Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Phi Thần Và Phục Thần: Tìm Dụng Thần Ẩn Tàng Khi Không Hiện Trên Quẻ

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch18/09/202621 phút đọc4 lượt đọc
Phi Thần Và Phục Thần: Tìm Dụng Thần Ẩn Tàng Khi Không Hiện Trên Quẻ

Thầy thuốc ngồi đầy nhà, người con gieo quẻ hỏi bệnh cha, được quẻ Địa Lôi Phục. Hào Phụ Mẫu Tị hỏa không hiện, phục dưới hào Dần mộc đang vượng, Phi đến sinh Phục, đúng ra là điềm khỏi bệnh. Dã Hạc lão nhân chưa tin, bảo xem lại, hôm sau xem nữa. Đến quẻ Tiệm biến Tốn thì hào Phụ hóa Hợi thủy hồi đầu khắc. Bệnh lui ít lâu, sang tháng Hợi thì mất. Dụng thần vắng mặt phải tìm ở quẻ đầu bản cung: hào che bên trên là Phi thần, hào nấp bên dưới là Phục thần. Sáu trường hợp Phục thần hữu dụng, năm trường hợp có cũng như không. Còn khi Nhật thần đã là Tài tinh, vì sao Vương Hồng Ứng vẫn tìm hào Thê Tài phục tàng mới đoán trúng hai lần lỡ dở của một người đàn ông?


Phi thần, Phục thần: tìm Dụng thần ở quẻ đầu của bản cung

Trong trường hợp Dụng thần không hiển hiện trong quẻ, thì lấy Nhật thần hoặc Nguyệt kiến làm Dụng thần. Nếu Nhật, Nguyệt không phải là Dụng thần, thì phải tìm ở quẻ đầu tiên trong bản cung, là vì quẻ đầu tiên của mỗi cung đều đầy đủ lục thân Phụ, Tử, Quan, Tài.

Ví dụ: Xem được quẻ Thiên Phong Cấu:

Quẻ Thiên Phong Cấu

Xem về thê thiếp, của cải, thì lấy hào Thê Tài làm Dụng thần, quẻ Cấu thuộc cung Càn, nên lấy Dần, Mão mộc làm Thê Tài. Nhưng trong sáu hào đều không xuất hiện Dần, Mão, tức Dụng thần không hiện trong quẻ. Nếu như xem vào ngày hoặc tháng Dần, Mão, thì lấy Nhật thần hoặc Nguyệt kiến làm Dụng thần. Nếu như ngày xem không phải là Dần, Mão, cần phải tìm trong quẻ Càn Vi Thiên đứng đầu cung Càn.

Quẻ Càn Vi Thiên đứng đầu cung Càn:

Quẻ Càn Vi Thiên

Trong quẻ này, Thê Tài Dần mộc nằm tại hào 2, như vậy có nghĩa là Dần mộc phục ở dưới hào Tý thủy trong quẻ Cấu. Khi đó, hào 2 Hợi thủy trong quẻ Cấu được gọi là Phi thần, Dần mộc là Thê Tài, được gọi là Phục thần. Hợi thủy sinh Dần mộc, nên được gọi là Phi đến sinh Phục được Trường Sinh. Trường hợp này là Dụng thần không hiển hiện, tìm được Phục thần lại được sinh phò, vô dụng cũng thành hữu dụng, nên đây là quẻ tốt. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đây.

Lại ví dụ: Xem được quẻ Thiên Sơn Độn:

Quẻ Thiên Sơn Độn

Xem về con cháu, lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần. Quẻ Độn thuộc cung Càn, nên thủy là Tử Tôn. Nhưng trong sáu hào không xuất hiện Hợi, Tý thủy, có nghĩa là hào Tử Tôn không hiển hiện. Nếu như xem vào ngày hoặc tháng Hợi, Tý, thì lấy Nhật thần hoặc Nguyệt kiến làm Dụng thần. Nhưng nếu như ngày xem không phải là ngày, tháng Hợi, Tý, thì cũng phải tìm tại quẻ đầu là Càn Vi Thiên. Trong quẻ Càn Vi Thiên, hào sơ là Tý thủy Tử Tôn, phục ở phía dưới hào sơ Thìn thổ của quẻ Độn, Thìn thổ là Phi thần, còn Tý thủy là Phục thần. Trong trường hợp này, Phi đến khắc Phục, Phi khắc Phục sẽ gặp tổn hại, tức Phục thần chịu ức chế, hữu dụng cũng thành ra vô dụng, là điềm hung. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đó.

Dụng thần lâm Nhật Nguyệt vẫn phải tìm phục tàng: quẻ Lý biến Đại Hữu

Phép xưa dừng ở Nhật thần, Nguyệt kiến, nhưng chính hào ẩn mới giữ ứng kỳ và tượng của sự việc.

Tân bình thích: Lý lẽ này không đúng, ở đây Tử Tôn tuy phục, nhưng nếu được Nhật Nguyệt là kim tới sinh, thì cũng là hữu dụng, không thể suy ra là hung. Ngũ hành Nhật Nguyệt và Dụng thần nhất trí, vẫn phải tìm Dụng thần phục tàng, phục tàng liên quan đến ứng kỳ của Dụng thần, đôi khi quan hệ giữa Phi thần và Phục thần có rất nhiều tượng, có thể sử dụng quan hệ Phi Phục để đoán ra rất nhiều sự việc, vì vậy khi Dụng thần không hiện trên quẻ nhất định phải tìm phục tàng.

Ví dụ: Ngày Quý Hợi tháng Đinh Mùi năm Đinh Mùi, một người nam sinh năm Canh Tý đoán hôn nhân, được quẻ Thiên Trạch Lý biến Hỏa Thiên Đại Hữu.

Quẻ Thiên Trạch Lý
Quẻ biến Hỏa Thiên Đại Hữu

Theo phương pháp của Dã Hạc, trong quẻ không có Thê Tài, Nhật thần là Tài tinh, khỏi cần tìm phục, lấy Nhật thần Hợi thủy làm Dụng. Trong quẻ Huynh Đệ Sửu thổ mặc dù động mà hóa tiến, nhưng Sửu thổ Nguyệt phá, lại gặp Không vong, vô lực khắc Dụng, trong khi Nhật là Dụng thần, sách nói: "Hào gây tổn thương đến Nhật Nguyệt, chỉ là nói suông", Sửu thổ không thể khắc Nhật, hôn nhân phải đoán là cát. Nhưng không khớp với thực tế.

Theo phương pháp của tôi, quẻ không có Thê Tài thì tìm phục tàng. Thê Tài Tý thủy phục tại hào 5, Thê Tài Tý thủy chính là Dụng thần. Dụng thần được Nhật thần trợ giúp, lại được hào Thế phát động tới sinh là vượng. Phục thần là Tý thủy, phục tàng ứng xuất hiện, năm Giáp Tý người này tròn 24 tuổi, chính là độ tuổi lập gia đình, đoán là kết hôn vào năm Giáp Tý. Bởi vì Huynh Đệ Sửu thổ động mà khắc Dụng thần, tuy nhiên Không Phá, năm Ất Sửu thực Không thực Phá, Nguyên thần Tử Tôn nhập Mộ không thể sinh Dụng thần, đoán là năm này đã phát sinh mâu thuẫn với vợ. Hào Thế sinh Dụng thần, anh ta rất yêu vợ. Năm Bính Dần xung mất Nguyên thần, bản thân cũng mất đi ái ý với vợ, tình cảm rạn nứt. Sửu thổ Huynh Đệ đối với Dụng thần trong khắc có hợp, vợ bị người ta cướp đi. Năm Bính Tý Dụng thần lại là phục tàng gặp xuất hiện, lại có bạn gái. Năm Đinh Sửu Huynh Đệ cũng lại xuất Không thực Phá, Nguyệt kiến khắc Dụng, khi dự đoán là lúc quan hệ hai người đang căng thẳng, mâu thuẫn chồng chất. Phụ Mẫu Tị hỏa lâm Huyền Vũ ám động, tương hợp với hào Thế, hai người đã ở chung. Tôi đoán tháng Sửu thế nào cũng chia tay. Kết quả đúng như vậy.

Từ ví dụ này có thể thấy, Dụng thần lâm Nhật Nguyệt vẫn cần phải tìm phục tàng. Vợ anh ta và bạn gái năm Bính Tý đều là bị người ta cướp đi, đây chính là ứng nghiệm Huynh Đệ Sửu thổ hợp Dụng thần Tý thủy, nếu lấy Nhật thần Hợi thủy làm Dụng thì đã không có ý nghĩa này. Hai cơ hội hôn nhân của anh ta đều ứng tại năm Tý, điều này cũng có quan hệ rất lớn với Phục thần.

Sáu trường hợp Phục thần hữu dụng: quẻ Trung Phu biến Bí

Ẩn mà dùng được hay không, trước hết tùy ở thế mạnh yếu giữa hào che và hào nấp.

Phục thần hữu dụng trong sáu trường hợp sau:

Thứ nhất, Phục thần được Nhật thần hay Nguyệt kiến tương sinh.

Thứ hai, Phục thần vượng tướng.

Thứ ba, Phục thần được Phi thần tương sinh.

Thứ tư, Phục thần được hào động tương sinh.

Thứ năm, Phi thần bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động xung khắc.

Thứ sáu, Phi thần hưu tù, gặp Không, Phá, Mộ, Tuyệt.

"Hoàng kim sách" có viết: "Phục thần dưới hào Không, xuất lộ dễ dàng", quan điểm này khá hợp lý, nhưng không chỉ khi Phi thần Không Vong, Phục thần mới được xuất hiện, mà khi Phi thần gặp Phá, gặp Tuyệt, hay hưu tù, nhập Mộ, thì Phục thần đều có thể xuất hiện dễ dàng. Tại sao lại như vậy? Vì Phục thần ở bên dưới, Phi thần ở bên trên; nếu Phi thần gặp Phá, gặp Mộ, gặp suy, gặp Không, thì tuy có cũng như không, khi đó, Phục thần sẽ dễ dàng xuất hiện.

Tân bình thích: Thuyết này ứng nghiệm. Thường gặp Dụng thần phục tàng, Nhật Nguyệt đều khắc Dụng thần, Phi thần Không Vong đa số ứng việc cát. Tuy nhiên, Phi thần là Nguyên thần thì không nên Không Phá.

Ví dụ: Ngày Ất Mùi tháng Sửu, một người nam có quan hệ ám muội với người phụ nữ khác bị vợ phát hiện, vợ tức giận bỏ đi, qua điện thoại đoán khi nào vợ trở về, có ly hôn không? Tôi gieo được quẻ Phong Trạch Trung Phu biến Sơn Hỏa Bí.

Quẻ Phong Trạch Trung Phu
Quẻ biến Sơn Hỏa Bí

Lấy Thê Tài làm Dụng thần. Thê Tài trong quẻ không hiện, phục dưới hào 5, Nhật Nguyệt đều khắc Dụng thần, Phi thần Tuyệt, hào động Sửu thổ khắc, lại là Kỵ thần trì Thế, theo lý luận của sách cổ thì Thế khắc Dụng thần người không về. Mặc dù lý là như vậy, nhưng khi đoán quẻ cần linh hoạt. Phi thần Không Vong, Phục thần dưới Không dễ dàng xuất lộ, hào 3 tuy là Kỵ thần phát động, nhưng động hóa Thê Tài, hào 3 là cửa, cửa động hóa Thê Tài, nhất định vợ sẽ về nhà. Tôi đoán ngày hôm sau, Thê Tài gặp Trường Sinh, vợ anh ta nhất định trở về, quẻ biến lục hợp, sẽ không ly hôn.

Quả nhiên ngày hôm sau vợ anh ta quay về, cũng không đề xuất ly hôn.

Đây chính là chỗ tuyệt diệu của Phi thần Không Vong, và nó cũng có thể giúp khuyên can lý luận Phục thần ở dưới không thể xuất hiện. Phi thần Tuyệt, Nhật Nguyệt khắc, hào động cũng khắc, nhưng không gặp hung, chẳng phải là lý pháp không đúng, mà là chỗ vi diệu của quẻ người bình thường khó mà nắm bắt được.

Trong sáu trường hợp trên, Phục thần đều là hữu dụng, tuy không hiển hiện, cũng coi như xuất hiện.

Năm trường hợp Phục thần không hiển hiện: quẻ Bí, Kiển, Thăng

Có lúc hào ẩn thoát ra dễ dàng, cũng có lúc nó bị đè nén đến mức có cũng như không.

Phục thần không hiển hiện trong năm trường hợp sau:

Thứ nhất, Phục thần hưu tù, vô khí.

Thứ hai, Phục thần bị Nhật, Nguyệt xung khắc.

Thứ ba, Phục thần bị Phi thần vượng tướng khắc hại.

Thứ tư, Phục thần gặp Mộ, Tuyệt tại hào Phi thần, Nhật thần, Nguyệt kiến.

Thứ năm, Phục thần hưu tù gặp Tuần Không, Nguyệt phá.

Trong năm trường hợp trên, Phục thần trở nên vô dụng, tuy có cũng như không, không thể xuất hiện.

Trong "Hoàng kim sách" có viết: "Phục gặp Tuần Không, việc không như ý", nhưng ta nghiệm thấy rằng quan điểm này không đúng. Nếu như Dụng thần vượng tướng gặp phải Tuần Không, đợi ngày xuất Không vẫn sẽ được xuất hiện.

Ví dụ: Ngày Nhâm Thìn tháng Mão, xem ngày nào nhận được văn thư, được quẻ Sơn Hỏa Bí:

Quẻ Sơn Hỏa Bí

Cần lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần. Quẻ này thuộc cung Cấn, nên Ngọ hỏa là Phụ Mẫu. Sáu hào của quẻ Bí không xuất hiện Ngọ hỏa, nên căn cứ vào quẻ Cấn Vi Sơn đứng đầu cung Cấn để tìm Ngọ hỏa Phụ Mẫu, phục ở dưới hào 2 Sửu thổ. Do đó, Sửu thổ là Phi thần, Ngọ hỏa là Phục thần. Tuy Sửu thổ hưu tù tại tháng Mão, nhưng Phục thần gặp Tuần Không, bị chèn ép mà khó xuất hiện. Đoán vào ngày Giáp Ngọ, xuất Không sẽ nhận được. Quả nhiên đến ngày Giáp Ngọ nhận được văn thư.

Ví dụ: Ngày Đinh Tị tháng Thìn, xem nô bộc bỏ trốn, được quẻ Thủy Sơn Kiển:

Quẻ Thủy Sơn Kiển

Xem về nô bộc, lấy hào Tài làm Dụng thần. Quẻ này thuộc cung Đoài, nên Mão mộc làm hào Tài, không thấy xuất hiện trong sáu hào, nên cần tìm trong quẻ Đoài Vi Trạch đứng đầu cung Đoài.

Quẻ Đoài Vi Trạch

Hào 2 là Mão mộc, phục ở phía dưới hào 2 Ngọ hỏa của quẻ Kiển. Ngọ hỏa là Phi thần, Mão mộc là Phục thần. Ta bèn đoán rằng: Quẻ Kiển có hào Thân kim trì Thế, khắc chế Mão mộc, kẻ bỏ trốn rút cục cũng không trốn thoát. Nhưng vì Mão mộc phục dưới Ngọ hỏa, là Phục đi sinh Phi, như vậy là hao khí, những của cải bị người làm lấy trộm đi sẽ hao tán hết tại nhà lò rèn, đoán là đến ngày Giáp Tý sẽ lấy bắt được. Quả nhiên vào ngày Tý nhận được tin, người làm mang đồ ăn trộm đến đánh bạc tại nhà thợ rèn, đến giờ Thân bắt được, giải cùng với thợ rèn lên quan. Sở dĩ ứng nghiệm vào ngày Tý, vì Tý thủy xung khắc Phi thần Ngọ hỏa, sinh khởi Phục thần Mão mộc.

"Hoàng kim sách" viết: "Phục không nâng đỡ thành vô ích; Phi chẳng xung khai cũng uổng công", cũng là mang nghĩa này.

Ta ngờ rằng Phi thần Ngọ hỏa tức chỉ nhà lò rèn, Phục thần là Mão mộc chỉ người làm bỏ trốn. Đến ngày Tý xung Ngọ hình Mão, nên hai người này sẽ đều bị phạt trượng.

Tân bình thích: Ở trên là quẻ tĩnh, hào vượng tướng có thể khắc hào hưu tù. Mão mộc là Dụng, bị khắc là có thể bắt được, vượng mà được sinh thì khó bắt. Trong quẻ Huynh Đệ Thân kim lưỡng hiện mà vượng, Phi thần khắc Thế, là người cản trở truy bắt bọn nô bộc bỏ trốn, quái cung là kim, hỏa ở cung kim, có thể ứng với thợ rèn. Ngày Tý xung mất Phi thần, Ngọ hỏa không còn che dấu bọn nô bộc bỏ trốn nữa, ngày Tý ứng nghiệm sự việc là phù hợp với quái lý. Còn như nói ngày Tý sinh Mão là giải thích sai lầm, Tý hình Mão mới là giải thích đúng.

Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Dậu, xem về bệnh của con, được quẻ Thăng:

Quẻ Địa Phong Thăng

"Hoàng kim sách" viết: "Phục thần dưới hào Không, xuất lộ dễ dàng". Quẻ này Dụng thần Ngọ hỏa Tử Tôn phục ở phía dưới hào Sửu thổ, Sửu thổ gặp Tuần Không, nên Phục thần dễ xuất hiện, đoán rằng vào ngày Ngọ, hào Tử Tôn xuất hiện, bệnh sẽ khỏi. Sau quả nhiên đến ngày Ngọ khỏi bệnh.

Không dùng Phục thần mà xem nhiều quẻ: quẻ Phục, Tổn, Tiệm biến Tốn

Khi Dụng thần đã vắng lại còn suy tuyệt, Dã Hạc lão nhân chọn một lối khác hẳn việc lần tìm sang cung khác.

Nếu như xem được quẻ Càn Vi Thiên, nhưng Dụng thần gặp Không, Phá, suy, tuyệt, thì chuyển sang tìm tại cung Khôn, như vậy gọi là Càn Khôn hoán đổi qua lại. Sách "Dịch lâm bổ di" lại cho rằng tìm tại quẻ Quy hồn.

Dã Hạc lão nhân bàn rằng: Hà tất phải như vậy. Dụng thần gặp Không, Phá, suy, tuyệt, thì họa phúc đã biết đến tám chín phần, sao chẳng xem thêm một quẻ nữa, để kết hợp lại mà suy đoán, Dụng thần tự nhiên sẽ có. Ta thường không đợi đến khi Dụng thần suy, tuyệt, nếu như Dụng thần không hiện, tuy có Phục thần, cũng không dùng đến, mà xem thêm một, hai quẻ nữa, Dụng thần ắt sẽ hiện lên. Một hôm, đến một nhà nọ, thấy thầy thuốc ngồi đầy nhà.

Lúc ấy là ngày Bính Thìn tháng Mão, xem về bệnh của cha, được quẻ Địa Lôi Phục:

Quẻ Địa Lôi Phục

Dụng thần là hào Phụ Mẫu không hiện, tuy biết rằng hào Phụ Mẫu Tị hỏa phục dưới hào 2 Dần mộc, mộc tuy vượng mà sinh Tị hỏa, tức Phi đến sinh Phục, ắt là điềm khỏi bệnh. Nhưng ta không đoán theo đó, mà bảo người này xem lại, được quẻ Sơn Trạch Tổn:

Quẻ Sơn Trạch Tổn

Hào Tị hỏa Phụ Mẫu đã xuất hiện tại hào sơ, vì xem vào mùa xuân là lúc mộc vượng, hỏa tướng, nên đoán rằng bệnh sẽ khỏi. Nhưng vì bệnh tình của người cha rất nguy cấp, nên do dự chưa quyết đoán, bảo người con hôm sau xem lại, được quẻ Tiệm biến Tốn:

Quẻ Phong Sơn Tiệm
Quẻ biến Tốn Vi Phong

Ta nghi ngờ rằng: Hai quẻ trước điềm báo đều là khỏi bệnh, tại sao trong quẻ này hào Phụ Mẫu biến Hợi thủy hồi đầu khắc Phụ Mẫu? Sau ta ngộ ra rằng: Đúng vậy! Hai quẻ trước hào Tị hỏa Phụ Mẫu vượng, không bị thương khắc, nên ứng vào điềm trước mắt bệnh sẽ khỏi. Nhưng trong quẻ này Hợi thủy khắc Phụ, đến mùa đông số mệnh khó toàn. Bèn đến trước giường, bảo bệnh nhân tự xem. Quẻ xem được cũng giống với quẻ trước. Lại mời vợ người đó xem, cũng được quẻ tương tự.

Ta thấy được liền ba quẻ này, vô cùng kinh sợ, thần linh là có thực ư? Không thực ư? Con xem về bệnh của người cha, gặp hào Hợi thủy hồi đầu khắc. Người cha tự xem về bệnh của mình, gặp hào Hợi thủy khắc Thế. Vợ xem về bệnh chồng, gặp hào Hợi thủy khắc chồng. Ba quẻ tương tự nhau, tựa như do một bàn tay sắp xếp ra. Đều chủ về mùa đông bệnh tình nguy cấp, có gặp thần y cũng khó cứu.

Ta vẫn không tin, nên chỉ đoán là bệnh tình trước mắt sẽ thuyên giảm. Và hỏi các thầy thuốc rằng: "Điềm quẻ không đáng ngại, chẳng hay các vị cao kiến ra sao?" Đáp rằng: "Bệnh tình cực kỳ hiểm nghèo!" Trong đám có một người chỉ cười nhạt mà không nói. Ta hỏi ông ta họ gì, đáp là họ Thọ. Bèn hỏi riêng ông ta rằng: "Bệnh tình của người kia lành dữ ra sau?" Ông ta đáp: "Ta có thể chữa được, nhưng không chịu uống thuốc của ta, biết làm thế nào?" Ta bèn kín đáo dặn người con rằng: "Bệnh của ông cụ, phải được người họ Thọ chữa trị".

Sáng hôm sau thầy thuốc họ Thọ đến cảm tạ. Ta bèn hỏi bệnh tình sẽ ra sao? Ông ta đáp: "Trước mắt không có gì đáng ngại, nhưng đến mùa đông tính mạng khó toàn." Ta bèn nói: "Lời của ông rất phù hợp mới mệnh số, thực là thần y!"

Sau quả nhiên mất vào tháng Hợi.

Sở dĩ ta không dùng Phục thần, mà dùng cách xem nhiều quẻ nữa, vì như vậy, quyết đoán họa phúc sẽ chắc chắn hơn. Biết được trước mắt có thể sống, lại biết được ngày sau sẽ chết, như vậy chẳng phải là tác dụng của việc xem nhiều lần ư?

Tân bình thích: Nếu có nghi hoặc có thể xem lại một quẻ, nếu quái tượng rất rõ, tuy là phục tàng, sao phải đoán lại? Quẻ đầu tiên Dụng thần vượng tướng, là tượng khỏi bệnh, nhưng quẻ lục hợp, bệnh gần thì không nên. Gặp tháng xung tất hung. Quẻ thứ hai, Huynh Đệ Tuất thổ được Nguyệt hợp Nhật xung là ám động, Dụng thần nhập Mộ, cũng là trong cát tàng hung. Nhập Mộ gặp xung, cũng là ứng tháng 10 có hung.

Bệnh gần gặp hợp, gặp tháng xung: quẻ Thái biến Quy Muội

Dụng thần vượng chưa hẳn là yên, bởi tượng hợp và Mộ khố vẫn giấu điềm hung về sau.

Ví dụ: Ngày Đinh Sửu tháng Dậu, nữ xem bệnh đồng nghiệp, được quẻ Địa Thiên Thái biến Lôi Trạch Quy Muội.

Quẻ Địa Thiên Thái
Quẻ biến Lôi Trạch Quy Muội

Đoán bệnh đồng nghiệp thì lấy hào Ứng làm Dụng thần, hào Ứng nhập Mộ, tượng nhập viện, Dụng thần vượng tướng Tuần Không, bệnh gần không sao. Hào 4 Huynh Đệ Sửu thổ là Mộ khố của Dụng thần, lâm Bạch Hổ động mà hóa ra Phụ Mẫu Ngọ hỏa, quẻ tại cung Khôn, Khôn chủ dạ dày, hào 4 cũng chủ dạ dày, Bạch Hổ chủ máu, Phụ Mẫu chủ bệnh viện, là bởi vì xuất huyết dạ dày nhập viện, quẻ chính lục hợp bệnh gần không nên. Càng không nên Nguyên thần Huynh Đệ Thìn thổ động mà hóa thoái. Sau này tất thành bệnh mãn tính, cơ thể dần dần suy yếu. Cừu thần Quan Quỷ Dần mộc lâm Câu Trần ở hào 2, Dần mộc chủ gan mật, Câu Trần chủ sưng trướng, người đó có bệnh như gan to, xơ gan hoặc sỏi mật.

Tình hình ứng nghiệm: Đồng nghiệp của cô ấy phải nhập viện vì xuất huyết dạ dày, sau khi điều trị có chuyển biến tốt đã xuất viện, vào tháng Mão năm Đinh Sửu, bởi vì gan to mà chết. Ứng năm Sửu, là năm Dụng thần nhập Mộ và Nguyên thần hóa thoái. Ứng tháng Mão, là vì Dụng thần gặp tháng xung.

Đây cũng là Dụng thần vượng mà liền khỏi bệnh, bệnh gần gặp hợp, gặp tháng xung mà chết.

Lý Ngã Bình bàn về quẻ tương hỗ và can hóa trong sách Dịch mạo

Từ mật pháp xem nhiều quẻ, lời bàn quay sang những lối tìm Dụng thần khiên cưỡng của sách khác.

Lý Ngã Bình bàn rằng: Phép bói xưa sử dụng Phục thần, tuy có ứng nghiệm, nhưng sự suy vượng, hưu tù, hình xung, khắc hại, không phá của Dụng thần rất khó nắm bắt. Nên xem thêm một hai quẻ, Dụng thần tự nhiên sẽ xuất hiện. Đây thực là mật pháp.

Muốn đem phương pháp bí mật này truyền lại cho đời sau, thật nhân từ thay! Nhưng cũng có người hỏi, có thuyết cho rằng xem nhiều lần là khinh nhờn, nên không dám xem lại; nay lại bảo là nên xem nhiều lần, vậy thế nào là mật quyết. Ta nói rằng: Nếu Dụng thần không xuất hiện, phải tìm Phục thần. Nếu Phục thần vô dụng, thì tìm quẻ tương hỗ, nếu không được, lại tìm can hóa. Huống chi các quẻ ghi trong chương "Biến hỗ" sách "Dịch mạo" không những lý giải khiên cưỡng, mà còn sai lầm, chi bằng xem lại.

Ví dụ: Trong sách "Dịch mạo" có chép, vào ngày Mậu Thân, xem về bệnh của con, được quẻ Tấn biến Bác:

Quẻ Hỏa Địa Tấn
Quẻ biến Sơn Địa Bác

Trong sách đó đoán rằng: Phi Phục biến tượng, đều không có Dụng thần, nên lấy quẻ Thủy Địa Tỷ làm quẻ tương hỗ để đối chiếu. Quẻ ngoại là Khảm thủy, tức là Tử Tôn, được hào Dậu kim động mà tương sinh, sau đến ngày Hợi bệnh sẽ thuyên giảm. Nhưng theo suy đoán của ta, thì như sách "Hải để nhãn" có viết: Dụng thần phục, Nguyên thần động, xem về bệnh sẽ không chết. Trong quẻ này, không những Dụng thần động tại hào 4, mà còn được Nguyệt kiến tương sinh. Sách "Đại toàn" có viết: Dụng thần phục mà được Nhật, Nguyệt tương sinh sẽ xuất hiện. Trong quẻ này hào Tử Tôn Tý thủy phục tại hào sơ, tuy bị Phi thần đè nén, nhưng lại được Nhật thần sinh phò. Đến tháng mười, Hợi thủy đương lệnh, Tử Tôn xuất hiện mà được tương sinh, đã rất rõ ràng, tại sao còn phải tìm quẻ tương hỗ.

Lại chép, ngày Mậu Dần tháng Tý, xem về quan chức, được quẻ Khốn biến Đoài:

Quẻ Trạch Thủy Khốn
Quẻ biến Đoài Vi Trạch

Sách đó đoán rằng: Phi thần tại hào Quan Ngọ hỏa, gặp Nguyệt phá. Phục thần là Tị hỏa Quan Quỷ phục tại Dần, gặp Trường Sinh tại Dần, đến tháng mạnh xuân (tháng giêng) sẽ được thăng chức. Nhưng theo phương pháp suy đoán của ta, như "Hoàng kim sách" đã viết: Hào Phi và hào biến đều không có Dụng thần mới cần tìm Phục thần. Trong quẻ này, hào sơ là Dần mộc động biến thành Tị hỏa là Quan tinh. Tháng Dần thì Quan tinh gặp Trường Sinh. Trong quẻ đã có hào Tài động mà sinh Quan, tại sao không dùng hào biến Quan tinh, mà lại phải đi tìm Phục thần? Cũng may trong quẻ này, Phục thần và hào biến đều là Tị hỏa. Nếu người sau gặp quẻ khác, thì biết nên dùng hào biến hay Phục thần? Bởi vậy, không thể coi đây là phương pháp để lưu truyền hậu thế, dạy dỗ người sau.

Cách đoán quẻ trong chương "Can hóa" mới đáng nực cười.

Trong chương này có chép: Vào ngày Bính Tý tháng Bính Thân năm Tân Mão, xem về chuyện sống chết của con trai, được quẻ Quan biến Tụy:

Quẻ Phong Địa Quán
Quẻ biến Trạch Địa Tụy

Sách này đoán rằng: Hào thủy Tử Tôn không xuất hiện, nhưng gặp được tháng Bính năm Tân, Bính Tân hóa thành thủy, sau đến ngày Giáp Thìn năm Hợi, Thân, Tý, Thìn hợp thành thủy cục, đến ngày Hợi người con sẽ trở về.

Ta lại đoán rằng: Hào Thế Mùi thổ động sinh ra Hợi thủy Tử Tôn, tức tháng Hợi sẽ gặp được con, vì tháng Hợi cùng hào Thế, hào Tử Tôn là Hợi, Mão, Mùi hợp thành tam hợp cục, rõ ràng là điềm cha con gặp gỡ, sao lại phải căn cứ vào can hóa? Cho dù là Hợi thủy không xuất hiện trong quẻ, thì có thể lấy Nhật kiến Tý thủy làm Dụng thần. Bao nhiêu Dụng thần hiện lên không dùng, mà lại tùy tiện đi lấy can hóa, là gây nhầm lẫn cho người đời sau, thực Không phải là phương pháp để dạy người.

Tân bình thích: Hào Thế là người nhờ đoán, động hóa ra Tử Tôn, chính là tượng bản thân gặp con. Thường gặp Kỵ thần trì Thế hóa ra Dụng thần, Dụng thần vượng, lấy địa chi hào biến làm ứng kỳ.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch