Bài tổng quan
Phong Thiên Tiểu Súc: gió bay trên trời, ngăn nhỏ để chờ thời lớn
Gió thì nhẹ, trời thì rộng, vậy mà một vạch âm lại giữ được cả năm vạch dương. Khi chưa ra tay được, Khổng Tử và Mạnh Tử đã chọn cầm bút... Chứa nhỏ lúc này sẽ thành chuyện gì khi trăng sắp rằm?
Mục lục · 9 phần
- 01Tiểu Súc là chứa nhỏ, ngăn nhỏ
- 02Gió bay trên trời, sức ngăn còn nhỏ
- 03Bức tranh chung: thời cơ chưa chín
- 04Hào sơ cửu: trở về đạo lý của mình, có gì là lỗi
- 05Hào cửu nhị: dắt nhau trở lại đạo lý thì tốt
- 06Hào cửu tam: xe rớt mất trục, vợ chồng trái mắt nhau
- 07Hào lục tứ: lòng chí thành khiến thương tích lành
- 08Hào cửu ngũ: lòng thành tín dắt cả bầy hào dương
- 09Hào thượng cửu: mưa đã rơi, trăng sắp rằm thì phải giữ gìn
Tiểu Súc là chứa nhỏ, ngăn nhỏ
Quẻ số chín là Phong Thiên Tiểu Súc, được xếp vào quẻ tốt, tiết khí thuộc tháng Mười một. Súc có nghĩa là nuôi, lại có nghĩa là chứa (súc tích là chứa chất), và còn là ngăn. Tiểu Súc là chứa nhỏ, ngăn trở nhỏ. Theo cách giảng Hà Lạc, Tiểu Súc là ngăn cản nhỏ, bế tắc nhỏ, đang chờ sắp được giải quyết. Vì nhỏ nên vận vẫn là hanh thông.
Gió đi trên trời là quẻ Tiểu Súc. Người quân tử coi quẻ này mà hãy cứ làm đẹp văn đức, để chờ thời mới hành động.
Làm đẹp văn đức nghĩa là trau dồi đạo đức, chăm lo việc học, phát triển tài văn chương. Người sinh vào tháng Mười một mà được quẻ này là cách công danh phú quý. Bảng Hoa Giáp hợp quẻ đặt quẻ Tiểu Súc vào các tuổi Giáp và Nhâm.
Gió bay trên trời, sức ngăn còn nhỏ
Theo tượng quẻ, Càn (cương kiện) ở dưới, Tốn (nhu thuận) ở trên, có nghĩa là âm (Tốn) ngăn cản được dương (Càn), nhỏ ngăn cản được lớn. Gió (Tốn) bay trên trời (Càn), còn xa mặt đất, sức ngăn cản còn nhỏ nên gọi là Tiểu Súc.
Lời giảng xưa cho rằng sức gió thì nhỏ; gió phải ở sát mặt đất mới có tác dụng, gió ở trên cao thì khó tích tụ mây để thành mưa, nên bức bối, bế tắc, nhưng chỉ là bế tắc nhỏ thôi. Gió thuộc âm, trời thuộc dương; âm sức nhỏ, tính âm nhu thuận nhưng lại ở vào vị trí ngăn đón, chế ngự cái lớn và cương kiện (một hào âm chế ngự năm hào dương), tất phải biết tích chứa rất nhiều.
Người thức thời coi quẻ này mà biết vận mệnh mình phải tích lũy, chứa, góp sức mình, chờ thời hành động thì mới thành công.
Còn một điều đáng suy nghĩ: ở vào thời Tiểu Súc, người quân tử chỉ nên trau dồi văn đức là vì sao? Bởi xưa nay việc tu thân vốn cốt ở hành động, mà không cần hư văn. Chẳng may hoàn cảnh gay go, thời thế buộc chưa thể giương đôi cánh lớn, mới phải quay đầu làm những việc soạn sách, lập ngôn. Như Khổng Tử, Mạnh Tử không gặp thời mà viết sách làm kinh, muôn đời sau bất hủ. Người đời sau coi đó là việc lớn, nhưng bậc thánh nhân chỉ xem bằng hai chữ Tiểu Súc mà thôi.
Bức tranh chung: thời cơ chưa chín
Quẻ chỉ thời cơ chưa chín, bề ngoài tưởng đã thuận, thực ra còn cần chuẩn bị chu đáo hơn.
Công việc: tiến hành chưa thuận lợi. Sự nghiệp: chưa phải lúc thành. Tài vận: chưa thể đạt, công danh chưa thể như ý, còn phải chờ thời. Thi cử: chưa phải lúc thuận lợi, cần phải cố gắng nhiều hơn. Đi xa: chưa lợi; kiện tụng thì bị dây dưa, rồi cuối cùng giải quyết ổn thỏa. Tình yêu và hôn nhân: chưa thuận lợi, chưa thể như ý. Sức khỏe: không may ốm đau thì dai dẳng kéo dài, tuy bệnh không nặng.
Hào sơ cửu: trở về đạo lý của mình, có gì là lỗi
Đây là hào tốt. Thời cơ cho những người lương thiện chấn hưng gia nghiệp, phục hồi kinh doanh. Lợi cho việc trở về với đạo lý cũ mình theo đuổi. Trở về đạo lý của mình thì có gì là lỗi, tốt. Tiến mà được điều chính đáng thì thế là tốt.
Hào này là dương cương lại ở trong nội quái Càn, có tài có chí tiến lên, nhưng ở thời Tiểu Súc nên bị hào bốn, ứng với nó, ngăn cản, đành quay trở lại, không tiến nữa. Như thế hợp với đạo tùy thời, nên không có lỗi gì cả.
Mệnh hợp cách: thuận lẽ thì tiến, biết có thể ngừng, kẻ tầm thường không lách được vào đâu mà nói, trên dưới vừa lòng; là người ngay thẳng, trung thành, được nhiều người tín nhiệm, làm nên sự nghiệp. Mệnh không hợp cách: là kẻ nghiêm chính, không chuộng phù hoa, tuy ở chốn tịch mịch mà không a dua, không học đòi; cũng là người hiểu biết không a dua.
Vận hạn: quan chức nếu đang nghỉ thì được phục chức; học trò khôi phục nghề tự do; người thường đi xa trở về; số xấu thì tiến thoái trong nghi ngờ, cũng bị ngờ vực, bị thiên kiến.
Hào cửu nhị: dắt nhau trở lại đạo lý thì tốt
Đây là hào tốt. Cho mọi người bình thường, nhiều cơ hội hoàn thành sự nghiệp. Kinh doanh gặp được phường hội, phát đạt tốt. Dắt nhau trở lại đạo lý thì tốt. Cùng một đường, cùng đi.
Hào này với hào năm là bạn đồng chí hướng: cùng dương cương, cùng đắc trung, cùng muốn tiến cả, nhưng cùng bị hào bốn âm ngăn cản, nên cùng dắt nhau trở lại cái đạo trung, không để mất cái đức của mình. Theo lời giải khác, hào hai và hào một kéo dắt nhau, hiểu như vậy cũng đúng.
Mệnh hợp cách: bạn với người hiền, hoặc thân với người lãnh đạo, đạt chí hướng; là người giữ được danh tiếng, tuy không làm được gì to tát. Mệnh không hợp cách: hay đi với tiểu nhân, tuy vị có quý nhưng không làm được việc lớn; cũng là người giữ được danh tiếng, tuy không làm được gì to tát.
Vận hạn: quan chức làm trưởng, có đường tiến; học trò là tay lãnh đạo xuất sắc; người thường cùng bạn kinh doanh được; số xấu thì bị liên quan, đến hỏng việc.
Hào cửu tam: xe rớt mất trục, vợ chồng trái mắt nhau
Đây là hào xấu. Gặp nhiều khó khăn cản trở, hay nảy sinh nghi kỵ lẫn nhau, mất đoàn kết. Xe rời mất trục, vợ chồng trái mắt nhau. Vì cương quá nên bị có kẻ ghìm lại.
Hào ba quá cương (vì thể chất, vị trí đều là dương) mà bất trung, hăng tiến lên lắm, nhưng bị hào bốn ở trên ngăn chặn nên tiến không được, như chiếc xe rớt mất trục. Hào này ở sát hào bốn, dương ở gần kẻ âm, mà không phải chính ứng, như một cặp vợ chồng hục hặc nhau. Lỗi ở hào ba do không biết mình đang ở thời Tiểu Súc phải nín nhịn thì mới khỏi trái mắt nhau.
Mệnh hợp cách: chỉ kinh doanh việc nhỏ, tham vọng lớn sẽ bị tổn hại; cũng chỉ làm nên việc nhỏ, tránh được tổn hại. Mệnh không hợp cách: cương quá, không nghe lời răn sẽ bị hại, hoặc mất lòng tin, vợ chồng bất hòa, bạn bè cãi nhau, huyết khí tổn thương; hay ương ngạnh, dễ bị tổn hại; nữ mệnh hay đố kỵ, khó lấy chồng, ít bạn bè thân thiết.
Vận hạn: quan chức đương vinh hóa nhục, tiến hóa thoái, hoặc đau mắt đau chân, hoặc người nhà bị tật bệnh.
Hào lục tứ: lòng chí thành khiến thương tích lành
Hào này bình, nhưng nhờ có lòng chí thành nên thương tích được lành, hết lo sợ mà không có lỗi. Cảm phục được lòng người nên mọi tai họa đều hết.
Hào này âm, nhu thuận, đối với các hào dương khó tránh xung đột, có thể lưu huyết và lo sợ; nhưng nó đắc chính (âm ở ngôi âm), ở gần hào năm là thân với bậc chí tôn, ở vào thời Tiểu Súc, lại có hào một dương chính ứng, dắt díu hào hai cùng giúp nó, nên nó tránh được lưu huyết và lo sợ, nên không lỗi. Theo lời giảng khác, tượng quẻ còn cho thấy hào bốn được hào năm tin dùng, vì vậy mà hết lo sợ. Hào năm đã tin dùng thì các hào dương khác đều theo.
Mệnh hợp cách: người quý lại gặp tri kỷ; được thuyên chuyển tốt, buồn hóa vui, xấu hóa tốt; có lòng tin và được lòng mọi người thì khó khăn qua, xấu thành tốt, có thể làm nên nghiệp. Mệnh không hợp cách: hay nghi hoặc, không định liệu, hoặc bị bệnh chân, bị hơi độc, không hòa thuận, buồn lo suốt ngày; hay nghi kỵ, khó tính, không tin ai, dễ gặp tai nạn, ốm đau nhẹ hóa nặng.
Vận hạn: quan chức được tiến cử, ở lâu được đổi; học trò hợp chí hướng bề trên, cửa giời rộng mở; người thường cảm được nhân tình, kinh doanh tạm được; số xấu đề phòng tổn thương thân thể.
Hào cửu ngũ: lòng thành tín dắt cả bầy hào dương
Đây là hào tốt. Nhiều cơ hội thành công. Có lòng thành tín, ràng buộc dắt díu cả bầy hào dương, nhiều tài đức, cảm hóa được láng giềng. Đức lớn, cảm hóa lòng người, ngăn ngừa tàn bạo.
Hào này ở ngôi chí tôn, có uy tín, đứng đầu các hào dương khác; nó trung chính, có lòng thành tín, kéo các hào dương kia theo nó mà giúp đỡ hào bốn âm ở cạnh nó, ảnh hưởng tới hào bốn, sai khiến được hào bốn, khiến hào bốn làm được nhiệm vụ của thời Tiểu Súc.
Mệnh hợp cách: quý mà không kiêu, giàu mà biết giúp người, thân sơ cùng lòng, coi nhau như anh em, người xa gần đều ngưỡng mộ; kinh doanh phát đạt, có tính đoàn kết cao, được mọi người mến mộ, đạt phú quý giàu sang. Mệnh không hợp cách: nhờ có của mà được thu dùng, hoặc có người dưới trợ giúp; tuy không đạt danh vọng cao nhưng cũng được nhiều phúc lộc.
Vận hạn: quan chức trên mến dưới kính, lên chức; học trò tâm đầu ý hợp, nên danh; người thường được giúp đỡ, vừa lòng.
Hào thượng cửu: mưa đã rơi, trăng sắp rằm thì phải giữ gìn
Hào này bình. Tốt cho những ai thức thời, hiểu biết thời cuộc có nhiều khó khăn, phải tiết chế lòng ham danh lợi. Cái gì đầy ắt phải vơi, trăng tròn ắt phải khuyết, đòi hỏi biết cân nhắc, hành động phải thận trọng, giữ gìn. Xấu đối với những ai quá ham danh lợi, dễ bị tổn thất, thương vong. Tôn sùng đức mạnh của phụ nữ là hại đấy.
Đây đã tới bước cuối cùng của quẻ Tốn, cũng là bước cuối cùng của quẻ Tiểu Súc. Hào bốn âm đã thành công đến cực điểm, các hào dương hòa hợp với nó cả rồi, như đám mây đã thành mưa, mọi sự đã yên: đã mưa rồi, yên rồi, hào bốn ân đã được lòng tất cả, đức nhu thuận đã đầy. Nhưng cứ như người đàn bà cố chấp, một mực ngăn cản chồng thì nguy đấy. Trăng sắp đến rằm (âm cực thịnh), người quân tử không thận trọng phòng bị mà vội tiến hành thì xấu. Hào bốn nên dừng lại, vì cứ một mực ngăn chặn các hào dương thì sẽ bị họa đấy; còn các hào dương (các quân tử) cũng nên lo phòng trước đi vì sắp tới lúc âm cực thịnh rồi.
So sánh hào này với hào sáu quẻ Đại Súc: quẻ Đại Súc là sự chứa lớn, cho nên khi đã cùng tột thì tan; quẻ Tiểu Súc là sự chứa nhỏ, cho nên khi đã cùng tột thì thành.
Mệnh hợp cách: nuôi thân, chứa của cải, dồi dào, không hao tổn gì. Mệnh không hợp cách: hễ có lợi danh là có tổn phá; mệnh nữ là người khó tính, trái tính trái nết, kém thọ, hay bị tai nạn, tật bệnh.
Vận hạn: quan chức dễ sa chân vào đường bất chính, tối tăm; học trò bị bài xích; người thường bị mắc kế gian, miệng tiếng thị phi, nhũng nhiễu; lui bước ở yên thì tránh được tai hại.
Bàn thêm: đọc quẻ Tiểu Súc lại nhớ chuyện Võ Hậu đời Đường và Từ Hi thái hậu đời Thanh ở Trung Quốc. Họ như hào bốn, thông minh có tài, mới đầu nhu thuận, nhờ ở gần vua (hào năm) được vua sủng ái che chở, lại lấy được lòng người dưới (hào một, hào hai), gây phe đảng rồi lần lần thống lĩnh quần dương, cả triều đình phải phục tùng họ. Tới khi họ thịnh cực, sắp suy, bọn đại thần có khí tiết, mưu trí mới họp nhau lật họ. Ngoài đời không đúng hẳn như trong quẻ, nhưng cũng không khác mấy.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
