Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Trạch Thiên Quải: nước đầm dâng tận trời, năm quân tử quyết một tiểu nhân vẫn phải lo

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202617 phút đọc1 lượt đọc
Trạch Thiên Quải: nước đầm dâng tận trời, năm quân tử quyết một tiểu nhân vẫn phải lo

Năm người cùng đuổi một kẻ, thế thắng đã rõ như ban ngày, vậy mà lời quẻ vẫn dặn đi dặn lại rằng có nguy. Có người tiến sớm quá mà thua, có người lo từ lúc chưa có giặc nên nửa đêm nghe tiếng giặc vẫn thản nhiên... Cái thắng nằm ở chỗ nào, và cái nguy ẩn trong hào nào?


Quải là quyết: nước đầm dâng lên tận trời

Quẻ số bốn mươi ba là Trạch Thiên Quải, thuộc hàng quẻ tốt xấu lẫn lộn, ứng với tháng ba. Quải nghĩa là quyết, gồm cả quyết đoán, quyết tâm, quyết nghị. Trên là Đoài, là đầm; dưới là Càn, là trời. Nước đầm dâng lên cao đến tận trời, nên mới gọi là Quải.

Trạch thượng ư thiên, Quải. Quân tử dĩ thí lộc cập hạ, cư đức tắc kỵ.

Lời Tượng nói nước đầm dâng lên đến trời là quẻ Quải. Người quân tử nhìn đó mà ban phát lợi lộc cho khắp bên dưới, ví như một hào âm bố thí xuống cho năm hào dương; còn ở nơi đạo đức thì phải biết kiêng sợ, kẻo lầm lỗi.

Người sinh vào tháng ba gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Càn và Đoài đều thuộc Kim, nên sinh mùa thu là được mùa. Câu thơ của quẻ đại ý rằng bố thí cho người là nếp phong lưu rất nên có, nhưng nếu đại phần cùng gặp hết một lúc thì liền sinh gian nguy.

Năm hào dương quyết đuổi một hào âm

Lời Thoán nói: phải tuyên cáo tội ác của kẻ kia ở sân vua, lấy lòng chí thành mà phát hiệu lệnh. Có điều nguy sợ đầy, phải răn phe mình trước, đừng chuyên dùng vũ lực; được vậy thì sự nghiệp càng tiến càng có lợi.

Nguyễn Hiến Lê giảng: Đoài là đầm ở trên, Càn là trời ở dưới, tức nước đầm dâng ngập trời, tất nhiên các đê ngăn nước phải nứt vỡ khắp nơi. Lại thêm năm hào dương tiến lên, quyết tâm diệt một hào âm ở trên cùng. Vì hai lẽ đó mà quẻ đặt tên là Quải.

Quẻ thuộc tháng ba âm lịch, lúc âm sắp tiêu hết, suy đến cực rồi. Tuy nhiên vẫn phải đề phòng, phải tuyên bố tội ác của tội nhân trước công chúng rồi mới lấy lòng chí thành mà ban lệnh. Dẫu thế vẫn có thể gặp nguy; cổ nhân thật dè dặt, nên mới răn phe mình phải đoàn kết, hành động đàng hoàng và đừng chuyên dùng võ lực.

So quẻ này với quẻ Phục thì thấy rõ dụng ý của người xưa. Quẻ Phục có năm tiểu nhân đối địch với một quân tử, trong số đó có một tiểu nhân là hào bốn làm nội ứng cho quân tử, nên được khen là một mình biết trở lại điều phải. Quẻ Quải thì năm quân tử đuổi một tiểu nhân, nhưng cũng có một quân tử là hào ba thân thiện với tiểu nhân, nên lời hào khuyên phải cương quyết tuyệt giao với tiểu nhân thì mới không có lỗi. Hào năm tuy không chính ứng với tiểu nhân, nhưng vì ở ngôi chí tôn, cầm đầu phe quân tử mà lại ở gần tiểu nhân là hào sáu, nên cũng phải khuyên cương quyết diệt tiểu nhân thì sẽ không có lỗi.

Thắng rồi vẫn phải lo: lẽ thấm thía trong lời răn của thánh nhân

Phan Bội Châu nhấn mạnh rằng lẽ trong thiên hạ, điều rất khó lường là cơ họa phúc, điều rất bất trắc là mưu của tiểu nhân. Vì thế thánh nhân lại dặn rằng phe quân tử tuy mạnh nhưng chớ nên kiêu, phe tiểu nhân tuy suy nhưng chớ nên khinh; quân tử luôn phải có lòng lo sợ mà tính toán cho vẹn toàn. Nên lời quẻ mới nói có nguy, tức mong cho quân tử luôn đề phòng tiểu nhân. Quẻ ngoại là Đoài mang nghĩa hòa thuận vui vẻ, nên bốn chữ đi thì có lợi có sách giảng là cứ như vậy, tức không dùng võ lực, mà tiến tới thì có lợi. Lời Thoán lại giảng là cứ tiến tới cho đến khi trừ xong hào âm, chỉ còn toàn quân tử thì mới là hoàn thành.

Ông phụ chú thêm: năm dương khử một âm, năm quân tử trừ một tiểu nhân, đáng lẽ rất dễ, mà lời quẻ lại có ý gay go. Ở quẻ Bác, năm tiểu nhân khử một quân tử, thánh nhân đã hết sức lo cho quân tử. Nay quẻ Quải, năm quân tử trừ một tiểu nhân mà thánh nhân lại răn đe quân tử, ý tứ của Dịch thấm thía biết chừng nào. Lời Tượng khuyên ban phát lộc cho dân cũng nhờ ý của quẻ ngoại Đoài là vui vẻ, thuận, hòa.

Đọc suốt sáu hào quẻ Quải càng thấy thủ đoạn của thánh nhân rất khéo. Năm dương quyết một âm, năm quân tử quyết một tiểu nhân, mà cớ sao mọi hào không có chữ quyết, chỉ hào ba dương và hào năm dương mới có hai chữ quyết quyết. Đó chẳng phải là cái then máy của họa phúc trong thời Quải đặt cả vào hai hào ấy hay sao. Hào sơ tuy là quân tử mà vị thấp, tài hèn, may mà gặp được một người anh hùng vô danh là đã tốt rồi, nên phải lo cho hào sơ tiến chưa chắc đã thắng. Hào hai là tay đại tướng, nhưng nếu vận chưa đến, chỉ là lo lắng, kêu gọi mà thôi. Hào bốn dương vẫn là một vị quân tử, có giá trị trong phe, nhưng vì có khí thế mà tài chưa đủ, chỉ vừa làm một người đồng sự, ứng viện phía sau mà thôi, nên bảo rằng lùa bầy dê đi trước thì khỏi ăn năn.

Tựu trung duy có hào ba dương và hào năm dương. Hào ba là bạn thân của hào sáu âm trên cùng, chính là một tay làm nội gián cho bè quân tử. Nếu hào ba mà có tật thật tốt, thì như Y Doãn về với Kiệt, Địch Nhân Kiệt thờ Chu để hưng lại Thương, phục lại Đường, chẳng phải tay hào ba thì còn ai. Trong lúc toàn Càn thay Khôn, đổi sông thay núi, thật không thể thiếu hạng người ấy, nên thánh nhân khen cực kỳ mà nói quân tử quyết quyết. Còn hào năm dương, địa vị ở trên hết quần chúng, chính là lãnh tụ trong đám quân tử, dùng đầu óc mà sai khiến tay chân, vận tải nặng mà xoay cả thời thế, chính là nhờ hạng người ấy. Nếu người ấy mà dở thì còn ai làm nổi việc thời Quải. Cho nên thánh nhân khen rằng quyết quyết, theo đạo trung mà đi.

Tóm lại, trong sáu hào, công việc quyết quyết chỉ đặt trên vai hào ba dương và hào năm dương. Dùng hào ba là biết hóa kỳ ảo, tôn hào năm là đường lối chính thống. Không có hào năm thì thành rắn không đầu, sao mà đi được; không có hào ba thì thành đánh giặc không có nội công, sao mà thắng địch.

Dự báo cho quẻ Quải

Quẻ Quải vừa tốt vừa xấu, giữ được đúng đắn thì tốt, phạm sai lầm là rơi vào tình thế nguy ngập; nói chung không phải thời vận tốt. Công danh sự nghiệp khó thành; tài vận chưa đến; kinh doanh khó khăn, khôn khéo lắm cũng chỉ thành đạt nhỏ; gặp phải kiện tụng dễ thua thiệt; thi cử khó đạt, mất của khó tìm; hôn nhân trắc trở, gia đình dễ gặp bất hòa; bệnh tật thì ốm đau dễ thành bệnh nặng.

Hào sơ cửu: chân chưa vững mà đã bước lên trước

Hào dương, hào xấu. Khí mạnh hăng ở ngón chân trước, bước đi tiến lên mà chẳng thắng nổi thì thành lỗi. Hào một quá thấp.

Tráng vu tiền chỉ, vãng, bất thắng vi cữu.

Hà Lạc nói: liệu không thắng nổi mà đấu với kẻ tiểu nhân thì khó tránh nguy biến.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, hăng hái, ở vị trí thấp nhất, tài còn non mà muốn tiến lên trước để diệt hào âm ở trên cùng, chưa chắc đã thắng mà cứ tiến là có lỗi, vì không lượng sức mình, không chuẩn bị kỹ.

Phan Bội Châu dẫn binh thư: phép cầm quân đánh giặc là tính cách thắng trước khi xuất quân thì chắc thắng; ra đi khi chưa tính được cách thắng thì chắc thua. Ông lấy sử nước ta làm chứng: đời Tây Sơn, vua Quang Trung nghe giặc Mãn Thanh kéo vào Hà Nội, đã sắp sẵn kế hoạch, sai người mang biểu ra đầu hàng giả để chờ cho giặc sinh lòng kiêu, rồi liền chia năm đạo binh xuất kỳ bất ý, thẳng tiến Long Thành, đuổi sạch hai mươi vạn quân Mãn Thanh. Đó là thắng từ trước khi ra đi, vì đã tính cách đánh thắng. Lại như nước Xiêm La, đương lúc vua Gia Long cầu viện, vội vàng khinh địch, kéo hơn mười lăm vạn binh xuống tận đất Cao Miên toan cướp Nam Kỳ; chẳng ngờ vua Quang Trung kéo quân từ Bắc Thành vào thẳng Nam Kỳ, chỉ một trận mà quân Xiêm đổ như lá rụng. Đó là ra đi trước khi tính cách thắng. Huống hồ chẳng thắng mà cứ đi thì còn làm nên việc gì, nên nhìn vào đó mà thấy thâm ý của thánh nhân.

Người mệnh hợp cách xem thời rồi hãy tiến; thấy nguy thì khó tránh tai biến. Tuy không thành đạt lớn thì cũng giữ toàn được thân, tránh được tai họa. Cũng có gặp gian nan nhưng cẩn thận thì qua khỏi. Người mệnh không hợp cách thì dễ làm liều, thất bại; vô đức mà cứ sinh chí khoe tài, phận dưới mà cứ tranh chèo, họa sinh tới tấp.

Về vận hạn: giới quan bị hành xích vì bạo động, dễ bị truất giáng, kỷ luật; giới sĩ mưu đồ bạt mạng nên bị oán trách; người thường lo cái họa làm liều. Câu thơ của hào nói hỗn hào tối sáng còn lâu, tới lui càng mệt, cá đâu buông mồi.

Hào cửu nhị: lo sợ kêu gọi từ trước, đêm có giặc cũng chẳng sợ

Hào dương, hào tốt. Nơm nớp sợ, luôn kêu gọi; đêm hôm có giặc cũng chẳng phải lo nữa, vì hào hai ở giữa đã phòng bị cả rồi. Có phòng bị cả rồi thì không lo.

Dịch hào, mộ dạ hữu nhung, vật tuất.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, quyết tâm tiêu diệt tiểu nhân, lại đắc trung nên biết lo lắng, đề phòng, cảnh cáo các bạn luôn luôn. Khi vô sự mà như vậy thì khi giặc tới thình lình giữa đêm cũng chuẩn bị sẵn sàng rồi, nên không sợ.

Phan Bội Châu phụ chú: lời hào chỉ có ít chữ, trong Hán văn là tám chữ, mà đủ tư cách làm bậc đại tướng. Xưa nay nhà binh sở dĩ thất bại chỉ vì hai cớ. Một là khi chưa có giặc thì lơ là hững hờ, không biết nghĩa chữ lo lắng kêu gọi. Hai là thoạt nghe giặc tới thì kinh hoàng hoảng hốt, chính là không biết nghĩa chữ có giặc chẳng sợ. Sử nhà Đường khen một vị danh tướng rằng khi ở trong quân, suốt ngày lăm lăm như thể đương đối địch với giặc; đến khi có giặc mà lâm trận thì lại khoan thai êm đềm như không muốn đánh. Đó chỉ vì lúc vô sự mà hay lo lắng kêu gọi để phòng bị nên lúc hữu sự mới được chẳng sợ; như thế gọi là đắc trung.

Người mệnh hợp cách sửa trị từ lúc chưa loạn, bảo vệ nước từ lúc chưa nguy; đạo trung cảm được dân, uy tín ngăn trừ bạo, văn thành tên tuổi, võ có công lao. Người mệnh không hợp cách thì đa mưu, đa biến, lo mừng bất thường, hoặc lập công hưởng lộc, theo quân mà có danh.

Về vận hạn: giới quan là bậc nhất cho binh nghiệp, phần nhiều nắm quyền quân đội; giới sĩ được tuyển vào ngành võ hoặc bán quân sự; người thường dễ bị kinh sợ, hoặc gặp nạn giặc cướp. Ai biết lo trước ngừa sau, sửa trị lúc chưa loạn, bảo vệ lúc chưa nguy thì dễ thành đạt sự nghiệp. Sinh vào hào này cũng là người có mưu trí, có công danh, dễ đỗ đạt. Câu thơ của hào nói hô hào lo sợ đề phòng, ấy là ngăn được họa không đến gần.

Hào cửu tam: nét mặt cương quyết, đi một mình gặp mưa ướt át

Hào dương, hào xấu. Vẻ hăng mạnh lộ ra nơi gò má, e có điềm dữ, vì hào ba cương mà quá trung, dễ nguy. Nhưng nếu người quân tử quyết quyết giữ bè quân tử thì dù đi một mình gặp mưa như thấm ướt, tức có cảm tình với hào sáu tiểu nhân nên bị người giận ghét, cũng vẫn không lỗi gì, vì vẫn theo mục đích quyết thắng tiểu nhân.

Tráng vu quỳ, hữu hung, quân tử quyết quyết, độc hành ngộ vũ, nhược nhu, hữu uấn, vô cữu.

Hà Lạc nói: muốn quyết trừ kẻ tiểu nhân phải khôn khéo, đừng cương quá.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương nhưng bất trung, lại ứng với hào âm là tiểu nhân ở trên cùng, nên có ý phản bạn là các hào dương khác mà thân với tiểu nhân. Bây giờ nét mặt tỏ vẻ cường bạo với hào âm thì kẻ tiểu nhân kia không ưa, mà ngay cả bạn quân tử của hào ba cũng không ưa vì cho là giả dối, nên có điều xấu. Câu đầu về vẻ hăng mạnh lộ ra ở gò má còn tối nghĩa, mỗi bản giảng một cách mà đều lúng túng. Lời hào khuyên cứ thật cương quyết bỏ hào trên cùng đi, đánh đổ nó đi; trước kia lỡ thân với nó mà xa các bạn, như một người đi riêng một đường gặp mưa, ướt và lầm, tức mắc tội lỗi, bị bạn bè giận. Bây giờ hợp lực với bạn, diệt xong hào âm kia rồi sẽ rửa sạch được lỗi. Lời Tượng cũng khuyên hào ba dương vốn chính ứng với hào sáu trên mà vẫn ở trong đám quân tử, một mình đi riêng một lối. Nhưng đạo tương giao cốt ở tình thân, không cần ở hình thức; nếu hào ba thật có lòng quân tử quả quyết thì cuối cùng chắc không có tội lỗi.

Người mệnh hợp cách là người tài lớn, chí cương, mưu cơ sâu, lo xa, vì nước trừ hại, làm lành phong tục, công danh rất mực. Người mệnh không hợp cách thì hay tranh đấu, chuốc oán mua hờn, cô độc lo lắng.

Về vận hạn: giới quan vất vả trừ gian, là bậc trượng phu đức cao tất trọng, quyết tâm vì nước, trừ hại cho dân, có công lao lớn; giới sĩ giận đời, ngược đời; người thường hay thưa kiện, bất đắc chí. Đại để nên theo thiện tránh tà, trước gian nan sau yên tĩnh. Câu thơ của hào nói chỉ cần quyết tâm rũ sạch thì đâu còn ngại lo.

Hào cửu tứ: mông không da, đi chập chững, lùa bầy dê thì khỏi ăn năn

Hào dương, hào xấu. Hào dương ở vị trí âm, lại không phải hào trung, vừa bất chính vừa bất trung, lại đóng vai quá cương, nên danh không chính, ngôn không thuận. Mông đít không da nên đi chập choạng; chỉ có cách lùa bầy dê đi thì khỏi ăn năn, tức nhường những hào dương kia đi trước, mình theo sau. Nghe lời này mà chẳng tin chăng, vì hào bốn dở dang lắm. Hào hợp với người tàn tật, người tầm thường, tài nhỏ chí to, không biết lượng sức mình, chỉ làm được việc nhỏ.

Đồn vô phu, kỳ hành tư thư; khiên dương hối vong, văn ngôn bất tín.

Hà Lạc nói: chưa khéo, nên cần biết cái thuật quyết trừ bọn tiểu nhân.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương, bất trung và bất chính, ở hào vị âm, thấy mấy hào dương kia tiến, không lẽ nó cứ ngồi im, nhưng thiếu tài, tiến chập chững như người mông không có da. Cách tốt nhất là nhường cho các hào dương kia tiến trước, nó đi sau cùng như người lùa bầy cừu, như vậy không hối hận. Nhưng nó ở vị nhu, không sáng suốt, nên khuyên nó vậy mà không chắc nó đã nghe.

Người mệnh hợp cách tài đức, tri thức cũng khá mà không sinh khôn đi trước, nghe điều thiện biết theo, lập được công danh. Người mệnh không hợp cách thì cố chấp, mê muội, lỡ việc, hoặc điếc, què; hoặc sinh nhai nghề chăn nuôi.

Về vận hạn: giới quan bị rơi bỏ vì bất lực; giới sĩ đỗ bét; người thường kiện tụng, bị đòn, hoặc bệnh ngứa lở, trĩ, hoặc tật ách ở tay chân, khó đi. Câu thơ của hào nói lùa dê theo chập choạng đi, chính bên tứ cửu có chi lỗi lầm.

Hào cửu ngũ: rau sam bám đất, quyết quyết giữ đạo trung

Hào dương, hào tốt. Rau sam, tức hào sáu âm tiểu nhân, mọc đầy; nếu quyết quyết, cứ đạo trung mà đi, đừng có cảm tình với hào sáu, thì không lỗi gì.

Hiện lục, quyết quyết, trung hành vô cữu.

Lời hào này khó hiểu, nhiều nhà khảo Dịch không rõ vì sao dùng từ rau sam và quải quải. Tuy nhiên về dự báo thì hào này chỉ ngôi cao mà sáng suốt, không bị kẻ phỉnh nịnh làm hỏng việc, gian nan tự dễ qua. Hà Lạc nói bậc nguyên thủ phải quyết tâm đối phó kẻ tiểu nhân.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở gần hào trên cùng, gần tiểu nhân âm, ví như rau sam, như vậy không tốt, nhưng may nó là dương cương, đắc trung đắc chính nên không bị mê với hào trên cùng mà quyết tâm trừ đi. Lời hào khuyên phải giữ đạo trung thì mới không có lỗi, vì hào năm vốn có tư tình với hào trên.

Người mệnh hợp cách sáng suốt, không bị mưu gian của tiểu nhân, nghiêm túc về pháp luật Nhà nước, truyền thông nhân dân nên công lớn phúc dày. Người mệnh không hợp cách thì nhút nhát, không hợp đạo trung, ưa thích những ơn huệ nhỏ để mang họa; lại như kẻ hãnh tiến không giữ được trung đạo, thiên vị, cảm tình, mang họa vào thân.

Về vận hạn: giới quan gặp đám gian nịnh làm hại; giới sĩ lợi nhỏ; người thường kinh doanh đắc ý, có kiện tụng thì được trình bày phải trái, bệnh khỏi. Câu thơ của hào nói trừ tà giữ chính, dân mong; cương không đi quá, đạo trung rõ ràng.

Hào thượng lục: tiểu nhân hết thời, kêu khóc cũng vô ích

Hào âm, hào xấu. Không kêu khóc ai được, vì tiểu nhân đã hết thời, kết cục là xấu. Hào âm sắp tiêu nên xấu, giống như kẻ tiểu nhân sắp hết thời. Hào này chỉ hợp với các nhà tu hành, người ở ẩn.

Vô hào, chung hữu hung.

Hà Lạc nói: bè tiểu nhân đã hết mà tai họa chưa lùi.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm ở trên cùng quẻ Quải, bị năm hào dương tấn công, nguy cơ đã tới, không có hào nào giúp nó cả, nên khuyên nó đừng kêu gào vô ích, cuối cùng cũng chết thôi.

Người mệnh hợp cách tuy phú quý nhưng cậy thế, áp chế người, lộng quyền, lấy của, ám hại người lành, sau khó tránh tai họa. Người mệnh không hợp cách thì người ghét mình, mình chẳng thân ai, động làm gì là hối tiếc, chẳng bền lâu, phúc mỏng, cô độc, ốm đau.

Về vận hạn: giới quan nên thoái lui là tốt; giới sĩ khó tiến thủ, đi tu thì hơn, không hợp thời, gian nan vất vả, không có cơ may thăng tiến, lại dễ bị gièm pha, chịu thị phi khiển trách; người thường nên an thường thì đẹp, người lớn tuổi thì thọ yếu. Số xấu thì thị phi hao tốn nhiều, người già lo tuổi thọ. Câu thơ của hào nói gái nào khóc ở bên sông, đi đêm hẳn tới đường cùng, xấu đây.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc