Bài tổng quan
Dụng thần được cứu và dụng thần đổi ngôi theo nguyệt lệnh
Trong lá số có một chữ Quý thủy nằm lẻ loi ở đầu can, nhìn qua tưởng thừa. Vậy mà chính nó ngăn Tài khỏi sinh Sát và giữ cho cả cách cục khỏi sụp. Có chữ cứu mạng, có chữ đổi ngôi chủ khách, và có chữ chỉ đứng thay chủ khi chủ vắng mặt...
Cứu ứng: khi cách bại lại có người đến gỡ
Quan gặp Thương mà thấu Ấn thì được giải. Quan Sát hỗn tạp mà hợp mất Sát thì trở nên thanh. Hình xung thì lấy hội hợp để giải. Tài gặp Kiếp mà thấu Thực thì được hóa, hoặc có Tài sinh Quan thì chế được Kiếp. Tài gặp Sát thì lấy Thực thần chế Sát để sinh Tài, hoặc hợp mất Sát để giữ lại Tài. Ấn gặp Tài thì lấy Kiếp để giải, hoặc hợp mất Tài mà giữ lại Ấn. Thực gặp Kiêu thì bỏ Thực theo Sát thành cách, hoặc sinh Tài để hộ Thực. Sát gặp Thực chế mà Ấn đến hộ Sát, gặp Tài thì khử Ấn để giữ Thực. Thương quan sinh Tài thấu Sát là phá cách, nên hợp mất Sát. Dương Nhận dùng Quan Sát mà gặp Thương Thực thì lấy trọng Ấn hộ Quan Sát. Gặp lộc tháng Kiếp dùng Quan mà gặp Thương nhưng Thương bị hợp, dùng Tài mà gặp Sát nhưng Sát bị hợp, thảy đều là có cứu ứng.
Từng điều ấy có thể diễn giải bằng ngày sinh cụ thể. Giáp mộc sinh tháng Dậu, can đầu thấu Đinh làm hại Quan thì phá cách; nếu lại thấu Nhâm thì Đinh Nhâm hợp nhau, Đinh hỏa không còn làm tổn Quan Dậu kim. Bính hỏa sinh tháng Tý, Nhâm Quý cùng thấu thì Quan Sát hỗn tạp là phá cách; nếu thấu Đinh thì Nhâm Sát bị hợp mất, Quan lại thanh. Kỷ thổ sinh tháng Dần, chi gặp Thân thì Thân xung Dần mà phá Quan; chi lại có Tý thì Tý Thân hợp mà hóa Thủy, trở lại sinh Dần Mộc, đó là nhờ hội hợp mà giải xung.
Giáp mộc sinh tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, Ất mộc cũng thấu, Tỷ Kiếp tranh Tài; nếu can đầu thấu Bính hỏa thì Tỷ Kiếp sinh Thực, nhờ Thực mà chuyển sang sinh Tài nên Tài cách không bị phá; hoặc không thấu Bính mà thấu Tân thì Tân kim chế Ất mộc, Tỷ Kiếp cũng thôi tranh Tài. Bính hỏa sinh tháng Dậu, nguyệt lệnh Chánh Tài, can thấu Nhâm thủy thì Tài sinh Sát là phá cách; nếu thấu thêm Mậu thổ thì Nhâm bị Mậu chế, Mậu thổ lại sinh Dậu kim Tài; hoặc không thấu Mậu mà thấu Đinh thì hợp mất Sát mà giữ lại Tài, đều là trong bại gặp cứu.
Ất mộc sinh tháng Hợi, nguyệt lệnh Chánh Ấn, gặp Mậu Kỷ thổ là Tài thì Tài phá Ấn hỏng cách; nếu thấu Giáp Ất mộc thì Kiếp chế Tài mà hộ Ấn; thấu Quý hay Giáp thì hợp mất Tài giữ lại Ấn. Giáp mộc thấy Bính mà thấu thêm Nhâm thì Thực bị Kiêu đoạt là phá cách; nếu thấu Canh Sát thì đuổi Thực theo Sát mà thành cách; hoặc không thấu Sát mà thấu Mậu thổ Tài thì Mậu chế được Nhâm để hộ Bính Thực, Thực cách lại thành. Ất mộc sinh tháng Dậu thấu Đinh hỏa là Thực thần chế Sát; Nhâm Quý khử mất Đinh thì quả là phá cách; gặp thêm Mậu Kỷ thổ khử Ấn giữ lại Thực thì thế chế Sát khỏi hỏng, thành cách. Giáp mộc sinh tháng Ngọ thấu Kỷ thổ là Thương quan sinh Tài; thấu thêm Canh kim Thất Sát thì phá cách, nhưng nếu thấu Ất thì Ất Canh hợp, Thương quan sinh Tài, cách thành. Dương Nhận lấy Quan Sát chế Nhận làm dụng, nếu gặp Thương Thực chế Quan Sát thì phá cách, có trọng Ấn khử tác dụng của Thực thì Dương Nhận cách thành. Giáp mộc sinh Dần là gặp lộc, dùng Tân kim Quan tinh mà gặp Đinh hỏa, dùng Kỷ thổ Tài tinh mà thấu Canh kim, đều phá cách; gặp Đinh mà có Nhâm thấu thì Đinh Nhâm hợp, không thương Tân kim, vẫn dùng được Quan; thấy Canh kim mà có Ất thấu thì Ất Canh hợp, Tài không a dua theo Sát, cách vẹn toàn.
Diệu dụng của lá số toàn ở lẽ thành bại cứu ứng, quyền biến nặng nhẹ rất linh hoạt.
Bốn lá số đã cứu ứng bằng một chữ ở giữa
Lá số của Chu Cổ Vi: năm Đinh Tị, tháng Kỷ Dậu, ngày Canh Tý, giờ Đinh Hợi. Nguyệt lệnh Dương Nhận dùng Quan, nhưng Quan nhiều thì không quý. Hay ở chỗ Kỷ Ấn ngăn cách với Quan tinh trên trụ năm: Quan sinh Ấn, Ấn sinh thân, chuyên dùng Quan tinh trên trụ giờ; đến vận trợ Quan thì lên đài các, tất cả nhờ Kỷ thổ làm thần cứu ứng.
Lá số của tỉnh trưởng Chiết Giang Trương Tái Dương: năm Quý Dậu, tháng Ất Sửu, ngày Canh Dần, giờ Bính Tý. Can giờ thấu Thất Sát, dùng Quý thủy Thương quan ở can năm chế Sát; giữa có Ất mộc cách quãng thì Thương quan sinh Tài, Tài sinh Sát, thành bại cách. Hay ở chỗ Ất đi hợp với Canh, nên Quý thủy không thể sinh Ất mộc mà quay sang chế Sát, lấy sự hợp của chính nhật chủ làm cứu ứng.
Lá số của tỉnh trưởng Chiết Giang Trử Phụ Thành: năm Quý Dậu, tháng Đinh Tị, ngày Kỷ Mão, giờ Giáp Tuất. Kỷ thổ sinh tháng tư, Đinh hỏa thấu ra, lửa cháy đất khô; nhờ Quý thủy ở can năm phá Ấn mà sinh Quan nên lấy Quý thủy làm thần cứu ứng. Tị Dậu hội cục, Thực Thương hại Quan, hay ở chỗ có Quý thủy thấu thì Thực Thương sinh Tài. Coi sơ qua hai lá số này thì Tài Ấn hại nhau, Quan Thương hại nhau, chẳng biết quý ở đâu; xét kỹ mới thấy. Có câu rằng gạn đục tìm trong thì trong sẽ được yên, gặp lúc hang lạnh cũng hồi xuân, chính là nói chuyện này.
Lá số của tỉnh trưởng Giang Tô Trần Đào Di: năm Tân Tị, tháng Nhâm Thìn, ngày Ất Hợi, giờ Nhâm Ngọ. Ất sinh tháng Thìn, ngày đóng nơi trường sinh, dùng Đinh trong Tị Ngọ, là cách Thực thần sinh Tài. Năm thấu Tân kim Thất Sát là phá cách, mừng Nhâm thủy trong Thìn thấu ra, hóa Sát mà sinh thân, nên lấy Nhâm làm thần cứu ứng. Tuy lấy Thực thần sinh Tài nhưng vận mừng Thực kị Tài, vì Thực tiết được tú khí còn Tài thì phá Ấn. Những lá số lắm sóng gió chìm nổi phần nhiều là như vậy.
Lẽ thành bại cứu ứng của Bát Tự thiên biến vạn hóa, không nói hết được. Chỉ cần nhớ một điều: lá số vẫn là tám chữ ấy, mà vị trí thứ tự đổi đi một chút thì sinh ra biến hóa, hoặc thành hoặc bại, hoặc được cứu hoặc không, không thể luận như nhau. Duy có một lẽ dung hòa xuyên suốt, nắm được lẽ ấy thì quyền biến nặng nhẹ tự nhiên về đúng nguồn.
Nguyệt lệnh tàng nhiều khí nên dụng thần cũng biến hóa
Dụng thần chuyên gửi ở nguyệt lệnh, nhưng nguyệt lệnh chứa khí không đồng nhất nên dụng thần cũng biến hóa. Trong mười hai chi, trừ Tý, Ngọ, Mão, Dậu ra, các chi đều chứa dư khí, không riêng gì bốn kho. Lấy Dần làm ví dụ: Giáp vốn là chủ, như quận có tri phủ; Bính trường sinh ở đó, như quận có đồng tri; Mậu cũng trường sinh, như quận có thông phán. Giả sử tháng Dần làm đề cương mà không thấu Giáp, chỉ thấu Bính, thì như tri phủ không đến quận, đồng tri được quyền làm chủ. Biến hóa là do thế.
Nhà bình chú giải: Tý Ngọ Mão Dậu là chuyên khí, chỉ tàng một thần. Dần Thân Tị Hợi là đất sinh, tàng chứa khí trường sinh lộc vượng. Dần thì Giáp mộc lộc vượng, Bính Mậu trường sinh nên tàng Giáp Bính Mậu. Thìn Tuất Sửu Mùi là đất mộ, chứa dư khí của vạn vật lúc nhập mộ: ở Thìn thì Mộc còn dư khí, Thủy nhập mộ, Thổ là bản khí nên Thìn tàng Mậu Ất Quý; Tuất, Sửu, Mùi đều như thế. Cho nên với tháng Dần thì Giáp là chủ, khí đang vượng; kế đến Bính Mậu cũng có khí. Giả sử tháng Dần mà không thấu Giáp, chỉ thấu Bính thì Giáp tuy đương vượng nhưng trong tám chữ không có, cai quản nơi đâu; Bính tuy thứ yếu nhưng đứng chủ trì lá số, nên bỏ Giáp mà dùng Bính.
Lại nói Đinh sinh tháng Hợi vốn là Chánh Quan, nhưng chi toàn Mão Mùi thì tam hợp Mộc cục, Quan hóa ra Ấn. Kỷ sinh tháng Thân vốn là Thương quan, tàng Canh mà thấu Nhâm thì hóa ra Tài. Đều là dụng thần biến hóa: một bên do hội hợp, một bên do tàng thấu.
Biến khéo thì cách thành rất tốt, biến vụng thì cách tan
Thế nào là biến khéo? Tân sinh tháng Dần, nguyệt lệnh Chánh Tài nắm lệnh, thấu Bính thì Tài hóa ra Quan, lấy Tài sinh Quan vượng làm dụng, không thể chuyên lấy Tài mà luận. Nhâm sinh tháng Tuất, nguyệt lệnh Thất Sát, thấu Tân thì dư khí Tân kim phát dụng, Sát Ấn tương sinh, không thể chuyên lấy Sát mà luận. Hai ví dụ ấy biến hóa nhờ thấu ra.
Quý sinh tháng Dần, nguyệt lệnh Thương quan nắm lệnh, tàng Giáp thấu Bính, hội Ngọ hội Tuất thì Dần Ngọ Tuất tam hợp, Thương quan hóa ra Tài. Bính hỏa thấu ra thì hoàn toàn luận theo Tài; dù không thấu Bính mà thấu Mậu thổ thì cũng luận Tài vượng sinh Quan. Vì tam hợp Dần Ngọ Tuất đã biến hóa từ trước nên không luận là Thương quan gặp Quan. Ất sinh tháng Dần, tháng Kiếp nắm lệnh, hội Ngọ hội Tuất thì Kiếp hóa ra Thực Thương, thấu Mậu thì Thực Thương sinh Tài, không luận Tỷ Kiếp tranh Tài. Đó là biến hóa nhờ hội hợp. Nhờ biến hóa mà cái kị thành cái hỉ, ấy là biến khéo.
Thế nào là biến vụng? Bính sinh tháng Dần vốn là Ấn thụ; nếu can không thấu Giáp mà lại hội Ngọ hội Tuất thì Ấn hóa thành Kiếp. Bính sinh tháng Thân vốn là Thiên Tài, tàng Canh; nếu can thấu Nhâm, lại hội Tý hội Thìn thì Tài hóa thành Sát. Đó là cái hỉ biến thành cái kị. Hỉ kị biến hóa không có lệ nhất định.
Lá số của tổng trưởng ngoại giao Ngũ Đình Phương: năm Nhâm Dần, tháng Đinh Mùi, ngày Kỷ Mão, giờ Ất Hợi. Kỷ sinh tháng Mùi, can thấu Đinh hỏa, Hỏa Thổ vốn đang vượng; nhưng chi hội Hợi Mão Mùi thành Mộc cục, can thấu Nhâm thủy, Đinh hợp Nhâm hóa Mộc, thêm Dần ở chi năm và Ất ở giờ trợ giúp, hai chữ Đinh Mùi đều hóa thành Mộc, Kỷ thổ không khỏi phải tòng Sát. Tứ trụ không có Kim, hội cục thuần túy, cách tòng Sát thành.
Lá số của Vương Khắc Mẫn: năm Bính Tý, tháng Nhâm Thìn, ngày Nhâm Thân, giờ Ất Tị. Nhâm sinh tháng ba vốn là đất mộ, Mậu thổ Thất Sát nắm lệnh; nhưng trong Thìn không thấu Mậu mà thấu ra Nhâm Ất, Thân Tý Thìn tam hợp Thủy cục, nên Thổ vượng biến thành Thủy vượng. Mộc mùa xuân còn dư khí, tiết bớt Thủy vượng; Bính hỏa lại đắc lộc ở Tị, biến ra cách Thương quan sinh Tài.
Lá số của đô đốc Hồ Bắc Tiêu Diệu Nam: năm Ất Hợi, tháng Kỷ Mão, ngày Giáp Thân, giờ Ất Hợi. Nguyệt lệnh Dương Nhận, gặp Thân kim chế, thành Sát Nhận cách. Canh kim trong Thân ngầm hợp với Ất mộc trong Mão, khí hòa tình thuận. Dương Nhận hợp Sát thì Sát chẳng khắc thân. Đến vận Giáp, ông làm quan phủ hai hồ; đến vận Tuất sinh Kim mà hợp mất Mão, cách cục phá hết, ông mất lộc.
Lá số của hộ quân sứ Tùng Hỗ Hà Phong Tòng: năm Quý Dậu, tháng Đinh Tị, ngày Nhâm Ngọ, giờ Bính Ngọ. Nguyệt lệnh Tài Sát, nhật nguyên cực yếu. Hay ở chỗ Tị Dậu hợp lại, Tài hóa ra Ấn; Quý khắc mất Đinh khiến Đinh chẳng hợp Nhâm, cũng chẳng làm tổn Ấn, là dùng Kiếp hộ Ấn. Can giờ Bính hỏa thấu ra, Tài vượng sinh Quan, nhờ Tài Ấn không hại nhau nên thành quý cách. Nếu chỉ có Quý thủy cứu ứng mà không có Tị Dậu biến hóa thì cũng không thành nổi.
Biến hóa mà không mất cách cũ
Cũng có khi biến hóa mà không làm mất cách cục. Tân sinh tháng Dần, thấu Bính hóa Quan; nếu thấu thêm Giáp thì thành cách Chánh Tài kiêm cách Chánh Quan. Ất sinh tháng Thân, thấu Nhâm hóa Ấn; nếu thấu thêm Mậu thì Tài sinh Quan, Ấn gặp Tài thì thoái vị. Bính sinh tháng Dần, hội Ngọ Tuất thành Kiếp; nếu thấu Giáp hoặc Nhâm thì Ấn cách bị phạm nhưng không phá. Bính sinh tháng Thân, gặp Nhâm hóa ra Sát; nếu thấu thêm Mậu thì Thực thần chế Sát sinh Tài, Tài cách bị phạm nhưng phú quý chẳng mất.
Nhà bình chú giải: cách kiêm thì dùng kiêm là dụng, không phải dùng cả hai cách. Giáp mộc trong Dần đang vượng nên Bính Mậu có khí; Canh kim trong Thân đang vượng nên Nhâm Mậu có khí. Thứ tự dùng là khí đang vượng trước, khí đắc khí sau. Khí đang vượng đã thấu ra thì khí thứ yếu phải nhường; hoặc lấy việc sinh trợ thần đương vượng làm dụng, lý ấy nhất định.
Bính sinh tháng Dần, Ấn thụ nắm lệnh, chi hội Ngọ Tuất thành Kiếp; thấu Giáp thì Giáp Ấn đang quyền, Ấn cách không đổi; thấu Nhâm thì Ấn được Sát sinh, Kiếp bị Sát chế, Ấn cách cũng không đổi. Bính sinh tháng Thân, Thiên Tài nắm lệnh; thấu Nhâm thì Thủy thông nguồn nên hóa Sát, nếu lại thấu Mậu thì Tài được Thực sinh, Sát bị Thực chế, nên Tài cách cũng không đổi. Đó là biến mà không biến.
Nói đến Bát Tự, trừ khi dụng thần đã lập, nếu dụng thần không biết biến hóa thì chẳng linh nghiệm. Xem dụng thần mà không xét lẽ biến hóa thì không thể xác định được dụng thần. Người khéo xem mệnh phải để ý điều ấy.
Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.
