vận trợ Ấn. Tài sinh Quan mà thân nhẹ thì vận trợ thân. Ấn cách kèm Tài tưởng là kị thì vận gặp Kiếp Tài. Thực mang Sát mà thành cách, thân nhẹ thì vận gặp Ấn, Sát nặng thì vận trợ Thực. Thương Quan bội Ấn thì vận đi Quan Sát. Dương Nhận dùng Quan thì vận trợ phương Tài. Nguyệt Kiếp dùng Tài thì vận đi Thương Thực. Các loại ấy đều là vận đẹp.
Hỉ thần hoặc dụng thần của mệnh được trợ ở vận thì vận đó là vận tốt. Quan cách gặp Thương là kị, nên dùng Ấn chế Thương để trừ bệnh. Vận trợ Ấn nghĩa là, như mộc là Ấn thì vận đi phương đông Giáp Ất. Nếu Ấn lộ mà Thương ẩn thì vận Quan Sát cũng tốt; nếu Thương lộ mà Ấn ẩn thì kị gặp Quan Sát, còn gặp vận Tài phá Ấn thì tối kị. Thân nhược dùng Ấn mà kèm Tài là kị thì vận đi Kiếp Tài sẽ khử được bệnh. Thân cường Ấn vượng mà mừng Tài tổn Ấn thì vận Tài tốt đẹp, kị vận Kiếp Tài.
Thực Thần mang Sát, thân nhược lại gặp khắc tiết lẫn lộn, vận gặp Ấn thụ thì Ấn chế Thương, hóa Sát, trợ thân. Chỉ một vận Ấn mà đạt cả ba mục đích nên rất tốt. Nếu thân cường Sát vượng, lấy Thực chế Sát làm dụng thì lúc ấy lại mừng vận Thực Thương. Thương Quan bội Ấn, nguyệt lệnh là Thương Quan, nhật nguyên giữ Ấn, Ấn lộ lại thông căn thì vận đi Quan Sát sinh cho Ấn thụ là vận đẹp. Nhưng nếu Ấn ẩn mà Thương lộ thì lại kị gặp Quan Sát. Thương Quan quá vượng thì vận mừng phương Tài tiết khí cho Thương Quan; tứ trụ tuy bội Ấn mà Ấn không thành dụng thì không thể coi gặp Quan Sát là đẹp. Dương Nhận dùng Quan Sát, nếu nguyên cục Nhận vượng thì mừng đi phương Tài sinh cho Quan Sát; nếu Nhận nhẹ mà Quan Sát nặng thì phải trợ Nhận. Nguyệt Kiếp dùng Tài thì chỉ có Thực Thương là đẹp; nếu đi vận Tài thì nguyên cục phải có Thực Thương mới được, tức mang ý thông quan.
Vận kị: chống lại thần mà mệnh đang cần
Kị là gì? Trong mệnh có kị tức là có yếu tố chống lại ta. Chính Quan không có Ấn mà vận đi Thương. Tài không thấu Thực mà vận đi Sát. Ấn thụ dùng Quan mà vận hợp mất Quan. Thực Thần mang Sát mà vận đi Tài. Thất Sát có Thực chế mà vận gặp Kiêu. Thương Quan bội Ấn mà vận đi Tài. Dương Nhận dùng Sát mà vận gặp Thực. Kiến Lộc dùng Quan mà vận gặp Thương. Các loại ấy đều là vận bại.
Dụng thần hoặc hỉ thần cần được sinh trợ hay làm vượng lên, mà vận lại ức nó, thì là nghịch vận. Chính Quan làm dụng, lấy Tài sinh Quan làm hỉ, mà vận đi Thực Thương: nếu nguyên cục có Ấn thì Ấn còn khắc ngược lại Thực Thương để giữ Quan tinh; nếu không có Ấn thì dụng thần bị thương. Tài không thấu Thực nghĩa là trong trụ có Thực thần nhưng không thấu lên can. Vận đi Thất sát, nếu Thực Thương thấu thì còn khắc ngược lại để giữ Tài; không thấu thì Thực sinh Tài mà không chế được Sát, Sát tiết khí của Tài và còn làm hại thân.
Ấn thụ dùng Quan là khi nguyệt lệnh có Ấn mà thấu Quan tinh, lấy Quan để sinh Ấn. Vận hợp Quan là như Giáp sinh tháng Tý, thấu Tân làm dụng mà vận đi Bính hỏa; Bính sinh tháng Mão, thấu Quý làm dụng mà vận đi Mậu thổ. Hợp mất Quan tinh là phá cách. Thực Thần mang Sát là khi nguyệt lệnh có Thực thần mà can lộ Sát; vận đi đất Tài thì Tài hóa Thực để sinh Sát. Thất sát Thực chế là khi nguyệt lệnh Thất sát, chọn Thực chế Sát làm dụng; vận đi đất Kiêu thì Kiêu đoạt Thực để giữ Sát, đều là phá cách. Nguyệt lệnh Thương Quan, thân cường thì dùng Tài, thân nhược thì bội Ấn. Dùng Tài mà đi đất Kiếp Tài, hay bội Ấn mà vận gặp Tài phá Ấn, đều là phá dụng. Dương Nhận dùng Sát, Kiến Lộc dùng Quan đều là vì nhật nguyên quá vượng mà chọn Quan Sát để ức chế Lộc Nhận; vận gặp Thực Thương khử mất Quan Sát thì Lộc Nhận quá vượng sẽ làm tổn thân.
Tóm lại, xem vận và xem mệnh không phải hai phép khác nhau. Nhật nguyên là chủ, cái hợp nhu yếu của mình là dụng thần, cái trợ nhu yếu của mình là hỉ thần. Vận trợ hỉ dụng là vận tốt, vận chống lại hỉ dụng là vận xấu.
Tưởng hỉ mà là kị, tưởng kị mà hóa hỉ
Có trường hợp tưởng như vận có hỉ dụng mà thực ra là kị thần. Như Quan gặp vận Ấn mà bản mệnh hợp mất Ấn; hoặc Ấn gặp vận Quan mà bản mệnh lại dùng Sát. Khi xem vận nhất định phải chiếu cố thập thần trong tứ trụ mới định được hỉ kị, vì thế mới nói mỗi vận là một chữ, phải lấy chữ ấy phối với can chi trong mệnh mà xem toàn cục. Quan gặp vận Ấn bị bản mệnh hợp mất, như ngày Giáp mộc, tháng Tân Dậu, năm Mậu Thìn, vận đi Quý thủy là Ấn thì thành Mậu Quý hợp, biến thành thương Quan tinh. Dụng Quan tinh thì cần Tài Ấn phụ trợ, còn dụng Tài sinh Quan thì kị vận Ấn vì Ấn tiết khí của Quan, không nhất định phải bị hợp. Dụng Ấn gặp Quan vốn là vận cát, nhưng nếu nguyên mệnh Sát nặng thân nhẹ, cách dùng Ấn hóa Sát, tức là lấy Ấn Kiếp phù thân mới tốt, thì gặp vận Quan Sát đều không hợp, chứ không chỉ vì Quan Sát hỗn tạp.
Ngược lại có khi tưởng gặp kị thần mà lại thành hỉ: Quan gặp vận Thương mà mệnh thấu Ấn; Tài đi vận Sát mà mệnh thấu Thực. Dụng Quan tinh thì Thương Quan là kị, nhưng nguyên cục có Ấn thấu thì Ấn chế được Thương, không ngại. Dụng Tài tinh thì Thất sát là kị, nhưng nguyên cục có Thực thần thấu thì Thực sinh Tài chế Sát, không sợ đất Quan Sát. Tuy chưa phải vận tốt nhưng đã có giải thần, gặp hung hóa cát.
Được can mà không được chi, được chi mà không được can
Có lúc vận đi được can mà không được chi. Như Bính sinh tháng Tý, năm Hợi: gặp vận Bính Đinh thì giúp thân, gặp vận Tị Ngọ thì xung. Nhâm Quý thủy nắm lệnh đang vượng, vận Bính Đinh là Tỉ Kiếp giúp thân; nhưng vận Tị Ngọ thì hỏa thất lệnh, là suy thần xung vượng thần, phản làm tăng thế của thủy. Ấy là đi được can mà không được chi.
Có lúc vận đi được chi mà không được can. Như Giáp sinh tháng Dậu, Tân kim thấu nhưng Quan còn yếu: gặp Thân Dậu thì gốc của Quan thêm vững, gặp Canh Tân thì hỗn Sát, trùng Quan, Quan mạnh quá hóa thành ma quỷ hại mình. Chỗ này cần phân biệt Quan tinh vượng hay yếu. Nếu Quan tinh yếu, vận đến phương tây Thân Dậu là Quan đắc địa; gặp Canh Tân thì hỗn Sát trùng Quan, dễ gây pha tạp. Nếu Quan tinh vượng thì Thân Dậu Canh Tân đều là kị cả. Lại phải xét thấu hay không thấu: nếu Quan tinh yếu, chỉ ẩn trong chi mà chưa thấu can, thì vận gặp Tân là Quan tinh thấu thanh, không phải trùng Quan.
Cùng loại mà không đi chung: Bính với Đinh, Thân với Dậu
Có trường hợp cùng loại ngũ hành ở can mà không thể đi chung. Như Đinh sinh tháng Hợi mà trụ năm thấu Nhâm Quan: gặp Bính thì giúp thân, gặp Đinh thì hợp Quan. Hợp Sát là hỉ, hợp Quan là kị. Như Bính sinh tháng Hợi thấu Nhâm là Sát: gặp Bính thì giúp thân, gặp Đinh thì hợp Sát; tuy đều là vận cát nhưng không giống nhau, vì Bính chỉ trợ thân còn Đinh hợp Sát là có quyền. Đinh sinh tháng Hợi thấu Nhâm là Quan: gặp Bính giúp thân, gặp Đinh thì hợp Quan là kị. Đinh sinh tháng Hợi thấu Nhâm lại thấu Mậu, là Quan tinh gặp Thương: gặp Nhâm là Thương Quan thấy Quan; gặp Quý thì Quý hợp Mậu, hóa Thương thành Kiếp, chẳng những giúp thân mà còn giải tai ách cho Quan tinh. Những trường hợp này cũng chưa đủ chi tiết, cần quan sát hỉ kị của can chi nhật chủ trong nguyên cục mà định.
Cùng loại ngũ hành ở chi cũng không thể đi chung. Mậu sinh tháng Mão, năm Sửu: gặp Thân thì tự ngồi Trường Sinh, gặp Dậu thì hội với Sửu thành Thương Quan. Biến hóa của địa chi phức tạp hơn thiên can nhiều. Như Đinh sinh tháng Dậu: gặp Ngọ là đất Lộc và Kiếp Tài, gặp Tị thì thành Tài cục. Đinh sinh tháng Dậu năm Thìn, Thìn và Dậu vốn hợp kim mà sinh Tài, nhưng vận gặp Tý thì Tý và Thìn gặp nhau khởi thủy cục, phản thành tiết khí của Tài.
Xung có cấp có hoãn, có xung mà không xung, một xung thành hai
Cùng là xung nhau mà có chỗ hòa hoãn, có chỗ cấp thiết: xung trụ năm, trụ tháng thì cấp thiết, xung trụ ngày, trụ giờ thì hòa hoãn. Không thể nói vỏn vẹn một câu như thế mà rõ được. Thực ra xung vào đề cương nguyệt lệnh có vai trò quan trọng, xung các trụ khác thì bình thường; xung vào hỉ dụng cũng quan trọng, xung chỗ không phải dụng thì bình thường. Còn phải phân biệt tính chất của từng cặp chi xung. Tứ sinh Dần Thân Tị Hợi xung nhau thì phải coi trọng, vì khí hãy còn yếu ớt, gặp xung là tan tác. Tý Ngọ Mão Dậu khí chuyên và vượng, khi xung thì thành hay bại tùy theo cục mà định. Thìn Tuất Sửu Mùi như anh em bạn bè xung khắc nhau, không lấy làm quan trọng.
Sinh phương phạ động, khố nghi khai, bại địa phùng xung tử tế suy.
Tứ sinh sợ động, tứ khố cần được xung mở, tứ bại địa gặp xung phải cẩn thận suy xét. Cùng xung nhau mà nặng nhẹ khác nhau: vận vốn đẹp mà gặp xung thì bình thường, vận vốn kị mà xung vào hỉ thì phải quan tâm. Xung khắc cần xét hỉ hay kị: vận hỉ mà xung chữ kị thì bình thường, vận kị mà xung chữ hỉ thì phải lấy làm quan trọng. Lại phải xét thêm lưu niên: giả sử đại vận là hỉ mà lưu niên cùng xung thì cũng không tốt.
Có trường hợp gặp xung mà không xung. Như Giáp dùng Dậu làm Quan, vận đi Mão thì xung; nhưng nếu trong mệnh có Tị Dậu hội nhau thì xung vô lực; nếu chi năm là Hợi hoặc Mùi thì gặp Mão là hội nhau mà không xung Quan ở nguyệt lệnh. Gặp xung mà không xung là vì có hội hợp giải xung. Giáp dùng Dậu Quan, nguyên cục có Tị Sửu thì Quan tinh hội cục, Mão xung vô lực; nguyên cục có Hợi hoặc Mùi, vận đến Mão thì tam hợp hội cục thành ra không xung.
Lại có trường hợp một xung thành hai xung. Như Ất dùng Thân làm Quan, hai Thân không xung nổi một Dần; nhưng vận lại gặp Dần thì vận và bản mệnh hợp thành hai Dần, xung hai Thân. Nói hai Thân không xung một Dần thì không thể tin hết. Xung vốn bao gồm cả khắc, Dần là Giáp, Thân là Canh, Giáp gặp hai Canh chẳng phải khắc nhau sao? Hơn nữa hai Thân một Dần thì khí không chuyên, như hai Canh một Ất là đố hợp, hai Canh ganh nhau vì cùng hợp một Ất nên cũng thành bất chuyên. Vận lại gặp Ất thì mỗi Canh hợp với một Ất mà tình trở nên chuyên. Xung cũng như vậy: vận gặp thêm Dần, nhân một xung mà dẫn tới hai xung.
Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.
