Bài tổng quan
Sơn Trạch Tổn: bớt của mình giúp người và cái đạo giảm đi đúng lúc
Dưới núi có đầm, đầm sâu thêm thì núi cao thêm mà chân núi lại lung lay. Có người bớt phần mình để giúp người, có người đem thứ đạm bạc cúng tế mà vẫn cảm được quỷ thần... Giảm đi đến mức nào thì là ích, đến mức nào thì thành tổn?
Mục lục · 8 phần
- 01Tổn là giảm bớt: dưới núi có đầm
- 02Quẻ Thái đã bị bớt đi hai hào
- 03Hào sơ cửu: gác việc mình đi giúp người, nhưng phải cân nhắc
- 04Hào cửu nhị: giữ chính thì lợi, đi liều thì xấu
- 05Hào lục tam: ba người đi thì bớt một, một người đi thì được bạn
- 06Hào lục tứ: bớt cái tật của mình, sửa nhanh thì có mừng
- 07Hào lục ngũ: có người đem đến cho một lợi lớn như mười con rùa
- 08Hào thượng cửu: không làm tổn ai nữa mà làm lợi cho người
Tổn là giảm bớt: dưới núi có đầm
Quẻ số bốn mươi mốt là Sơn Trạch Tổn, thuộc hàng quẻ tốt, tiết khí tháng bảy. Tổn nghĩa là giảm bớt, hao tổn; có khi là mình chịu bớt một phần để làm lợi cho người, nên tổn mà chưa hẳn là mất. Trên là Cấn, là núi; dưới là Đoài, là đầm.
Sơn hạ hữu trạch, Tổn. Quân tử dĩ trừng phẫn, trất dục.
Lời Tượng nói dưới núi có đầm là quẻ Tổn. Người quân tử nhìn quẻ này mà dằn ép khí giận tức, ngăn lấp lòng ham muốn của mình. Người sinh vào tháng bảy gặp quẻ này là cách công danh phú quý.
Quẻ Thái đã bị bớt đi hai hào
Nguyễn Hiến Lê giảng: quẻ này nguyên là quẻ Thái. Ở quẻ nội Càn, bớt hào dương thứ ba đưa lên thêm vào hào cuối cùng của quẻ ngoại Khôn ở trên, thành quẻ Cấn; lại bớt hào âm trên cùng của quẻ ngoại Khôn đưa xuống làm hào ba quẻ nội, thành quẻ Đoài; nên gọi là Tổn, nghĩa là bớt đi.
Phan Bội Châu bình luận: thế là nguyên quẻ Địa Thiên Thái biến hai hào mà thành Sơn Trạch Tổn. Hễ thời đại đã đến Tổn thì nền tảng của Thái đã hỏng rồi; đó là thâm ý của thánh nhân khi đặt tên quẻ. Lại có thể hiểu: khoét đất ở dưới, tức quẻ Đoài, đắp lên trên cao cho thành núi; đầm càng sâu, núi càng cao thì càng không vững, phải đổ, nên gọi là Tổn, tức thiệt hại. Giảm đi không nhất định là tốt hay xấu, còn tùy mình có chí thành, không lầm lỡ thì mới tốt. Ví dụ việc cúng tế, cần lòng chí thành trước hết, còn đồ cúng không quan trọng; dù đạm bạc mà tâm thành thì cũng cảm được quỷ thần. Giảm đi như vậy để tiết kiệm thì không có lỗi.
Lời Thoán giảng thêm: phải biết tùy thời; cương quá thì bớt cương đi, nhu quá thì bớt nhu đi, văn sức quá thì bớt đi mà thêm phần chất phác vào, chất phác quá thì thêm văn sức vào. Dân nghèo mà bóc lột của dân thêm vào cho vua quan là xấu; những hạng dân giàu mà bắt họ đóng góp thêm cho quốc gia là tốt. Tóm lại phải tùy thời, hễ quá thì giảm đi cho được vừa phải. Lời Tượng thường đứng về phương diện tu nhân, khuyên người quân tử nên giảm lòng giận và lòng dục đi.
Có ý kiến khác nhấn mạnh: Tổn là giảm bớt, là bớt dưới để thêm cho trên, nên cái ích ở trên không vững. Trình Di và Chu Hy cũng nhấn mạnh quẻ Tổn sở dĩ gọi là Tổn vì nó bớt ở dưới mà thêm lên trên. Lấy của trên mà thêm cho dưới thì là quẻ Ích; bớt của dưới thêm cho trên thì là quẻ Tổn. Bớt nền gốc để đắp cho cao, há gọi là ích được chăng?
Về dự báo, quẻ chỉ thời vận khó khăn, suy giảm, cần phải biết tiết chế mọi điều; nếu ham hố không đúng thời, không đúng lúc sẽ dễ dàng thất bại. Công danh sự nghiệp, khiêm tốn thì đạt được, như mong ước thì khó thành; tài vận chưa đến; kinh doanh khó phát đạt; thi cử khó lọt; kiện tụng hao tiền tốn của, nên tránh thì hơn; mất của khó tìm; tình yêu và hôn nhân không thuận lợi.
Hào sơ cửu: gác việc mình đi giúp người, nhưng phải cân nhắc
Hào dương, hào tốt. Thôi việc mình, tức hào một, đến giúp người, tức hào bốn, không lỗi gì, nhưng cũng nên cân nhắc sự tổn kém. Hào một là dương mạnh, còn hào đối ứng là hào bốn âm vốn mềm yếu; nói dùng việc mình để cứu người thì không lỗi, nhưng phải biết lượng sức mình; ý muốn chỉ hào mạnh ứng cứu hào yếu.
Dĩ sự chuyên vãng, vô cữu, chước tổn chi.
Toán Hà Lạc nói đó là sự tốt đẹp của đạo bè bạn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào một dương cương, ứng với hào bốn âm nhu ở trên; theo nghĩa thì nên giúp ích cho hào bốn. Nhưng cũng đừng để thiệt hại cho mình quá; như vậy là cùng hợp chí với người trên ở thời Tổn, tức rút bớt.
Người mệnh hợp cách không vì mình mà tùy cơ ứng biến giúp người, nên công rõ, kết quả tốt, danh thơm. Người mệnh không hợp cách khéo việc người, vụng việc mình, tiến thoái khó thành, cơm áo lo toan, phúc kém; là người nhanh nhảu đoảng, ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng, không biết lượng sức mình, làm chẳng nên công trạng gì.
Về vận hạn: giới quan vì nước quên nhà, ngày thêm vinh, thêm ái mộ; kẻ sĩ hợp chí người trên, sẽ được lựa chọn, đề bạt; người thường hoạch lợi, số xấu thì do ăn uống hỏng việc, kinh doanh phát đạt, chăm chỉ làm ăn, phúc lộc khá. Ích người mà lại tổn ta, cũng nên châm chước kẻo là quá tay.
Hào cửu nhị: giữ chính thì lợi, đi liều thì xấu
Hào dương, hào tốt. Lợi ở sự giữ điều chính; đi ngay để giúp hào năm là xấu. Không làm tổn đức của mình tức là giúp ích cho hào năm đấy, bằng gương chính, là cách giúp tiêu cực. Thời vận ít biến động, an lạc, không thành đạt lớn, nhưng không nên làm bừa; giữ chính là tốt.
Lợi trinh, chinh hung, phất tổn ích chi.
Toán Hà Lạc nói giữ chính là có hiệu lực to.
Nguyễn Hiến Lê giảng: quẻ này có nghĩa là bớt dương cương, tức quẻ Càn ở dưới, để làm ích cho âm nhu, tức quẻ Khôn ở trên. Cho nên hào hai dương cương nên giúp ích cho hào năm âm nhu, cũng như hào một giúp ích cho hào bốn. Nhưng hào năm bất chính, âm mà ở vị dương, hay đòi những điều bất chính; nếu hào hai bỏ đức cương và trung của mình đi mà vội vàng chiều lòng hào năm thì sẽ xấu. Phải giữ đức cương trung thì mới lợi, mới chính. Không làm tổn hại đức cương trung của mình cũng là một cách khuyên hào năm bỏ tính bất chính đi, như vậy là giúp ích cho hào năm đấy.
Phan Bội Châu nhấn mạnh: hào hai dương lợi về giữ chính, nhưng lời Tượng lại chú trọng chữ Trung. Bởi vì Trung quý trọng hơn Chính; đã được trung, tức là chính. Nếu chỉ chính mà thôi thì chưa chắc đã trung. Vậy nên lấy chữ Trung bao chữ Chính.
Người mệnh hợp cách giữ chính là làm ích cho người, dù không hiển đạt lớn cũng đủ làm gương tốt, đổi được kẻ tham ra liêm, kẻ lười ra chăm, duy trì được mỹ tục nơi thôn dã; là người có đức danh, giữ được thanh danh, mọi người kính trọng. Người mệnh không hợp cách cũng là người chân chất, của cải đủ dùng, suốt đời không bị tổn hại; cũng là người ngay thẳng, thanh liêm.
Về vận hạn: giới quan cố thủ, không thay đổi; kẻ sĩ giữ nghiệp thường, khó tiến; người thường cẩn trọng giữ gìn, không mưu tính gì xa xôi. Giữ chính thì tốt, tiến liều thì nguy.
Hào lục tam: ba người đi thì bớt một, một người đi thì được bạn
Hào âm, hào tốt. Ba người cùng đi thì tổn mất một người; một người đi thì được bạn, tức hào ba âm được đem về. Đó là thời vận của sự giao du rộng rãi, hợp tác nhiều người.
Tam nhân hành, tắc tổn nhất nhân; nhất nhân hành, tắc đắc kỳ hữu.
Toán Hà Lạc nói chơi với nhiều bạn thì phải biết chọn bạn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: theo tượng quẻ Thái, quẻ nội Càn có ba hào dương, bớt đi một để đưa lên trên; quẻ ngoại Khôn có ba hào âm, bớt đi một để đưa xuống dưới, thành quẻ Tổn. Hào ba dương đi lên, hào trên cùng âm đi xuống, tương đắc với nhau; thế là tuy tách ra, đi một mình mà hóa ra có bạn. Xét trong vũ trụ thì một âm một dương là đủ; nếu thêm một âm hay một dương nữa, thành ba, thì thừa; mà nếu chỉ có một âm hay một dương thì thiếu, phải thêm một âm hay một dương mới đủ. Việc người cũng vậy: hai người thành một cặp, thêm một người thì dễ sinh chuyện, mà nếu chỉ có một người thôi thì lẻ loi quá, phải kiếm thêm bạn.
Phan Bội Châu phụ chú: nguyên thủy trong vũ trụ chỉ có chữ số Không, rồi bắt đầu thành ra có số; số đầu tiên là Một; đặt số Một lên trên số Không mà thành ra Mười, cứ thế tiến lên mãi thành trăm, nghìn, ức, triệu. Nguyên lý trong vũ trụ chỉ có cái Một, nhưng đã có sinh tất có thành, hễ có Một thì lại phải có Một nữa để đối với Một thành ra Hai; đến Hai là bao bọc hết công dụng ở trong vũ trụ. Vạn tượng nghìn hình nhưng rút cục chỉ có Một với Một mà thôi. Tỷ như một âm một dương, một thiện một ác, một sống một mái, có thứ gì tránh khỏi Một với Một đối nhau đâu. Nên lời Kinh Dịch mới có hai chữ chuyên nhất. Theo về đạo lý vẫn là chuyên nhất, mà kể về việc làm lại càng nên chuyên nhất. Không kể học thuật, văn nghệ, thực nghiệp, công tác, hễ làm việc gì phải chuyên nhất việc ấy; nếu không chuyên nhất thì khó làm nên.
Người mệnh hợp cách giữ điều nhân, chọn điều thiện, không những ích cho mình mà lợi cho văn hóa đất nước; là người giao thiệp rộng, có nhiệt tâm hiền, làm nên sự nghiệp, ích nước lợi nhà; sĩ tử thành đạt. Người mệnh không hợp cách cũng khéo giao lưu, không tổn phúc nhà.
Về vận hạn: giới quan có sự hợp tác; kẻ sĩ kết bạn cùng chí hướng, ích lợi, tiến tới; người thường hiệp lực đông đảo, gặp phường hội, nhiều phúc lợi; được lợi, hôn nhân thành; tăng ni có đông tín đồ theo. Gặp ba là chuyện sinh nghi, chỉ nên chuyên một, đừng tùy ý ai.
Hào lục tứ: bớt cái tật của mình, sửa nhanh thì có mừng
Hào âm, hào tốt. Giảm bớt nết xấu của mình, tức tính âm nhu, khiến làm cho nhanh thì có mừng, không lỗi. Biết sửa mình thì dễ thăng tiến, nhiều cơ may thăng tiến.
Tổn kỳ tật, sử thuyên, hữu hỷ vô cữu.
Toán Hà Lạc nói khiến người biết xem xét lại mình, mà làm cho nhanh.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này có tật âm nhu, được hào sơ dương cương sửa tật đó cho mau hết, tốt.
Người mệnh hợp cách mạnh bạo theo điều lành, vui lòng sửa lỗi, đi lên chỗ cao, không lưu lại chỗ thấp; là người biết sửa mình để làm việc lớn, công danh thành đạt, phúc nhà sâu dày. Người mệnh không hợp cách có tật phải mau dùng thuốc, có lỗi phải sửa nhanh, nhỏ thì gian nan, lớn được yên hanh; lúc trẻ gian nan, về già khá giả; nếu biết sửa mình sớm sẽ thành đạt khá hơn; khi có bệnh uống thuốc sớm, sai lầm phải sửa chữa ngay để khỏi tai họa.
Về vận hạn: giới quan đi lên; kẻ sĩ có mừng, gặp thời, thành đạt; người thường thu lợi, tai nạn thoát, bệnh khỏi, tối ra sáng, buồn hóa vui, kinh doanh phát triển, nhiều phúc lợi. Giúp nhau đổi dở thành hay, trời đành gặp gỡ duyên nay một người.
Hào lục ngũ: có người đem đến cho một lợi lớn như mười con rùa
Hào âm, hào tốt. Thình lình hào hai đem lợi ích đến cho mình, to lớn như mười con rùa, theo số đếm đời xưa, không từ chối được, vì tốt nhất. Ý hào: người ở ngôi cao biết đem lại lợi ích cho dân.
Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, nguyên cát.
Toán Hà Lạc nói có đức, ngôi vị tôn, tất được người hiền giúp việc lớn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở vị tối cao, nhu mà đắc trung, được hào hai dương tận tình giúp ích cho, như cho mình một con rùa rất lớn. Sở dĩ vậy là vì hào này đắc trung mà hiền, tức nhu, nên được lòng người, cũng như được trời giúp cho.
Người mệnh hợp cách được người hiệp lực, đạo trị nước thành, nhân tâm về với mình, phúc nhà thịnh vượng; là người được lòng người, làm nên sự nghiệp, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách cũng xuất chúng, nơi làng nước ngưỡng mộ, thân vinh, nhà vượng; cũng là người được dân yêu ở địa phương, có cuộc sống yên vui.
Về vận hạn: giới quan gần bậc trên, dễ thăng tiến; kẻ sĩ đỗ cao, gặp thời làm nên sự nghiệp; người thường đại phát tài, nhưng phòng có tang. Việc đời tổn trước ích sau, bạn hiền giúp đỡ mới mau tốt lành.
Hào thượng cửu: không làm tổn ai nữa mà làm lợi cho người
Hào dương, hào tốt. Chẳng làm tổn ai nữa, vì tổn đến cực rồi, mà làm ích cho người, nhờ có hào ba; không lỗi gì, như người hao tổn sức lực vì dân, giữ chính nên tốt; ích lợi đầy, tiến đi sẽ được người quy phục mình, không cứ ở nhà riêng nào.
Phất tổn, ích chi, vô cữu, trinh cát, lợi hữu du vãng, đắc thần vô gia.
Toán Hà Lạc nói gắng công chính đạo, làm lợi ích cho bên dưới.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này nghĩa mỗi bản giảng một khác, theo Phan Bội Châu mà châm chước. Dương cương ở trên cùng quẻ Tổn, nên đem cái cương của mình giúp cho nhiều hào âm nhu, chính đáng như vậy thì tốt, mà chẳng hại gì cho mình, vì mọi người sẽ quý trọng, quý phục mình. Có người hiểu là đừng làm hại mà làm ích cho người thì tốt; lẽ ấy dĩ nhiên rồi.
Ông kết: đại ý quẻ này là Tổn chưa chắc đã xấu, Ích chưa chắc đã tốt; còn tùy việc, tùy thời, hễ quá thì nên tổn để được vừa phải, thiếu thì nên ích; và mình nếu chịu thiệt hại cho mình mà giúp cho người thì tốt.
Người mệnh hợp cách lòng để ở thiên hạ, hoàn thành sự nghiệp, chí đẹp để ở lớp cùng dân, lập công huân, hưởng phú quý. Người mệnh không hợp cách thường là người ẩn sĩ tự nhiên, không tham, không mưu toan gì, cũng được ấm no; gần người hiền; buôn bán thì có lợi, hoặc làm tăng đạo cũng tốt.
Về vận hạn: giới quan được dân mến, nhiều phúc lộc; kẻ sĩ toại chí, đạt chí hướng; người thường được đại lợi, nhiều quý nhân giúp, ra vào đều có lợi. Tổn mình, ơn giúp được người; người vui là phúc, lại trời an nhiên.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
