Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Chi ngày xem vợ chồng, chi giờ xem con cái

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202615 phút đọc2 lượt đọc
Chi ngày xem vợ chồng, chi giờ xem con cái

Có người chưa cưới thì long đong, cưới xong lại thăng quan phát tài; có người đón dâu về thì mất cha mẹ, buôn bán thua lỗ. Cùng một chuyện lấy vợ mà lá số đã viết sẵn ai được nâng đỡ, ai bị rút khí. Còn đứa con ngoan hay ngỗ ngược, đông hay hiếm, nằm ở đâu trong tám chữ...


Chi ngày là cung vợ chồng, người nữ lấy quan sát làm chồng

Trong Tứ trụ, can ngày là chính mình, còn chi ngày là người bạn đời, vợ với nam và chồng với nữ. Riêng người nữ còn phải nhìn thêm hai sao quan và sát, vì quan sát chính là hình bóng người chồng. Quan hoặc sát đứng riêng một mình, trong sáng, thấu lộ rõ ràng thì duyên chồng càng tốt; lẫn lộn đục ngầu thì hôn nhân khó thuận.

Cách xem cho nam và nữ giống nhau, phù hợp với quan niệm nam nữ bình đẳng của xã hội ngày nay. Dù vậy, lẽ thường vẫn là nam dương cương, nữ âm nhu; khi nam sinh năm âm mà nữ sinh năm dương thì đường hôn nhân hay gập ghềnh hơn.

Chuyện vợ chồng được bàn trên ba điểm: chi ngày đang vượng hay suy, chi ấy mang thần nào là hỉ hay là kị, và sao tài của lá số có đắc lực hay không. Cung thê cùng tài tinh gồm cả chính thất, thiên thất, kế thất lẫn tính nết của người vợ. Người đọc có thể lấy đúng cách ấy mà suy ngược sang cung chồng ở trụ ngày của người nữ, để biết người chồng giúp hay cản, nghèo hay giàu, sang hay hèn.

Gần son thì đỏ: lấy vợ về là được phúc hay mang họa

Gần son thì đỏ, gần mực thì đen.

Nếu Tứ trụ của một người là mệnh phú quý thì người cùng hưởng vinh hoa với họ chắc chắn cũng là người có phúc. Đời có những người đàn ông trước khi cưới còn nghèo, cưới xong thì thăng quan, phát tài, việc gì cũng thuận. Ấy là vì trong mệnh họ, người vợ chính là tài tinh nâng đỡ mình. Đổi sang một người vợ khác thì lại phá tài, rủi ro liên miên, bởi khí quý của mình bị người bên cạnh rút cạn. Câu chuyện này còn là lời nhắc những ai ham ăn chơi nên giữ thân, kẻo làm hại lây cả người nằm cạnh.

Cũng có chiều ngược lại: cưới xong hàng chục năm làm ăn không nên, ốm yếu liên miên, thậm chí vừa đón dâu về thì mất cha mẹ, mất chức, buôn bán thua lỗ. Lẽ gốc rất đơn giản: thân vượng thì thắng được tài, thân nhược gặp tài là tai họa. Muốn trong mệnh tài nhiều mà vẫn thắng nổi thì thân phải thật vượng, loại tổ hợp ấy rất hiếm, phần đông người ta chỉ gặp nó trong một quãng thời gian nhất định.

Vì vậy phải xem cung vợ là chi ngày, xét tài tinh nằm ở ngôi nào, đang sinh vượng hay đã suy mộ, rồi đặt tất cả cạnh đại vận. Lá số nào không có tài tinh thì chỉ còn cách nhìn vào chi ngày.

Chi ngày đóng thần nào thì người bạn đời ra sao

Những người vợ hiền, giúp được chồng

Chi ngày là chính quan thì vợ tướng mạo đoan trang, ôn hòa, hiền thục, giỏi việc nhà. Chi ngày là thực thần mà không bị kiêu thần đoạt, hoặc chi ngày đóng lộc, thì vợ rộng rãi, đậm người, chăm lo gia đình, đời sống đủ đầy.

Chi ngày đóng tài tinh là hỉ thì người đó được vợ giúp hoặc nhờ vợ mà có của; nếu còn gặp thiên đức thì vợ hiền lành, khẳng khái. Chi ngày đóng chính ấn thì vợ hiền và giúp được chồng, nhật chủ nhược lại càng tốt. Tài tinh đóng ở ngôi chi ngày mà gặp tướng tinh thì vợ xuất thân nhà danh giá, phú quý. Chi ngày là tỉ kiếp mà thân nhược thì vợ tháo vát, nếu đóng đúng lộc thì càng hay. Chi ngày là thiên ấn mà thân nhược cũng là vợ hiền, tháo vát; còn thân vượng hoặc thiên ấn là kị thần thì vợ chẳng giúp được bao nhiêu.

Tài tinh được lộc thì vợ khỏe mạnh, hiền lành, chăm việc. Tài tinh đóng dưới quý nhân, hoặc cùng chi với quý nhân, thì vợ đẹp, thông minh, nhu mì, con nhà phú quý. Tài tinh gặp trường sinh thì vợ sống lâu.

Vợ có nét riêng: phong lưu, cao ngạo, ở xa

Chi ngày hoặc tài tinh đóng trạch mã là lấy vợ ở quê xa, có khi mất nơi quê vợ. Đóng hoa cái là vợ thông minh nhưng cao ngạo. Đóng đào hoa là hai người đến với nhau vì tình, vợ phong lưu, lắm tài nghệ.

Chi ngày đóng thương quan thì vợ đẹp; thân vượng mà tài nhẹ thì người này có của. Nhưng thương quan là điều kị, vì dễ bị vợ làm cho hao tài hoặc chẳng nhờ được gì; thương quan vượng quá thì vợ hay mắng chồng, mắng cả người ngoài.

Những dấu hiệu bất lợi cho đường vợ chồng

Chi ngày là thất sát thì vợ tính thô bạo, hai người không hòa, nặng thì khắc vợ. Gặp thêm xung thì sau cưới nhiều bệnh. Không xung mà có chế thì tránh được, vừa có chế vừa gặp hợp thì tốt. Nếu thất sát đóng chi ngày lại chính là dụng thần thì ngược lại, vẫn được vợ giúp.

Nhật chủ vượng mà kình dương nằm ở chi ngày thì vợ không hiền, hung hãn, hao tài, có khi vì vợ mà phá sản, hoặc vợ lắm bệnh, hình khắc. Nếu tài tinh mỏng yếu thì khắc vợ lần thứ nhất, thứ hai, thậm chí đến lần thứ ba vẫn còn khắc. Người tỉ kiếp nhiều, tài nhẹ cũng như thế. Chi ngày đóng kình dương, hoặc tài tinh nằm dưới kình dương, đều là vợ chồng bất hòa.

Nhật chủ vượng mà chi ngày là tỉ kiếp thì vợ gây hao tài, hay cãi cọ, nặng thì phá sản; thân vượng tài nhược thì càng ứng nghiệm. Chính tài mạnh mà thiên tài yếu, hoặc có chính tài mà không có thiên tài, thì vợ không khoan dung với người hầu thiếp; ngược lại thì vợ không chấp nhận thiếp thất. Tài lâm tử mộ tuyệt thì kị mới khắc vợ, hỉ thì lại tốt.

Chi ngày có tài tinh vượng mà thân nhược, tức tài nhiều thân yếu, thì vợ không đắc lực hoặc nhiều bệnh, nặng thì khắc vợ; có kình dương thì lại đổi chiều, người đó nhờ được vợ. Sát nặng, tài nặng, thân nhược thì vợ khắc lại mình, vừa chẳng giúp được còn hao tài. Chi ngày là chính quan nhưng bị thực thương khắc hoặc bị xung thì vợ nhiều bệnh, nặng thì khắc, nhẹ thì lập gia đình muộn. Chi ngày là thực thần gặp kiêu thần cướp đoạt thì vợ thấp bé, yếu ớt, nặng thì bệnh tật hoặc khắc.

Khi tài trong sáng và khi tài bị khắc

Tài là hỉ thần của mệnh cục, không bị hình, xung, khắc, hợp quấy phá thì tài trong sáng, chủ về vợ hiền; trái lại là người vợ khó tốt. Tài nhẹ mà không có quan, tỉ kiếp lại nhiều, hoặc tài nhiều thân nhược mà không có tỉ kiếp giúp, đều là dấu hiệu khắc vợ.

Sát vượng phải dùng ấn mà lại gặp tài tinh phá ấn thì vợ thô lậu và bị khắc. Thân vượng, sát nhẹ, gặp tài tinh rồi thêm tỉ kiếp thì vợ đẹp mà khắc. Tỉ kiếp, kình dương nặng, có thực thương mà không có tài: vợ đẹp thì khắc, vợ xấu thì thoát. Tỉ kiếp, kình dương vượng, có thực thương, tài nhẹ: vợ xấu thì khắc, vợ đẹp thì thoát.

Nếu tài hợp hóa ra dụng thần giúp nhật chủ thì vợ giỏi nội trợ; nếu hợp hóa ra kị thần thì vợ không chung thủy, hai người bất hòa.

Vận xung chi ngày: nên chờ qua rồi hãy cưới

Khi chi của đại vận xung chi ngày, hoặc xung chi tài, hoặc tài nhược mà gặp vận tỉ kiếp, hoặc chi ngày là quan nhược mà gặp vận thương quan, hoặc chi ngày là thực thần mà gặp vận kiêu thần, thì nhẹ là vợ bị thương tật, nặng là khắc vợ. Nếu chờ qua hết vận ấy mới lập gia đình thì tránh được.

Còn khi tinh thê trong mệnh đã không hiền mà lại gặp vận xấu thì chủ về ly hôn, phá tài, kiện tụng hoặc khắc người nhà.

Con cái: nỗi lo lớn nhất của người làm cha mẹ

Khôn lên ba, dại tận già.

Làm cha mẹ, ai cũng lo nhất chuyện con cái. Chưa có con thì mong có, có con rồi thì buồn vì con lớn lên chẳng ra gì. Nuôi dạy có nhiều hoàn cảnh, nhiều đứa trẻ bị nuông chiều quá nên hư. Cha mẹ ngay thẳng, trung hậu, biết dạy mà không buông thả, không gò bó, biết dẫn dắt, thì nhà giàu hay nghèo con vẫn có thể thành đạt.

Nhân tố tiên thiên cũng rất quan trọng. Có người Tứ trụ thiên khô, tức tổ hợp xấu nhiều hơn tổ hợp tốt, thì từ lúc mang thai đã có những điều không thuận; sinh ra mà mang tật thì cha mẹ lo lắng suốt đời. Mệnh thiên khô dễ yểu, nếu được cứu, lại gặp vận tốt thì vẫn có thể khỏe mạnh, làm ăn nên nổi. Còn đứa trẻ lớn lên tính nết xấu thì nên tìm nguyên nhân ở cha mẹ, gia đình, nhà trường và môi trường chung quanh. Tính vốn thiện, cha mẹ hiền lành thì đâu dễ sinh con ác.

Dù là nhân tố tiên thiên hay hậu thiên, người làm cha mẹ trước hết phải giúp đỡ và dạy dỗ con. Con ốm thì tìm thuốc; mệnh có chỗ bệnh thì bổ cứu chỗ thiếu, qua việc đặt tên, tìm phương vị thích hợp, chọn màu quần áo, định hướng nghề nghiệp. Tóm lại là bổ chỗ khuyết để cân bằng, đó là y mệnh.

Mệnh trung hòa mới quý, vận cũng vậy. Nhưng mệnh trung hòa ở mức phú quý chỉ là số ít, phần lớn là trung hòa ở mức bình thường, tuy không khiến cha mẹ phải lo nhiều thì con cái cũng chẳng nổi trội. Mệnh nào mất cân bằng nhiều mà được bổ cứu nhiều, thường là người thành đạt, làm rạng rỡ tổ tông, đồng thời cho thấy công cha mẹ lo liệu không uổng. Dẫu vậy, con có phúc của con, cha mẹ khuyên bảo là đủ, chớ vì thế mà lo quá. Đứa con không thành đạt là do mệnh lý của nó.

Tìm con trong lá số: lấy thực thương làm con cái

Có nhiều cách tìm con. Có nơi lấy quan sát làm con; có nơi lấy thực thương làm con; có nơi bảo mệnh nữ lấy thương quan, quan tinh làm con trai, còn mệnh nam lấy thương quan, quan tinh làm con gái; mệnh nữ lấy thực thần, thất sát làm con gái, mệnh nam xem hai sao ấy là con trai. Qua thực tế, cách thứ hai với mệnh nữ thường đoán số con không chuẩn, với mệnh nam thì tin cậy hơn. Nhìn chung, lấy thực thương làm con đã thành lệ chung, nên ở đây chỉ tổng kết theo cách ấy.

Thân vượng, thân nhược và số con

Nhật chủ vượng, không có ấn thụ, có thực thương thì đông con. Ấn thụ nặng, thực thương nhẹ thì ít con; ấn thụ chế thực thương cũng ít con. Ấn thụ nặng, thực thương nhẹ nhưng có tài tinh thì con cháu nhiều và hiền, vì tài là cửa thông của thực thương, lại chế được kiếp, khiến ấn không khắc nổi thực thương. Ấn nhiều mà không có thực thương, có tài tinh thì con nhiều và có năng lực.

Nhật vượng thì sinh được con, đến vận thương quan là có con. Kiếp nặng, quan sát nhẹ, có tài tinh thì con bị khắc nhưng vẫn có cháu.

Nhật chủ nhược, có ấn thụ, không có thực thương thì con nhiều. Ấn thụ nhẹ, thực thương nặng cũng không có con. Thực thương nhẹ, không có tỉ kiếp, có quan tinh, hoặc quan sát nặng mà không có ấn thụ, tỉ kiếp thì không có con. Ngược lại, quan sát nặng, ấn thụ nhẹ, có ít tài thì đông con gái. Thất sát nặng, thực thương nhẹ, có tỉ kiếp thì nhiều gái, ít trai. Thực thương vượng, có ấn thụ, gặp tài tinh thì con có cũng như không. Quan sát vượng, có ấn thụ, gặp tài tinh thì con ngỗ ngược.

Gom lại, nguyên lý cũng như chuyện cha mẹ vượng thì anh em đông: người thân vượng dễ có con, người thân nhược mà không có cứu thì con ít hoặc không có.

Chi giờ là cung con cái, đóng thần nào thì con thế ấy

Trụ giờ là cung con cái, hỉ kị của trụ giờ ảnh hưởng thẳng đến con. Tiêu chuẩn đo vẫn phải thống nhất với các cung khác: lấy thân vượng hay nhược làm gốc để định hỉ kị.

Con cái hiếu thuận, thành đạt, có phúc

Chi giờ đóng tài tinh thì con thành gia lập nghiệp, hiếu thuận, có phúc. Chi giờ lâm thiên quan thì con đôn hậu, dịu dàng, hiền hiếu, trung thực. Chi giờ lâm thực thần mà không bị kiêu đoạt, hoặc thực thần chính là lộc, thì con to lớn, thật thà, thông minh, nhanh nhẹn, cuối đời hạnh phúc. Chi giờ lâm chính ấn thì con hiếu thuận, dựng nhà lập nghiệp, người thân nhược càng tốt. Thực thần là dụng thần thì con hiền lành thành đạt; nếu người cha hoặc mẹ có quý khí thì con giàu sang.

Chi giờ hoặc thực thương lâm trường sinh thì con nhiều và thọ. Lâm thiên đức, nguyệt đức, hoặc gặp một trong hai, thì con hiếu đễ. Thực thương gặp quý nhân thì con đẹp, thông minh, phú quý. Nhật nhược mà chi giờ lâm tỉ kiếp thì con đông và giúp được cha mẹ.

Con có tính riêng, hoặc khó nuôi

Chi giờ hoặc thực thương lâm hoa cái thì con thông minh nhưng cô độc, thường có gái mà không có trai. Lâm đào hoa thì con phong lưu, ưa rượu sắc. Lâm hung sát thì người làm cha mẹ hình khắc con. Gặp trạch mã thì con sinh ở quê khác hoặc đi xa.

Chi giờ là thiên ấn thì tính nết con không tốt; nếu thiên ấn là kị thần thì nhẹ là con bị hình khắc, nặng là tuyệt tự; nếu là hỉ, dụng thần thì con thành đạt. Chi giờ lâm kiếp tài thì vì con đông mà bại gia, trừ khi thân vượng, tài nhẹ, lại gặp được ngang vai thì đỡ hơn.

Chi giờ lâm thất sát mà không có thực thần chế thì con thô bạo, không nghe lời hoặc không có con; nếu có chế và chi giờ là hỉ, dụng thần thì con đông mà quý. Chi giờ lâm kình dương thì con thô khỏe, ngỗ ngược bất hiếu hoặc khắc con; nhưng nhật nhược mà gặp kình dương thì con lại đắc lực.

Chi giờ hoặc thực thương gặp xung thì nhẹ là khắc con, nặng là tuyệt tự; đại vận cũng vậy. Can giờ hoặc thực thương lâm mộ, tuyệt thì con nhiều bệnh hoặc bị hình khắc; riêng nhật chủ vượng quá thì gặp mộ, tuyệt lại tốt.

Thực thần, kiêu thần, ấn thụ và vận cuối đời của người có con

Nhật vượng, có thực thương, không có ấn thụ thì con đông. Có cả thực thần lẫn kiêu thần: kiêu nhẹ thì khắc con, kiêu nặng thì tuyệt tự, còn có nghĩa con nhỏ yếu gầy. Thực thần và chính ấn cùng có thì nói chung không khắc con, chỉ khi thực nhẹ ấn nặng mới khắc. Thương quan và thiên ấn cùng có thì nói chung không hay, ấn nặng thương nhẹ thì khắc con.

Thực thần tuy nhược nhưng không bị phá, gặp vận kiêu thì nhẹ là con bệnh, nặng là khắc. Thương nặng ấn nhẹ, gặp vận ấn thụ thì khắc con. Nhật nhược mà thực thương nhiều, vận lại không giúp được thì con ít hoặc không con; mệnh nữ như vậy hay sảy thai, khó sinh.

Về già, vận cuối tốt mà cung con cái không đắc lực thì người đó phải bôn ba, bận rộn. Vận cuối xấu mà cung con cái đắc lực thì cuối đời bình yên hưởng phúc. Vận cuối và cung con đều tốt thì con cháu đông đúc, no ấm, cuối đời hạnh phúc.

Ba nguyên tắc để đọc mọi người thân trong lá số

Thứ nhất, đóng đúng bản cung là được ngôi, gặp nguyệt lệnh là vượng, gặp dụng thần là có lực. Thứ hai, thấu ra thiên can thì có lực hơn so với chỉ tàng trong bản khí của địa chi. Thứ ba, gặp hình xung đều là kị, đều là khắc, kể cả khi gặp thần sát của tuế vận.

Từ chuyện vợ chồng sang chuyện con cái, cách nhìn vẫn là một: tìm xem sao đại diện của người ấy ở đâu, mạnh hay yếu, được giúp hay bị phá, rồi đặt nó cạnh nhật chủ đang vượng hay nhược. Phần còn lại là việc của đại vận và lưu niên.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc