Bài tổng quan
Thi Hương, Thi Hội: Hào Phụ, Hào Quan Và Vận May Bảng Vàng
Một nữ sinh xem quẻ thi nghiên cứu sinh, được Tử Tôn trì Thế lại thêm hào Tài phát động trong quẻ, đúng theo câu phú xưa về người thi đỗ cuối bảng thời Tống. Quả nhiên cô không qua được kỳ thi. Ở một quẻ khác, hào Quan vượng trì Thế bị Nhật thần xung nên ám động, lại hợp cùng các hào động trong quẻ thành một cục Tài sinh Thế, kết quả thi đỗ rất cao. Có người hào Thế động hóa ra Quan tinh, được Nhật, Nguyệt sinh hợp, đỗ ngay đầu khoa thi Hội. Tăng San Bốc Dịch đọc thi Hương, thi Hội qua vượng suy của hào Phụ Mẫu và Quan Quỷ, cộng thêm Lục hợp, Lục xung, Tiến thần, Thoái thần và Thái Tuế. Sao một hào Quan hóa ra, có người bước lên bảng vàng, có người lại gặp họa sát thân?
Vượng Suy Của Hào Phụ, Hào Quan Và Vai Trò Của Huynh Đệ
Phụ vượng Quan hưng, danh tiêu hổ bảng;
Phụ vượng, Quan hưng, đề danh bảng hổ;
Nếu được hào Phụ, hào Quan trì Thế mà vượng tướng, hoặc lâm Nhật Nguyệt, hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh phò, hoặc động mà hóa cát, ắt được ghi danh bảng vàng.
Tử dao Tài động, danh lạc Tôn Sơn.
Chú thích: Tôn Sơn là người thi đỗ cuối bảng ở thời Tống. Khi thi đỗ về làng, có người hỏi: "Người cùng thi với anh ra sao?". Tôn Sơn đáp: "Tên cuối bảng là tôi, anh ta không có tên trong bảng vàng" nghĩa là anh ta thi trượt.
Tử động, Tài động, tên xếp dưới Tôn Sơn.
Nếu hào Tử Tôn hoặc hào Thê Tài trì Thế, hoặc động trong quẻ, là tượng thi rớt.
Tân bình thích: Ví dụ, ngày Canh Thân tháng Hợi, nữ đoán thi nghiên cứu sinh ra sao? Được Hỏa Sơn Lữ biến Thủy Sơn Kiển.


Quẻ này Quan Quỷ tuy được Nguyệt phù Nhật sinh, nhưng không nên Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn Tài trong quẻ phát động, Phụ Mẫu Mão mộc tuyệt ở Nhật, bị khắc ở hào Ứng, nhập Mộ ở Tử Tôn Mùi thổ, đoán người này rất khó thi đậu, quả nhiên ứng nghiệm.
Huynh Đệ nãi đoạt tiêu chi ác khách.
Huynh Đệ là ác thần đoạt mất công danh.
Theo sách xưa, nếu hào Huynh Đệ động thì khó đề danh bảng vàng. Nếu gặp hào Huynh Đệ trì Thế, hào Huynh động, đều cho là không tốt. Nói như vậy là không biết phân biệt các trường hợp hỷ và kỵ.
Khi trong quẻ hào Phụ và hào Tài cùng động, gặp hào Huynh động để ức chế Tài là tốt. Nếu trong quẻ hai hào Quan, Phụ đều động, được hào Huynh trì Thế là tốt, vì Phụ động sinh Thế. Nếu hào Huynh Đệ trì Thế, được lại lâm Nhật, Nguyệt, hoặc vượng tướng, lại thêm hai hào Quan, Phụ đều vượng, hoặc hào Quan động sinh Phụ, hoặc hào Phụ động sinh Thế, là tượng đỗ đạt, nhưng không được đỗ đầu mà thôi. Nên mới nói "Huynh Đệ là ác thần đoạt mất công danh"!
Giác Tử bàn rằng: Nếu trong quẻ Quan Quỷ, Tử Tôn cùng động, hào Quan vượng tướng được sinh phò, Tử Tôn suy nhược bị khắc, thì nên gặp Phụ động, kỵ gặp Huynh động.
Nhật Nguyệt vi chế sát chi tướng quân.
Nhật Nguyệt là tướng quân chế ngự ác sát.
Trong ba hào Quan Quỷ, Phụ Mẫu, hào Thế, nếu có một hào bị hào động khắc chế, hoặc động mà hóa hồi đầu khắc, nếu được Nhật thần, Nguyệt kiến xung chế Kỵ thần, thì kết quả cũng được như ý. Cho nên gọi Nhật Nguyệt là tướng quân chế ngự ác sát.
Lại như hào Thế vượng tướng, mà một trong hai hào Quan hoặc Phụ phục tàng không xuất hiện, nếu được Nhật, Nguyệt xung chế Phi thần, khiến Phục thần hiển lộ, cũng chủ về đỗ đạt cao.
Nếu trong ba hào Quan, Phụ, Thế có một hào không vượng, mà được Nhật, Nguyệt sinh phò, cũng đoán như vậy.
Nhật Nguyệt Chế Sát, Tam Hợp Và Sáu Hào Đều Động
Ngoài vượng suy gốc, tượng quẻ còn xoay chuyển theo thế lực bên ngoài đến cứu ứng hay phá hoại.
Tam hợp vô xung, định đăng giáp đệ;
Tam hợp không xung, liền khoa đỗ đạt;
Nếu hào Quan, hào Phụ, và hào Thế hợp thành Phụ cục hoặc Quan cục, không bị Nhật Nguyệt xung phá, chủ về thi đậu liên tiếp. Nếu hợp thành Huynh cục, được Nhật Nguyệt sinh phò, mà Quan tinh vượng, cũng là tượng đỗ đạt đắc ý. Duy chỉ kỵ hợp thành Tử Tôn cục là không tốt. Nếu hợp thành Tài cục tuy không hoàn mỹ, nhưng cũng có thể đoán là tốt.
Ví dụ: Ngày Giáp Thân tháng Mão, xem về thi Hội, được quẻ Cấn biến Ích:


Hào Quan Dần mộc vượng trì Thế, được Nhật thần Thân tương xung nên ám động. Nhật thần hợp với hào động trong quẻ tạo thành Tài cục Thân Tý Thìn thuộc thủy, không những không khắc Thế, mà còn sinh Thế, chủ đỗ đạt cao. Sau quả nhiên thi đỗ.
Lục hào cánh phát, không phó khoa trường.
Sáu hào đều động, dự thi vô ích.
Theo phép xem xưa, cho rằng nếu sáu hào đều động, chủ về công danh lận đận khó thành. Lý luận này là hợp lý.
Ta thấy rằng khi xem về thi cử, nếu là điềm chắc chắn đỗ, trong quẻ sẽ hiện Phụ vượng sinh Thế, hoặc Quan vượng trì Thế. Nếu là điềm không đậu, công danh không toại nguyện, sẽ hiện Tử Tôn trì Thế, hoặc hào Tử, hào Tài phát động, hoặc hào Thế gặp Không, Phá, hoặc sáu hào động loạn.
Xuất hiện vô tình, nan toại thanh vân chi chí;
Hiện mà vô tình, đường mây khó lòng thỏa chí;
Nếu hào Phụ, hào Quan đều xuất hiện, nhưng không sinh hợp hào Thế, hoặc không trì Thế, hoặc hào Thế bị Không, Phá thì cũng vô ích.
Hào Phụ và hào Quan sinh hợp hào Thế, nhưng nếu bị Nhật, Nguyệt, hào động xung khắc, cũng là tượng vô tình.
Phục tàng hữu dụng, chung từ bạch ốc chi nhân.
Phục mà hữu dụng, có ngày thoát kiếp hàn nho.
Nếu hào Quan hoặc hào Phụ không hiện trong quẻ, phải tìm Phục thần. Nếu Phục thần vượng tướng, được Nhật, Nguyệt xung mất Phi thần, tương sinh Phục thần, chắc chắn sẽ thi đậu.
Thái Tuế tác Quan tinh, chung đăng hoàng giáp.
Thái Tuế làm Quan tinh, được ngôi hoàng giáp.
Thái Tuế là chỉ nhà vua. Hào Quan lâm Thái Tuế, động mà sinh hợp hào Thế, là tượng bầy tôi diện kiến nhà vua, chủ về vua tôi hòa hợp, là điềm đỗ đạt cao.
Nếu Thái Tuế nhập quẻ, mà ở hào động hoặc trì Thế, mới được đoán như vậy.
Tân bình thích: Xưa có thi đình, vua tự tay chấm trạng nguyên, Thái Tuế đại diện cho vua, cho nên mới có lý luận này, thời nay thì không còn chế độ đó, vì vậy cần phải luận linh hoạt, không thể nhận định máy móc theo kiểu cũ.
Nhật Nguyệt xung khắc Thế, thả thủ thanh đăng.
Nhật Nguyệt xung khắc Thế, giữ phận học trò.
Trong quẻ hào Quan, hào Phụ vượng nhưng Thế hưu tù, Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hoặc động biến hung, hoặc Nhật, Nguyệt xung khắc hào Thế, thì nên hiểu rằng, cầu danh phải xem thân mình, thân Thế đã thất hãm, thì dựa vào đâu mà cầu danh.
Lục Xung, Lục Hợp Và Phục Thần Ẩn Trong Quẻ
Một tầng khác của lá số nằm ở cách các hào xung hợp lẫn nhau, và cả những gì không hiện lộ trên mặt quẻ.
Quái ngộ Lục xung, thử khứ nan đề nhạn tháp; hào phùng Lục hợp, giá hồi khả đoạt ngao đầu.
Quẻ gặp Lục xung, khó được ghi danh tháp nhạn. Hào gặp Lục hợp, chắc rằng được đậu ngôi đầu.
Chú thích: Tháp nhạn: Tháp đề danh những người đậu Tiến sĩ.
Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Ngọ, xem về thi Hương, được quẻ Đoài:

Chú thích trong sách xưa cho rằng: Quẻ gặp Lục xung, gặp xung thì tán. Ta thấy quẻ này tuy là Lục xung, nhưng hào Thế vượng, nên chưa dám quyết đoán.
Bảo người xem lại, được quẻ Lâm biến Sư:


Quẻ này Quan tinh trì Thế, tuy không được vượng, nhưng hào sơ Phụ được Quan sinh nên văn vượng, hợp với quẻ trước, là chủ về đỗ đạt. Sau quả nhiên được thành danh.
Phàm gặp quẻ Lục xung mà hào Quan, hào Phụ, hào Thế đều vượng, không cần phải xem thêm, có thể đoán ngay là đỗ đạt. Còn nếu không vượng, cần xem thêm một quẻ, nếu gặp quẻ cát thì thuận lợi, nếu gặp quẻ hung sẽ không tốt.
Khi gặp quẻ Lục hợp, cũng cần hào Quan, hào Phụ, hào Thế đắc địa. Nếu có một hào thất hãm, không được sinh phò, thì có là Lục hợp cũng vô ích.
Phụ vượng Quan suy, chung tu hạ đệ;
Phụ vượng Quan suy, bài thi kém cỏi;
Hào Phụ vượng tướng mà hào Quan gặp Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hoặc động hóa hung, hóa Khắc, tuy văn chương có xuất sắc, cũng không được đỗ đạt.
Phụ suy Quan vượng, kham hứa đăng khoa.
Phụ suy Quan vượng, vẫn được đăng khoa.
Thế Ứng Tương Sinh, Hóa Quan Hóa Khắc Và Thời Điểm Đỗ Đạt
Khi Thế và Ứng, hai vai chính của quẻ, bắt đầu tương tác trực tiếp, thời điểm đỗ đạt mới thật sự lộ rõ.
Hào Quan vượng sinh Thế, trì Thế, mà hào Phụ không vượng, là tượng phúc cao, tuy văn không giỏi nhưng vẫn được toại nguyện.
Ứng hợp Nhật sinh, tất tư ngạc tiến;
Hào Ứng hợp, Nhật thần sinh, ắt nhờ tiến cử;
Quan Phụ đều vượng mà hào Thế không vượng, hoặc được Nhật, Nguyệt phò trợ, hoặc Ứng động mà sinh hợp tức nhờ được sức nâng đỡ tiến cử.
Động thương nhật khắc, hoàn thủ kê song.
Động tổn thương, Nhật thần khắc, vẫn phận học trò.
Hào Ứng, hào động tuy sinh hợp hào Thế, nhưng hào Ứng và hào động lại bị Nhật, Nguyệt xung khắc, có được tiến cử cũng vô ích.
Thế động hóa Quan hóa Khắc, điệp mộng kham ưu;
Thế động hóa Quan, hóa Khắc, mơ mộng hão huyền;
Sách xưa có câu: "Thân, Quan hóa Quỷ được Nguyệt kiến phò trợ, thẳng bước lên cung quế"; hoặc "Thân động biến Quỷ, thi sẽ thành danh".
Lại có câu: "Thân động hóa Không, Dụng thần vượng, thành danh chỉ là giấc mộng".
Phép xưa đều dùng Quái thân để đoán, ta thử qua không thấy ứng nghiệm, chỉ nghiệm với hào Thế. Nếu hào Thế hóa Quỷ, cũng có ứng nghiệm.
Nếu trong quẻ hào Phụ vượng tướng, hào Thế hóa Quan tinh, nếu không hồi đầu khắc Thế, là tượng biến thành quan, chắc chắn sẽ đậu ngay khoa này.
Nếu hào Thế hưu tù, bị khắc, động hóa Quan, là tượng hóa Quỷ, không những thi trượt, mà còn có tai họa. Nếu hóa hào Quỷ khắc Thế, lại càng hung.
Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Mão, xem về thi Hương, được quẻ Ly biến Ký Tế:


Sách xưa chú thích: "Thân Quan hóa Quỷ, Nguyệt kiến phù trợ, thẳng bước lên cung quế", tức quái thân tại Quan, ắt được thành đạt. Nếu xuất hiện và phát động, hóa thành hào Quan, lại được Nguyệt kiến sinh hợp, chủ về thi đỗ liên khoa.
Giác Tử bàn rằng: Quẻ này Tị hỏa là quái thân, lại là hào Thế, biến thành Quan tinh Tý thủy, được Nguyệt kiến tương sinh tương hợp, chính là hợp với câu trên. Nhưng lại không thấy thi đậu liên tiếp, mà hơn nữa, còn khó bảo toàn được tính mạng. Nguyên nhân là do hào Thế hóa Quỷ Tý thủy hồi đầu khắc, là tượng chết nửa đường.
Ví dụ: Ngày Đinh Tị tháng Dậu, xem về thi Hương, được quẻ Tiểu Quá biến Thái:


Hào Thế Ngọ hỏa là Quan tinh, hóa Sửu thổ Phụ Mẫu là văn chương, Quan và Văn đều vượng, nhưng Sửu Phụ gặp Tuần Không, nên đến kỳ thi Hương năm Ngọ sẽ được toại nguyện, đến năm Sửu thì đề danh Tiến sĩ.
Tiến Thần, Thoái Thần Và Những Điều Kỵ Cuối Chương
Chặng cuối của phép xem thi Hương, thi Hội quay về với quy luật tiến lùi của hào động, cùng vài điều cấm kỵ riêng.
Giác Tử bàn rằng: Nếu cho rằng "Thế động hóa Không, Dụng thần vượng, thành danh chỉ là giấc mộng", quẻ này chẳng phải là hào Thế động hóa Không ư? Năm Ngọ thi đậu Cử nhân, năm Sửu đậu Tiến sĩ, đâu phải là giấc mộng? Bởi vậy, hóa Không sẽ đợi đến năm thực Không (ở đây là năm Ngọ) sẽ ứng nghiệm.
Thân hưng hóa vượng hóa sinh, long trì biến hóa.
Thân động hóa vượng, hóa sinh, triều đình thăng tiến.
Hào Thế vượng tướng, động mà biến Quan tinh, hồi đầu sinh hợp hào Thế, thì không phải là biến Quỷ, mà là biến Quan.
Ví dụ: Ngày Ất Mùi tháng Mão, xem về thi Hội, được quẻ Quan biến Lý:


Hào Phụ Mẫu Mùi thổ trì Thế, lâm Nhật thần, động hóa Ngọ hỏa Quan tinh hồi đầu sinh Thế. Hào 2 Tị hỏa lại tương sinh hào Thế; hào sơ Mùi thổ động đến trợ giúp, ắt sẽ đỗ đạt cao. Sau quả nhiên đỗ đầu thi Hội.
Thế thoái, Quan tinh hóa thoái, song hạ nang huỳnh;
Thế hóa Thoái, Quan hóa Thoái, bên song đom đóm học bài;
Hào Thế, hào Quan và hào Phụ đều vượng, trong đó có một hào hóa Tiến thần, là tượng đỗ cao. Nếu xem về thi Hương, chắc chắn sẽ đỗ.
Kỵ nhất là hóa Thoái thần, vượng mà hóa Thoái thần, nếu không phải gặp trở ngại khi đến trường thi, cũng là không hăng hái đi thi. Hào Phụ hóa Thoái thần, nghiệp học sa sút, văn chương ngày càng kém. Hào Quan hóa Thoái thần, đến lúc đầu bạc cũng không thi đậu. Có thể tham khảo chương Tiến thần.
Tài lâm Bạch Hổ trì Thân, vi tiền chẩm khối.
Tài trì Thế lâm Bạch Hổ, trước màn chịu tang cha mẹ.
Sách xưa cho rằng, hào Tài lâm Bạch Hổ sẽ có tang cha mẹ. Nhưng không chỉ lâm Bạch Hổ, mà nếu hào Tài trì Thế, hoặc động trong quẻ, hào Phụ Mẫu hưu tù, Không, Phá, hoặc hào Tài động hóa Phụ, Phụ động hóa Tài, đều ứng nghiệm.
Tân bình thích: Ngày xưa cha mẹ qua đời thì phải chịu tang ba năm, không thể tham gia thi cử, do đó mới có thuyết này, thời nay thì không cần câu nệ. Nhưng dùng trong phán đoán lưu niên vẫn còn hữu dụng.
Càn quái như thiên, diệc yếu Quan, Phụ lưỡng vượng; lôi thanh như Chấn, do hữu Không, Phá chi hiềm.
Quẻ Càn như trời, cũng cần Quan, Phụ đều vượng; quẻ Chấn như sấm, cũng phải dè chừng Phá, Không.
Phép xem xưa cho rằng, quẻ Càn và quẻ Chấn là tốt, theo kinh nghiệm của ta, còn cần hai hào Quan, Phụ đều vượng, mới đoán là tốt, nếu không chưa chắc đã như ý.
Suy vượng khắc xung, khinh trọng tu nghi tế ngoạn; Mộ Tuyệt Không Phá, ứng kỳ chương nội tường chi.
Suy, vượng, khắc, xung, nặng nhẹ đều nên cân nhắc; Mộ, Tuyệt, Không, Phá, xem kỹ trong chương "Ứng kỳ".
Cần ghi nhớ nội dung chương "Ứng kỳ" phía trước, vì xem về bất kỳ điều gì, cũng đều hỏi đến thời gian ứng nghiệm. Có thành thạo, việc suy đoán mới được nhanh chóng, chính xác.
Còn về Dụng thần, suy cần có gốc, vượng nên trung hòa, khắc cần được cứu, xung cần gặp hợp.
Chú thích: Thi Hương, thi Hội là chế độ thi cử của đời Minh, Thanh, được tổ chức ba năm một lần trong tỉnh thành, nếu thi đỗ, sẽ trở thành Cử nhân.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
