Bài tổng quan
Lôi Sơn Tiểu Quá: tiếng chim để lại, chớ bay cao mà nên xuống thấp
Giữa sườn núi có tiếng sấm nổ, con chim non vừa ra ràng đã đòi bay thẳng lên trời. Quẻ chỉ cho phép quá một chút ở việc nhỏ, còn việc lớn mà quá thì cánh chim cao sẽ gãy. Sáu hào dạy chim biết hạ xuống đúng lúc như thế nào...
Mục lục · 10 phần
- 01Tiểu Quá là cái nhỏ đi quá một chút: trên núi có sấm
- 02Chim bay để tiếng kêu lại: nên xuống thấp, đừng lên cao
- 03Tiếng sấm bị núi chặn lại, nên chỉ quá ở những việc nhỏ
- 04Dự báo cho quẻ Tiểu Quá: vận khó, chỉ hợp việc nhỏ
- 05Hào sơ lục: chim vừa ra ràng đã đòi bay cao, tự rước họa
- 06Hào lục nhị: vượt qua ông mà gặp bà, chẳng kịp vua thì giữ đúng phận bề tôi
- 07Hào cửu tam: không đề phòng quá một chút, kẻ tiểu nhân theo dõi mà làm hại
- 08Hào cửu tứ: cương mà biết mềm, tiến tới nguy thì răn, chớ cố chấp mãi
- 09Hào lục ngũ: mây dày mà không mưa, từ cõi tây của ta bắn lấy kẻ nấp trong hang
- 10Hào thượng lục: đi quá đà, cánh chim bay xa tự chuốc lấy tai họa
Tiểu Quá là cái nhỏ đi quá một chút: trên núi có sấm
Quẻ số sáu mươi hai là Lôi Sơn Tiểu Quá, thuộc hàng quẻ bình, ứng với tháng hai. Tiểu Quá nghĩa là cái nhỏ đi quá một chút, và cũng hàm ý sự bất hòa. Quẻ trên là Chấn, là sấm; quẻ dưới là Cấn, là núi.
Sơn thượng hữu lôi, Tiểu Quá. Quân tử dĩ hạnh quá hồ cung, tang quá hồ ai, dụng quá hồ kiệm.
Lời Tượng nói trên núi có sấm là quẻ Tiểu Quá. Người quân tử nhìn đó mà giữ nết đi quá một chút về cung kính, lo việc tang quá một chút về thương xót, chi dùng quá một chút về tiết kiệm. Cái quá ở đây chỉ dừng ở việc nhỏ, tuyệt nhiên không bước sang việc lớn.
Người sinh vào tháng hai gặp quẻ này là cách công danh phú quý, đặc cách, sự nghiệp có nhiều cơ may thành đạt. Câu thơ của quẻ đại ý rằng việc trong những năm Tý, Ngọ gặp thì phải lập gốc trước; lộc từ trời xuống, hai voi chật cửa theo vào.
Chim bay để tiếng kêu lại: nên xuống thấp, đừng lên cao
Nguyễn Hiến Lê giảng lời Thoán như sau: cái nhỏ được nhiều hơn, hanh thông, hợp đạo chính thì lợi; có thể làm việc nhỏ chứ không thể làm việc lớn. Con chim bay mà để tiếng kêu lại, không nên lên cao mà nên xuống thấp. Người quân tử biết được vậy thì tốt.
Quẻ này ngược hẳn với quẻ Đại Quá. Đại Quá có bốn hào dương nằm giữa, hai hào âm nằm dưới cùng và trên cùng, dương nhiều hơn âm; mà dương là lớn, âm là nhỏ, nên Đại Quá là cái lớn nhiều hơn. Tiểu Quá chỉ có hai hào dương ở giữa, bốn hào âm bao ở trên và dưới, âm tức cái nhỏ nhiều hơn dương tức cái lớn, nên gọi là Tiểu Quá, cái nhỏ nhiều hơn, cũng có nghĩa là quá chút ít.
Thường thì vừa phải là hay, nhưng có khi quá một chút lại hay. Chẳng hạn trong nhà, chồng tiêu pha nhiều quá thì vợ chặt bóp một chút để về mức trung bình; hoặc khi nghiêng về bên tả quá, muốn lấy lại mức giữa thì nghiêng về bên hữu một chút. Nhưng việc gì cũng phải hợp lẽ, hợp thời, hợp đạo chính mới được. Đó là nghĩa câu đầu của lời Thoán.
Câu thứ hai nói chỉ nên quá trong việc nhỏ, không nên quá trong việc lớn. Việc nhỏ lỡ quá một chút thì hậu quả không tai hại; việc lớn quá một chút, sai một li có thể đi một dặm, hậu quả rất nặng nề, như việc nước, lầm lỗi một chút có thể gây chiến tranh hoặc sụp đổ kinh tế.
Thoán truyện giảng rằng các hào dương, tức cái lớn, đều không đắc trung, như người quân tử lỡ thời, không làm được việc lớn. Câu về con chim bay thì tối nghĩa, vì sao lại dùng tượng chim bay ở đây thì mỗi nhà giải thích một khác. Chu Hy cho rằng trong thực ngoài hư giống con chim đang bay: hai hào âm ở dưới như hai chân, hai hào âm ở trên như hai cánh xòe ra. Về ý nghĩa, có người giảng rằng người quân tử ở thời Tiểu Quá nên khiêm tốn, đừng có tiếng tăm quá lớn, chỉ như tiếng chim kêu lúc bay, thoáng qua mà thôi; cũng không nên ở núi cao, như chim không nên bay lên cao.
Tiếng sấm bị núi chặn lại, nên chỉ quá ở những việc nhỏ
Lời Đại tượng truyện giảng: Chấn ở trên Cấn, là tiếng sấm ở trên núi, bị núi làm nghẹt nên thu hẹp lại, vì vậy gọi là Tiểu Quá. Người quân tử ở thời này chỉ nên quá trong những việc nhỏ: có thể quá cung kính, quá thương cảm trong việc tang chế, quá tiết kiệm trong chi dùng.
Dự báo cho quẻ Tiểu Quá: vận khó, chỉ hợp việc nhỏ
Quẻ Tiểu Quá chỉ thời vận tương đối khó khăn, do kẻ tiểu nhân quá nhiều, không phải thời tốt cho mọi việc. Chỉ thuận tiện cho những việc nhỏ, không lợi cho việc lớn. Người quân tử thuận theo thời cuộc, việc gì cũng phải làm quá đi một chút mới hợp thời. Tài vận không có; kinh doanh nhỏ thì được, làm lớn khó tụ thành; thế sự thường trái với dự kiến.
Ứng vào từng việc: công việc khó tìm; đi xa bất lợi; kiện tụng kéo dài, tốn kém, tìm cách hòa giải ngay từ đầu thì hơn; bệnh tật nhì nhằng không dứt, dễ nặng lên; tình yêu không thuận, cuối cùng không thành; hôn nhân gặp nhiều vướng mắc, dễ thất bại.
Hào sơ lục: chim vừa ra ràng đã đòi bay cao, tự rước họa
Hào âm, hào xấu. Chim mới bắt đầu đã bay quá cao nên dễ gặp tai họa. Hào chỉ người nôn nóng muốn một bước lên trời, lao vào chốn nguy hiểm, gây hao tài tốn của.
Phi điểu dĩ hung.
Hà Lạc nói nên xuống thấp thì không hại.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu bất tài, được hào bốn dương giúp, lại gặp thời hơi quá nên hăng hái muốn làm quá, e mắc vạ, vì vậy xấu. Chỉ nên làm chim nấp, biết lùi kịp lúc, đừng làm chim bay.
Phan Bội Châu phụ chú: bắt đầu thời Đại Quá thì phải quá cẩn thận như hào sơ lót cỏ mao trắng, mới không lỗi. Bắt đầu vào thời Tiểu Quá mà quá chừng nóng nảy như hào sơ này, chim bay thì mắc lấy xấu. Mới biết việc thiên hạ có thể lớn nhỏ khác nhau, nhưng tóm lại việc quá là việc không đáng khinh xuất. Gặp thời Tiểu Quá mà cứ quá liều, chẳng học hào sơ Đại Quá lại đi học hào sơ Tiểu Quá, há chẳng phải trái thời mà mắc họa hay sao?
Người mệnh hợp cách khoa danh chức vị đều lớn, nhưng chỉ vì kiêu mãn quá nên gặp tai họa. Người mệnh không hợp cách là kẻ mới ngoi lên, cậy thế cửa quyền, kiêu vì thế, ngạo về của, gây thù oán, nhà phá thân nguy.
Về vận hạn: quan chức muốn tiến gấp nên sinh hận; giới sĩ có việc bay cao quá trời; người thường chỉ thêm tổn hại.
Hào lục nhị: vượt qua ông mà gặp bà, chẳng kịp vua thì giữ đúng phận bề tôi
Hào âm, hào tốt. Vượt qua ông tổ, tức hai hào ba và bốn, để gặp bà tổ, tức hào năm. Chẳng kịp ngang vua thì giữ đúng phận làm bề tôi, không có lỗi.
Quá kỳ tổ, ngộ kỳ tỷ, bất cập kỳ quân, ngộ kỳ thần, vô cữu.
Hà Lạc nói hết phận mình đối với người trên thì ít lỗi.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, trung, chính, ở vào thời Tiểu Quá, có quá một chút mà không lỗi. Nó là âm, đáng lẽ cầu dương, nhưng lại vượt hai hào dương ba và bốn để gặp hào năm là ứng của nó, tức lại gặp âm nữa; vì thế lời hào nói vượt ông mà gặp bà. Lời hào khuyên hào này ở thấp, ở phận làm tôi: không gặp được vua thì cứ giữ phận bề tôi, đứng vào hàng những bề tôi khác.
Người mệnh hợp cách đầy mưu lược, vượt quần chúng, trùm đời mà vẫn giữ lễ với người trên. Người mệnh không hợp cách cũng khiêm tốn, cẩn thận, mưu việc toại ý, nối nghiệp tốt, gia phong tốt.
Về vận hạn: quan chức tận tâm với chức vụ nên được thăng mau; giới sĩ có tiến thủ, được gặp gỡ; người thường được quý nhân dẫn dắt, mưu cầu được việc, được sức phụ nữ giúp đỡ; số xấu thì mẹ hay bà bị tổn thương. Câu thơ của hào nói việc nhỏ giữ mức bình thường, hành vi trung chính thì tai ương sợ gì.
Hào cửu tam: không đề phòng quá một chút, kẻ tiểu nhân theo dõi mà làm hại
Hào dương, hào xấu. Chẳng đề phòng quá đi một chút thì họ, tức bọn tiểu nhân, theo dõi hoặc làm hại, sẽ xấu.
Phất quá phòng chi, tòng hoặc tường chi, hung.
Hà Lạc nói không đề phòng thì tật họa sẽ đến.
Nguyễn Hiến Lê giảng: ở thời Tiểu Quá, tiểu nhân nhiều hơn quân tử, nên đề phòng quá cẩn thận thì tốt. Hào này dương cương, đắc chính, là quân tử, nhưng vì quá cương, dương ở vị dương, nên tự thị, không đề phòng mà bị vạ. Hào này xấu nhất trong quẻ: hai hào âm ở trên ép xuống, hai hào âm ở dưới thúc lên, chỉ có hào bốn là bạn mà chẳng giúp được gì.
Phan Bội Châu phụ chú: Tiểu Quá là thời chung của cả quẻ, sáu hào lại có thời riêng của mỗi hào. Quẻ này khốn nạn nhất là hào ba dương: nhìn xuống thì hai hào âm toan bức mình, nhìn lên thì hai hào âm toan ép mình; bốn dương tuy đồng đức nhưng không giúp đỡ được, bản thân hào ba lại ở chỗ nửa trên nửa dưới. Vậy nên lời hào phải nói một cách lo lắng đến thế.
Tả Truyện có câu rằng quân tử hay kiêng sợ ở việc nhỏ nên mới không gặp hoạn nạn lớn, đúng với nghĩa của hào này. Muốn tránh tai họa thì phải thận trọng ngay từ những điều nhỏ.
Người mệnh hợp cách phòng bị đủ cả, đức cương quyết làm người phục, trí sáng suốt giữ được thân. Người mệnh không hợp cách tự thị, cương cường, chỉ gây thù ghét, họa theo thân, hại đến nhà.
Về vận hạn: quan chức phải phòng bị hại ngầm; người thường bị bọn gian tà làm tổn hại. Câu thơ của hào nói cổng sâu nên đóng kỹ, đề phòng có người ngầm hại, đi đâu nên thận trọng.
Hào cửu tứ: cương mà biết mềm, tiến tới nguy thì răn, chớ cố chấp mãi
Hào dương, hào tốt. Không lỗi, không quá cương mà đúng đạo lý của thời Tiểu Quá. Tiến tới thì nguy, nên răn mình, chớ dùng thói cố chấp mãi vì có hại. Hào cho sự an phận.
Vô cữu, phất quá ngộ chi, vãng lệ tất giới, vật dụng vĩnh trinh.
Hà Lạc nói nên khiêm cung quá, đừng kiêu ngạo vì có hại.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hoàn cảnh của hào này hệt hào ba, cũng bị hai hào âm ép ở trên, hai hào âm thúc ở dưới, cũng ở chỗ chưa dứt hẳn khỏi quẻ nội, chưa lên hẳn quẻ ngoại, đáng lẽ cũng xấu. Nhưng hào bốn tuy dương mà ở vị âm, nghĩa là hơi biết mềm dẻo, không quá cương như hào ba, nên đúng với đạo lý của thời Tiểu Quá. Tuy nhiên phải nhớ đừng tiến lên mà theo hai hào âm, như vậy là quá nhu mì, sẽ nguy; mà cũng đừng cố chấp giữ tính dương cương của mình, mà nên biến thông.
Người mệnh hợp cách vị cao mà xử nhún, công lớn mà nhường nhịn, không lên mặt với trên, không hách dịch với dân, nên phúc trạch bền sâu. Người mệnh không hợp cách cũng là người cẩn hậu, bình dị, yên tĩnh, không lâm vào cảnh vinh nhục.
Về vận hạn: quan chức an thường thủ phận; giới sĩ gặp nhiều dịp may, đỗ đạt ở bậc nhỏ; người thường an phận, không tổn bại. Câu thơ của hào nói cương quá thì thẹn, nên tùy nghi biến chuyển, đừng ương ngạnh.
Hào lục ngũ: mây dày mà không mưa, từ cõi tây của ta bắn lấy kẻ nấp trong hang
Hào âm, hào xấu. Mây dày chẳng mưa, từ cõi tây của ta; ông bắn lấy nó ở tại hang. Hào năm âm, ví như người ở ngôi cao mà nhu nhược, chẳng khác mây dày mà không mưa.
Mật vân bất vũ, tự ngã tây giao, công dặc thủ bỉ tại huyệt.
Hà Lạc nói làm trái đạo, nhỏ nên không thành công.
Nguyễn Hiến Lê giảng: âm dương tiếp xúc nhau thì mới thành mưa. Nay âm đã lên quá cao rồi, dương ở dưới, âm dương bất hòa, có tượng mây kịt mà không mưa ở cõi tây của ta, như lời Thoán quẻ Tiểu Súc; đại ý là không làm được gì cả. Vì là âm nhu, bất tài, lại ở vào thời âm nhiều quá, chỉ có một cách là xuống tìm hào hai, cũng âm, mà làm bạn. Chữ ông ở đây trỏ hào năm, chữ nó trỏ hào hai; hào hai ở vị âm, tối tăm, nên ví với cái hang.
Người mệnh hợp cách tài lớn chí cao nhưng không gặp thời, bị ngăn trở, nên chỉ làm được việc nhỏ. Người mệnh không hợp cách kiêu ngông, phóng túng, trái nhân tình, ở chỗ vắng, không đạt chí.
Về vận hạn: quan chức cáo hưu; người thường giữ cũ thì tốt, chỉ có người già và bệnh nhân là xấu. Câu thơ của hào nói việc trễ mà vẫn theo cùng; mây chưa mưa xuống, chưa có công quả gì.
Hào thượng lục: đi quá đà, cánh chim bay xa tự chuốc lấy tai họa
Hào âm, hào xấu. Chẳng gặp đạo lý mà quá đây, chim bay xa đây, xấu, đó gọi là tai họa tự mình gây ra: đi quá đà tự chuốc lấy tai họa.
Phất ngộ quá chi, phi điểu ly chi, hung, thị vị tai sảnh.
Hà Lạc nói đi quá rồi nên bị tai vạ.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu mà hiếu động, vì ở quẻ ngoại Chấn là động, lại ở cuối thời Tiểu Quá là thái quá, nên bảo là sai đạo Quá. Có tượng con chim bay cao quá, xa quá, khó kéo lại được mà còn sợ bị tai vạ nữa. Hào sáu này âm là tiểu nhân; tiểu nhân mà vượt lên trên quân tử, tức hào bốn dương, nên răn là sẽ bị tai họa. Quẻ này khuyên người quân tử ở vào thời tiểu nhân quá thì đừng cương như hào ba, mà nên mềm mỏng một chút, biến thông như hào bốn.
Phan Bội Châu phụ chú: ở quẻ Tiểu Quá, bốn âm ngoài bao bọc lấy hai dương trong; số dương ít, số âm nhiều, là âm quá mà dương không quá, tượng tiểu nhân nhiều quá so với quân tử. Bốn dương với sáu âm đối lập nhau. Bốn dương thì chẳng quá mà đúng đạo, là dương không quá được âm mà lại gặp âm. Quân tử mà gặp tiểu nhân là việc đáng sợ, nên răn rằng tiến thì nguy. Trái lại sáu âm ở trên thì chẳng đúng đạo mà quá, là âm gặp dương mà lại vượt quá được dương. Tiểu nhân mà vượt quá quân tử là nguy cho thế đạo nhiều lắm, nên lời hào ngầm cho rằng bay xa thì tai vạ.
Xem suốt lời sáu hào thì càng nên nhớ câu lời quẻ: đừng bay cao mà bay thấp thì tốt lắm. Ở về thời âm thịnh hơn dương, nhu nhiều hơn cương, tiểu nhân đắc thế hơn quân tử, thì về phần dương cương, phe quân tử chỉ nên thoái mà xuống thấp, không nên tiến mà lên cao. Trong quẻ chỉ có hai hào dương là ba và bốn. Hào ba ở vị dương mà tính ham lên, nên mắc lấy hung, vì thời không bay cao mà cứ bay cao thì kết quả phải xấu. Hào bốn ở vị nhu, mà nhu thì hay tự mình xuống thấp, xuống được nên không lỗi; ở thời xuống thấp mà biết cách xuống, kết quả cũng được lành. Rủi gặp thời Tiểu Quá, nên cân lượng ở chỗ bay cao hay bay thấp sao cho phải đạo.
Người mệnh hợp cách kiêu mạn, phóng túng dục vọng, không dẫn được lòng mình, khoe khoang cho thích miệng; tuy công danh được toại ý nguyện nhưng phúc trạch khó bền. Người mệnh không hợp cách cậy mạnh làm liều, tham to mưu lớn, tai họa đều đến, thân nhà khó giữ.
Về vận hạn: quan chức quá cương nên gãy; giới sĩ có triệu chứng bay bổng; người thường đi quá phận mình nên oán hối, có thể xảy việc tang phục. Câu thơ của hào nói đã quá lắm, cánh chim nguy; nên khiêm nhường nén lại để giữ thân giữ nhà.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
