Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thái Tuế là vua của năm: phạm thì họa, hợp thì mừng

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Thái Tuế là vua của năm: phạm thì họa, hợp thì mừng

Có người cả đời chỉ gặp đúng một lần trụ năm của mình xung thẳng vào vị vua của năm, và đó là lúc năm mươi bốn tuổi. Câu xưa dặn tuế vận gặp nhau thì không chết mình cũng mất người thân, vậy mà có người chẳng mất gì cả. Lý do nằm ở một thế cân bằng giữa lá số và vận...


Thái Tuế là thiên can hay địa chi

Lưu niên chính là tên của từng năm. Năm 1991 là Tân Mùi thì Tân Mùi là lưu niên; địa chi Mùi của lưu niên gọi là Thái Tuế. Nhưng Thái Tuế là thiên can hay địa chi của năm, giới mệnh lý Trung Hoa chưa nhất trí: có người nói can, có người nói chi, ý kiến chia đôi. Thầy Thiệu Vĩ Hoa nhắc ba điều trước khi bàn: không dựa vào quyền uy, không dựa vào kinh nghiệm cá nhân, không sùng bái mê tín các bậc thầy đi trước. Phe nào cũng có lẽ riêng của mình.

Buổi đầu, khi vừa phát minh can chi, người xưa xem thiên can là hoàng đế: thiên can là dương, là trời; địa chi là âm, là đất; vì vậy thiên can là Thái Tuế. Phe lấy địa chi làm Thái Tuế dựa vào hai điều. Một là địa chi như người con kế ngôi vua cha, nên địa chi là Thái Tuế. Hai là lúc mới có can chi, thiên can dùng để ghi ngày, địa chi dùng để ghi tháng, can là dương, chi là âm, và trong Nhĩ Nhã Thích Thiên có câu: tuổi âm là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi; điều đó chứng tỏ địa chi lại là dấu hiệu để bàn về năm.

Ông chọn địa chi làm Thái Tuế, vì ba lẽ. Thứ nhất, địa chi là dấu hiệu ghi năm. Thứ hai, thiên can là mầm, địa chi là rễ; địa chi của năm nắm quyền sinh sát của một năm, là lệnh của bốn mùa, cũng như trực nguyệt nắm quyền sinh sát một tháng; vượng suy của thiên can lấy địa chi làm chuẩn. Thứ ba, trong Tứ trụ nếu có địa chi gặp Thái Tuế xung chi, thì chi động; nghĩa là Thái Tuế bắt anh động thì anh phải động. Còn can của lưu niên chỉ có chức năng sinh khắc, không có khả năng điều động. Cho nên nói địa chi của lưu niên là Thái Tuế là có lý của nó.

Lưu niên hay đại vận, bên nào nặng hơn

Về chuyện lưu niên và đại vận cái nào quan trọng hơn, tuy không có tranh luận lớn, nhưng khi ứng dụng cũng có ý kiến cho đại vận quan trọng hơn, lưu niên và Thái Tuế kém hơn. Ông nói điều đó rõ ràng không đúng. Tam Mệnh Thông Luận có câu: Thái Tuế là vua, đại vận là bề tôi. Lại nói: năm nào Thái Tuế thì trong năm ấy là thiên tử, đứng trên mọi thần sát của năm, thống trị ở phương chính, đưa về sáu khí, chuyển vận bốn mùa, là năm thành công, không còn gì cao hơn. Vậy Thái Tuế quan trọng hơn đại vận, đứng trước đại vận.

Thái Tuế là vua, không thể bị phạm

Thái Tuế là ông vua trong lòng mỗi người, là thiên tử của năm ấy, nắm quyền sinh sát. Vua thì không thể xúc phạm: xúc phạm Thái Tuế, nhẹ thì gặp họa nhiều lần, nặng thì họa sát thân. Cho nên có câu: Thái Tuế rơi vào năm nào, nếu bị phạm sẽ mang họa. Trong Tứ trụ, thiên can địa chi của năm, tháng, ngày, giờ không được hình, xung, khắc, hại Thái Tuế, nếu không thì khó tránh tai họa.

Hình, xung, khắc, hại Thái Tuế có nặng nhẹ khác nhau. Một loại là Thái Tuế khắc ta: trên khắc dưới, hoàng đế cai trị thần dân, cha dạy con, cấp trên quản cấp dưới, là thuận lẽ đời. Dù không vừa lòng, miễn là không xâm phạm, không chống lại thì có gặp nạn cũng qua, nên Thái Tuế khắc ta thì hại nhẹ. Loại thứ hai là ta khắc Thái Tuế: dưới phản trên, con đánh cha, thần dân phản vua, phạm tội bất hiếu, phạm thượng. Nhẹ thì bị thương, tật bệnh, mất của; nặng thì họa lao tù, mất mạng. Cho nên hình, xung, khắc, hại Thái Tuế là nạn lớn. Đó là sự chính danh: vua ra vua, tôi ra tôi.

Tám cách xem lưu niên gặp lá số

Thiên khắc địa xung

Trong sinh khắc giữa lưu niên và Tứ trụ, dù Thái Tuế khắc ta hay ta khắc Thái Tuế, lấy trụ ngày làm ví dụ: chi của Thái Tuế khắc chi ngày là khắc đơn. Nếu thiên can địa chi của lưu niên cùng lúc khắc thiên can địa chi của trụ ngày, hay thiên can địa chi trụ ngày khắc thiên can địa chi của Thái Tuế, thì gọi là thiên khắc địa xung. Cái hại của thiên khắc địa xung lớn hơn khắc đơn. Như ngày Giáp Tý khắc lưu niên Mậu Ngọ là ta thiên khắc địa xung Thái Tuế. Hay lưu niên Canh Thìn khắc trụ ngày Giáp Tý là Thái Tuế thiên khắc địa xung ta.

Xung khắc cả Thái Tuế lẫn đại vận

Trụ ngày xung khắc Thái Tuế thì tai họa nặng. Nếu thiên can địa chi của trụ ngày vừa xung khắc Thái Tuế vừa xung khắc đại vận mà các can chi khác của Tứ trụ không giải cứu, hoặc không dùng phép cứu giải, thì rất nguy hiểm, thậm chí mất mạng.

Cả bốn trụ cùng xung khắc Thái Tuế

Ví dụ trụ ngày là Dậu kim, trụ năm, trụ tháng cũng là Dậu kim; hoặc trụ ngày là Dậu kim, trụ tháng, trụ giờ cũng là Dậu kim; Thái Tuế là Mão. Đó là ba Dậu xung khắc một Mão, hay một Mão xung ba Dậu. Nếu trong Tứ trụ, đại vận, tiểu vận không có can chi khác cứu giải thì tính mạng nguy to.

Lá số, đại vận, tiểu vận gom lại hình xung khắc hại Thái Tuế

Ví dụ trụ ngày, trụ tháng, đại vận đều là Dậu kim; hoặc trụ ngày, đại vận, tiểu vận đều là Dậu kim; Thái Tuế là Mão mộc. Cũng là ba Dậu xung khắc một Mão, hay một Mão xung ba Dậu, nếu không có cứu giải thì tai họa khôn lường.

Từng trụ riêng xung khắc Thái Tuế

Có trường hợp cả năm, tháng, ngày, giờ đều thiên khắc địa xung phạm Thái Tuế, như năm Mậu Ngọ, tháng Mậu Ngọ, ngày Mậu Ngọ, giờ Mậu Ngọ cùng xung khắc Nhâm Tý của lưu niên, nhưng chuyện này ít. Phần nhiều chỉ một trụ riêng thiên khắc địa xung phạm Thái Tuế. Trụ năm là cha mẹ, trụ tháng là anh chị em, trụ ngày là mình và vợ, trụ giờ là con cái. Nếu trụ năm thiên khắc địa xung Thái Tuế thì không chỉ bản thân gặp tai ách mà cha mẹ hoặc người trong nhà cũng mang họa. Nặng hay nhẹ phải xem các can chi khác trong lá số và can chi đại tiểu vận có cứu giải không. Nếu có cứu giải hoặc dùng phép giải hạn thì tai ách nhẹ hoặc không có, thậm chí hóa thành phúc, được của.

Trụ năm thiên khắc địa xung lưu niên thì cả đời chỉ gặp một lần, vào lúc tròn năm mươi bốn tuổi. Ví dụ sinh năm Giáp Tý, năm năm mươi bốn tuổi là Mậu Ngọ. Trụ tháng thiên khắc địa xung lưu niên cả đời gặp hai lần; ví dụ sinh tháng Canh Tý gặp lưu niên Giáp Ngọ. Trụ ngày thiên khắc địa xung Thái Tuế cả đời có thể gặp một đến hai lần, vì sáu mươi năm là một hoa giáp. Người từ sáu mươi tuổi trở lên mà trụ tháng, trụ ngày hoặc trụ giờ nằm ở cuối vòng hoa giáp Tý thì có thể gặp hai lần. Như trụ ngày là ngày Canh Thân gặp lưu niên Giáp Dần là thiên khắc xung; Canh Thân nằm gần cuối vòng hoa giáp, nên sẽ có dịp gặp Giáp Dần Thái Tuế vào hai năm 1914 và 1974, cách nhau sáu mươi năm. Trụ giờ cũng tương tự. Còn các chi của Tứ trụ xung Thái Tuế thì mười hai năm gặp một lần.

Dù là thiên khắc địa xung phạm Thái Tuế hay chỉ một chi xung khắc Thái Tuế, khi bản thân người ấy không gặp tai vạ hay trắc trở thì người thân của họ sẽ gánh: tai vạ chuyển sang người thân, tùy quan hệ và mức độ hình, xung, khắc, hại trong Tứ trụ của người đó. Nếu trong Tứ trụ hay đại vận có cứu thì tai họa lớn nhẹ đi, tai họa nhỏ lướt qua, thậm chí hóa hung thành cát.

Tai vạ do hung sát khắc hại

Can chi của lá số và lưu niên đại vận không chỉ tương khắc nhau mới gây tai vạ. Nếu nhật nguyên yếu mà lá số, lưu niên, đại vận có kiếp, sát, thương, kiêu, hung sát khắc hại nhật nguyên hoặc dụng thần thì cũng sinh tai vạ. To hay nhỏ thì phải xem mức độ khắc hại, và có can chi nào hay đại vận cứu giúp không.

Người ta sống trên đời, ai cũng khó tránh tai ách và việc xấu. Nếu không thiệt đường công danh thì cũng ốm đau, bị thương, hoặc hôn nhân, con cái, cha mẹ có mặt nào đó không vừa lòng. Ví dụ một người từ lúc sinh đến năm mươi tuổi nói chung thuận lợi, thì từ năm mươi đến sáu mươi, hoặc từ năm mươi chín đến sáu mươi chín, bản thân hay người thân khó tránh trắc trở, thậm chí có người chẳng sống bao lâu nữa. Vì trong thời gian ấy thiên can địa chi của đại vận thiên khắc địa xung với can chi tháng sinh. Xưa có câu: lệnh tháng là cương lĩnh, không được xung, nếu bị xung thì mười người có chín người xấu.

Thái Tuế và đại vận cùng gặp nhau

Mệnh học xưa rất coi trọng tai vạ khi Thái Tuế và vận gặp nhau. Tuế vận gặp nhau là can chi đại vận giống can chi lưu niên, như đại vận là Tân Mùi mà lưu niên cũng là Tân Mùi. Xưa có câu: tuế vận gặp nhau, không chết mình cũng mất người thân. Đó là tai vạ lớn của đời người, nhưng không phải ai cũng gặp. Qua thực tế, ông thấy có người tuế vận trùng nhau thì chết, có người thì người thân mất, nhưng cũng có người không tang tóc gì. Nguyên nhân là Tứ trụ và tuế vận cân bằng nhau. Tam Mệnh Thông Hội nói: tuế vận gặp nhau chỉ có kình dương, thất sát là xấu; còn tài, quan, ấn, thụ là tốt.

Nói về nguyên tắc, mức tai vạ của mỗi người khác nhau. Qua thực tế ông tổng kết: thông thường người tai vạ lớn thì phúc cũng to, nên giới mệnh học xưa có câu: nạn to không chết, tất có phúc dày.

Trên đời, người ta không chỉ phải biết phúc khí của mình ra sao mà càng nên biết mình có tai vạ không và khi nào gặp, để mà đề phòng, lánh xa. Nói nhiều về mặt xấu của lá số gặp lưu niên, Thái Tuế như vậy cũng chỉ để người ta cảnh giác. Việc may, việc tốt đã có trong Tứ trụ và đại vận thì cuối cùng sẽ có, chỉ cần ra sức phấn đấu. Còn tai vạ, không biết lúc nào sinh thì không biết mà phòng, tất sẽ tổn thất. Vì vậy mục đích của dự đoán là vừa có lợi cho sự nghiệp, thân thế bình yên, vừa tránh được tai vạ; như quẻ Ký Tế dạy, thành công rồi vẫn phải đề phòng. Người có bản lĩnh không nhất thiết phải sáng tạo được sự nghiệp, mà còn là người tránh xa được tai vạ.

Tương sinh tương hợp thì có tin mừng

Lưu niên, Thái Tuế, trụ ngày và dụng thần trong Tứ trụ giống như hoàng đế và ân nhân của mình; nói chung tương sinh tương hợp thì đem lại tin mừng. Trụ ngày hay dụng thần hợp Thái Tuế, người xưa có câu: hợp Thái Tuế chủ về sự rủi ro của một năm. Ông cho rằng câu ấy, cả về lý luận lẫn thực tiễn, không đúng lắm. Vì trụ ngày và can chi trong lưu niên tương hợp với Thái Tuế; ai có sự tương hợp ấy là thân với vua, yêu vua, và đã thân yêu với bậc thiên tử thì tất gặp may.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc