Bài tổng quan
Hỏa Sơn Lữ: lửa trên núi, người lữ khách và cái tổ chim cháy rụi
Lửa trên núi chỉ sáng được một lúc rồi tắt, như người xa quê ở nhờ đất khách. Có kẻ được tớ trẻ trung thành, mang theo tiền của vẫn yên thân; có kẻ chính tay đốt quán trọ của mình, đến lúc chim cháy tổ mới kêu gào. Cùng một cảnh lữ thứ, ai giữ được mình?
Mục lục · 8 phần
- 01Lữ là khách xa nhà: lửa cháy trên núi chỉ sáng được một lúc
- 02Ở trọ mà giữ được đạo chính: mềm mỏng để khỏi bị ghét, lặng sáng để khỏi bị khinh
- 03Hào sơ lục: nhỏ nhen vụn vặt, tự rước họa vào thân
- 04Hào lục nhị: khách đến nhà trọ, mang theo tiền của, có tớ trẻ trung thành
- 05Hào cửu tam: đốt chính quán trọ của mình, mất cả lòng trên lẫn lòng dưới
- 06Hào cửu tứ: có chỗ ở tạm, có tiền của, mà lòng chẳng vui
- 07Hào lục ngũ: bắn con chim trĩ, mất một mũi tên mà được tiếng khen
- 08Hào thượng cửu: chim cháy mất tổ, trước cười sau khóc, mất cả con bò
Lữ là khách xa nhà: lửa cháy trên núi chỉ sáng được một lúc
Quẻ số năm mươi sáu là Hỏa Sơn Lữ, thuộc hàng quẻ bình, ứng với tháng năm. Lữ là khách, là người đi xa không yên lòng, lúc nào cũng phải thận trọng. Quẻ trên là Ly, là lửa; quẻ dưới là Cấn, là núi.
Sơn thượng hữu hỏa, Lữ. Quân tử dĩ minh thận dụng hình, nhi bất lưu ngục.
Lời Tượng nói trên núi có lửa là quẻ Lữ, tức khách xa. Người quân tử nhìn đó mà sáng suốt như lửa, thận trọng như núi trong việc dùng hình luật, và chẳng để giam lâu, trì trệ trong ngục.
Người sinh vào tháng năm gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng chưa về, chưa thấy dê khỉ, tức giờ Mùi, giờ Thân, rồi quý nhân đội đầu, trên đầu sáng choang.
Ở trọ mà giữ được đạo chính: mềm mỏng để khỏi bị ghét, lặng sáng để khỏi bị khinh
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói ở trọ, ít hanh thông; đi ở trọ mà giữ được đạo chính thì tốt. Chỗ ở của lửa là mặt trời hay lò, chứ không phải trên núi. Trên núi lâu lâu vẫn có đám lửa cháy rừng hay đốt rừng, nhưng chỉ một thời gian ngắn thôi. Vì vậy mới dùng tượng lửa, tức Ly, ở trên núi, tức Cấn, để chỉ cảnh bỏ nhà đi ở trọ quê người.
Cảnh ấy là cảnh bất đắc dĩ, nhiều lắm cũng chỉ hanh thông nhỏ được thôi; nếu người ở trọ giữ được đức trung và thuận như hào năm, yên lặng như quẻ trong Cấn, sáng suốt như quẻ ngoài Ly. Hào năm đắc trung mà lại là âm ở giữa hai hào dương, biết thuận theo dương. Cái đạo ở trọ là mềm mỏng, đừng làm cao để người ta khỏi ghét; nhưng mặt khác cũng phải yên lặng sáng suốt, giữ tư cách đạo chính của mình để người ta khỏi khinh. Giữ cho được nghĩa lý trong hoàn cảnh ấy thật là khó. Lời Đại tượng truyện cũng áp dụng vào việc hình phạt, khuyên xử đoán sáng suốt như lửa Ly, thận trọng như núi Cấn, đừng giam tội nhân quá lâu trong ngục.
Phan Bội Châu phụ chú: Lữ là một cảnh ngộ đặc biệt của con người, lìa họ hàng thân thích, bỏ mồ mả nhà cửa, đi làm một người khách ở phương xa, còn gì làm sung sướng đâu. Nhưng cảnh đời có thường có biến, việc người có cùng có thông; ở vào cảnh cùng biến mà vẫn có một đạo lý thông thường. Như đức Khổng tuyệt lương ở đất Trần, đất Thái; thầy Mạnh chẳng gặp được vua Tề, vua Lương; chẳng phải bậc thánh hiền cũng có lúc cơ lữ đó sao? Nhưng đạo nghĩa trong bản thân thì bao giờ cũng không đổi. Tuy không làm sự nghiệp lớn nhưng nhờ chính nghĩa, chính đạo, tới đâu cũng làm ơn cho người. Như thế là lữ chính bền mà vẫn được tốt.
Trái lại, lữ mà không chính bền thì như Trần Ích Tắc ở nước ta, đi ở đợ đất Nguyên, toan bán nước cầu vinh, kết quả chôn thân ở nước người, nhà Trần cũng chẳng thèm nhận làm tôn thất. Còn ông Cơ Tử đời Thương vì không chịu làm tôi nhà Chu mà sang đất Triều Tiên, lấy văn tự Trung Hoa, đặt ra mười điều giáo lệnh dạy người Triều Tiên, đến nay người Triều Tiên còn nhận ông làm quốc tổ. Lại như ông Sĩ Nhiếp vì tránh loạn Tam Quốc mà sang nước ta, bắt đầu dùng Hán văn dạy người nước ta, trọn đời ở nước ta, bây giờ người nước ta còn gọi ông là Sĩ Vương tiên. Hai bậc ấy chẳng phải là lữ chính bền mà tốt hay sao?
Dịch lý bao bọc tất cả lẽ trời và việc người. Trong loài người năm châu bốn bể, giao thông phát triển, thì Lữ cũng là việc phải có; nhưng phải hanh thông nhỏ mà giữ đạo chính bền. Thân người lữ đã hay, mà người được hàm ơn cũng cảm tình thân thiết. Đó cũng là một đạo lý ở đời vậy.
Hào sơ lục: nhỏ nhen vụn vặt, tự rước họa vào thân
Hào âm, hào xấu. Làm khách mà nhỏ nhặt, tức là tự rước tai họa về mình.
Lữ toả toả, tư kỳ sở thủ tai.
Hà Lạc nói xử sự với tư cách người khách mà nhỏ nhen, vụn vặt.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu ở vị thấp nhất, ví với người chí đã cùng, tư cách hèn hạ đối với chủ nhà mình ở trọ, tham lam, tẳn mẳn, khiến người ta ghét; như vậy là tự rước họa vào mình.
Người mệnh hợp cách có tài khác người nhưng chỉ làm được việc nhỏ, việc bị ngăn trở, công nhỏ mọn. Người mệnh không hợp cách sống với kẻ dưới thì nhỏ nhen, gặp dịp là lên mặt kiêu, lỡ gặp vận bĩ thì tai họa khó lường.
Về vận hạn: quan chức có tài đức chỉ dùng để than vãn cho nhiều; giới sĩ thấp kém, ô trọc, quê vụng; người thường chỉ bị tai họa ở khía cạnh nhỏ hẹp. Câu thơ của hào nói đường khó đi, họa thiệt thân; đêm thu trăng sáng, mây vần bốn phương.
Hào lục nhị: khách đến nhà trọ, mang theo tiền của, có tớ trẻ trung thành
Hào âm, hào tốt. Khách đến nhà trọ, mang theo tiền của, được người tớ trẻ, giữ chính.
Lữ tức thứ, hoài kỳ tư, đắc đồng bộc, trinh.
Hà Lạc nói người khách được yên lành.
Nguyễn Hiến Lê giảng: ở đất khách nên nhu thuận, mà hào này âm nhu, đắc trung đắc chính, trên lại ứng với hào năm cũng âm nhu, đắc trung, lại còn văn minh vì ở quẻ ngoài Ly. Như gặp được chủ nhà tốt, mình có chỗ trọ yên lành, giữ được tiền của, có đầy tớ tin cẩn, mọi việc đều tốt cả.
Phan Bội Châu phụ chú: lời hào này ứng với việc Tấn Văn Công trong Tả truyện. Tấn Trùng Nhĩ là một người mất ngôi, bỏ nước chạy ra nước ngoài, lưu lạc vừa mười chín năm, thậm chí xin người cày ruộng cho ăn, chịu nhục với người nước Tào. May thay nhờ có năm người đi theo hầu, ai nấy đều có tài giúp việc nước; kết quả ông được trở về nước Tấn làm bá chủ chư hầu. Mới biết lời hào ở đây không phải là không có sự thực. Lời Tượng nói được người giúp việc trẻ chính cũng vậy.
Phan Bội Châu kể thêm chuyện vua Gia Long khi bị Tây Sơn đuổi, chạy trốn sang Xiêm La. Trung thần của ngài là Nguyễn Hoàng Đức bị vua Quang Trung bắt sống. Quang Trung thu dụng Hoàng Đức, hết sức dỗ dành, đêm cho ngủ chung giường, nhưng Hoàng Đức không đổi lòng, ngoài mặt vẫn phục thuận mà ngày đêm vẫn nghĩ đến chủ cũ. Một đêm, ngủ bên cạnh Quang Trung, ông bỗng nói mớ rằng giết giặc Huệ, giết Huệ. Quang Trung biết ý, sáng hôm sau hỏi: ta đối với ngươi rất tử tế, nhưng ý thật của ngươi ra sao? Hoàng Đức thưa thật: tôi vẫn cảm ơn ngài, nhưng không thể nào khiến tôi quên được chúa tôi; hễ tôi biết chúa tôi ở đâu thì tôi đi ngay. Quang Trung vui lòng bảo: chúa anh bây giờ ở Băng Cốc. Rồi cho dọn tiệc, sai người đưa Hoàng Đức sang Xiêm. Mới biết thế nào là được người giúp việc trẻ chính, một việc rất tốt trong thời Lữ.
Người mệnh hợp cách văn làm đẹp nước, tài cứu được đời, trên ban vinh hiển, dưới dân mến phục, đức nghiệp cao và lâu bền. Người mệnh không hợp cách dù không làm quan chức cũng có tài riêng phong phú đầy đủ, nhà cửa hoa lệ, người giúp việc xúm xít.
Về vận hạn: quan chức và giới sĩ hiển đạt, thành danh; người thường có người tu đạo giỏi, người theo đông vui. Câu thơ của hào nói quý nhân sang, khách tới nghỉ ngơi, tớ trẻ tử tế, của riêng không lo.
Hào cửu tam: đốt chính quán trọ của mình, mất cả lòng trên lẫn lòng dưới
Hào dương, hào xấu. Làm khách mà tự đốt quán trọ của mình, tức mất lòng người trên; bỏ mất tớ trẻ của mình, tức mất lòng người dưới; dù giữ chính cũng nguy.
Lữ phần kỳ thứ, táng kỳ đồng bộc, trinh lệ.
Hà Lạc nói làm lữ khách mà chẳng được lòng người, nên xấu.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này quá cương, dương ở vị dương, bất trung; ở đất khách như vậy là không tốt. Vị khá cao, cậy ý tự cao, bị chủ nhà đuổi, khác gì tự đốt chỗ trọ của mình; đầy tớ cũng không ưa mình. Mất lòng cả người trên lẫn kẻ dưới, dù mình có chính đáng cũng nguy.
Người mệnh hợp cách cũng phong trần, quý mà không có ngôi, cao mà chẳng có dân, lại thêm thù oán. Người mệnh không hợp cách rời tổ đi xa lập nghiệp, động làm gì là có hối hận.
Về vận hạn: quan chức thôi việc; giới sĩ mất tiếng; người thường bị cháy nhà, người gặp tai ách. Câu thơ của hào nói lửa cháy quán, tự tài mất hết, sau đó bỏ đi.
Hào cửu tứ: có chỗ ở tạm, có tiền của, mà lòng chẳng vui
Hào dương, hào bình. Khách đến chỗ ở tạm, được tiền của và đồ hộ thân, nhưng lòng mình chẳng được vui vẻ.
Lữ vu xử, đắc kỳ tư phủ, ngã tâm bất khoái.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương nhưng ở vị âm, lại ở dưới cùng quẻ ngoài, là biết mềm mỏng, tự hạ, tức biết xử thế; cho nên được chỗ trú, có tiền của, vật liệu để phòng thân. Nhưng ở trên là hào năm âm nhu không giúp đỡ được gì cho hào bốn; ở dưới, hào một ứng với hào bốn, âm nhu lại thấp hèn, cũng chẳng giúp được gì. Vì vậy lòng hào bốn không vui.
Người mệnh hợp cách tài đức đủ để dấn thân vào việc đời, hoặc việc võ bị, lập công ở phương ngoài, hoạt động nhiều, gặp khó nhưng rồi hóa dễ. Người mệnh không hợp cách phần nhiều buôn bán ở xa nhà, hoạch lợi, bôn ba, hiểm trở, lòng chẳng được yên.
Về vận hạn: quan chức nhận trọng trách bên ngoài, chinh chiến có công; giới sĩ khó tiến; người buôn bán được lợi, người thường lập nghiệp được ở bên ngoài nhưng không được trọn vẹn hạnh phúc. Câu thơ của hào nói việc ngoài dù tốt nhưng vẫn lo, lòng bao thắc mắc, mưu đồ âm u.
Hào lục ngũ: bắn con chim trĩ, mất một mũi tên mà được tiếng khen
Hào âm, hào tốt. Bắn con chim trĩ, loài vật lông đẹp tượng văn minh, tuy mất một mũi tên nhưng cuối cùng được ban khen.
Xạ trĩ, nhất thỉ vong, chung dĩ dự mệnh.
Hà Lạc nói mất ít mà được nhiều.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này trỏ ngôi vua, nhưng nếu vua mà làm lữ khách thì mất nước, cho nên chỉ coi là một lữ khách thôi, một lữ khách văn minh vì ở quẻ ngoài Ly, nhún nhường, mềm mỏng vì âm nhu, được lòng mọi người vì đắc trung. Như vậy tất đẹp, như bắt được con chim trĩ, một loài chim đẹp thường dùng làm tượng quẻ Ly; tổn hao không mấy mà được tiếng khen và phúc lộc.
Người mệnh hợp cách công danh phát đạt từ lúc thanh niên, tiếng tăm lừng khắp, phúc lộc dồi dào. Người mệnh không hợp cách cũng nổi tiếng về văn chương, đức nghiệp, là người thiện sĩ chốn hương thôn.
Về vận hạn: quan chức được tiến dần vào chức, có thanh danh; giới sĩ thành danh; người thường gần bậc tôn trưởng, người già được kẻ tạ ơn, hoặc được văn bằng, giấy tờ tốt đẹp. Số xấu thì khó nói tốt được.
Hào thượng cửu: chim cháy mất tổ, trước cười sau khóc, mất cả con bò
Hào dương, hào xấu. Như chim bị cháy tổ, người lữ khách trước thì cười nói, sau phải kêu gào; mất trâu hay bò vì tính khinh dễ, nên mắc họa hung.
Điểu phần kỳ sào, lữ nhân tiên tiếu, hậu hào đào, táng ngưu vu dị, hung.
Hà Lạc nói người lữ khách ở nơi cao quá nên mắc họa.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này thân phận ở đậu mà đứng trên cả chủ nhà, đã là nghịch cảnh rồi; đã vậy lại quá cương vì là dương, mất lòng người tất bị đuổi đi, như con chim bị cháy mất tổ. Mới đầu hớn hở vì được ở trên người, sau phải kêu khóc vì mất chỗ trọ. Sở dĩ như vậy là vì khinh dị, đánh mất đức nhu thuận, tượng bằng con bò, rất cần ở thời ở đậu.
Cuối quẻ Lữ, cụ Phan Bội Châu ghi cảm tưởng: cảnh khốn nạn không gì bằng Lữ, xử thế khó khăn cũng không gì bằng Lữ. Cả sáu hào không có một chữ cát, chữ hanh nào. Sinh ra gặp hội đen rủi, gửi thân nơi đất khách quê người, may khỏi tai họa đã là hạnh phúc lớn rồi. Cho nên trung chính như hào hai, văn minh nhu thuận như hào năm mà lời hào còn không có chữ cát, chữ hanh; huống gì quá cương, bất trung như hào ba dương, hào sáu dương trên cùng, thì còn gì nữa? Vậy nên người ở vào thời Lữ nên mang chặt lấy hai chữ nhu, tức mềm thuận, và trung, làm bùa hộ thân.
Nguyễn Hiến Lê cảm thán khi đọc lời cụ: trong mấy chục năm vì quốc gia dân tộc, cụ gửi thân nơi quê người, gặp biết bao cảnh tủi nhục, nỗi gian nguy, rốt cuộc cũng không tránh khỏi tai họa, nhưng lúc nào cũng giữ được tư cách, khí phách, chí hướng. Ai hiểu được tình cảnh lữ thứ, hiểu được quẻ Lữ hơn cụ?
Người mệnh hợp cách cậy tài ở trên đỉnh cao, kiêu, nhưng sau mắc họa. Người mệnh không hợp cách cứ lang thang bôn tẩu, nhà bỏ, thân tàn.
Về vận hạn: quan chức khó giữ được địa vị; giới sĩ có triệu chứng bay cao; người thường đang tốt thì bị hao tổn, hoặc nên dời chỗ ở và tu tạo thì tránh được tai họa; hoặc bị đau mắt, tai ách lửa điện; đại khái cái vinh là mầm của cái họa. Câu thơ của hào nói nhà cao, trâu thấp, đều lo; chim rừng cháy tổ, cười rồi bò thảm thương.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
