Bài tổng quan
Thủy Hỏa Ký Tế: việc đã thành rồi mà vẫn phải lo, thịnh cực thì suy
Nồi nước đã đặt lên bếp lửa, nước sôi đúng lúc, việc lớn coi như xong. Nhưng chính khi yên ổn nhất, mầm loạn lại âm thầm nảy lên từ những hào cuối. Ba hào đầu tốt đẹp, ba hào sau càng đi càng nguy, vì sao...
Mục lục · 11 phần
- 01Ký Tế là đã thành: nước đặt trên lửa, danh lợi đủ cả mà phải lo lúc thịnh hóa suy
- 02Việc lớn đã xong thì làm nốt việc nhỏ, giữ được cái đã thành mới lợi
- 03Trời đất mở đầu, nước lửa kết thúc: vì sao Dịch chọn hai quẻ này để khép bộ kinh
- 04Lúc cùng mà ngừng thì loạn: nước lửa trong vũ trụ cũng là nước lửa trong thân người
- 05Dự báo cho quẻ Ký Tế: trước thuận buồm xuôi gió, sau suy vi
- 06Hào sơ cửu: kéo lết bánh xe, ướt đuôi con cáo nhưng chưa qua sông
- 07Hào lục nhị: người đàn bà mất tấm màn xe, chớ đuổi tìm, bảy ngày sẽ thấy
- 08Hào cửu tam: vua Cao Tông đánh Quỷ Phương ba năm mới thắng, đừng dùng kẻ tiểu nhân
- 09Hào lục tứ: thuyền thấm nước phải có giẻ trám, suốt ngày lưu ý
- 10Hào cửu ngũ: xóm đông giết trâu tế chẳng bằng xóm tây tế sơ sài mà được phúc thật
- 11Hào thượng lục: nước ngập cả đầu, tài đủ lo cho đời nhưng nguy
Ký Tế là đã thành: nước đặt trên lửa, danh lợi đủ cả mà phải lo lúc thịnh hóa suy
Quẻ số sáu mươi ba là Thủy Hỏa Ký Tế, ứng với tháng giêng. Ký Tế nghĩa là đã thành rồi: danh lợi đủ cả, chỉ còn phải phòng khi thịnh hóa suy. Quẻ trên là Khảm, là nước; quẻ dưới là Ly, là lửa.
Thủy tại hỏa thượng, Ký Tế. Quân tử dĩ tư hoạn nhi dự phòng chi.
Lời Tượng nói nước ở trên lửa là quẻ Ký Tế, tức đã thành rồi. Người quân tử nhìn đó mà nghĩ đến hoạn nạn để đề phòng sẵn từ trước, bởi lửa đun sôi nước, mà nước đổ xuống cũng làm tắt lửa.
Người sinh vào tháng giêng gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng lúc yên ổn nên lo việc loạn; vận thái bình dễ sinh gian truân; việc lợi nhỏ thì tìm về hướng Tây Bắc.
Việc lớn đã xong thì làm nốt việc nhỏ, giữ được cái đã thành mới lợi
Nguyễn Hiến Lê giảng lời Thoán: đã xong, hanh thông; nếu làm nốt các việc nhỏ, cố giữ được những việc đã thành thì mới lợi. Mới đầu tốt, cuối cùng thì loạn, nát bét. Trong lời Thoán này, hai chữ hanh tiểu, Chu Hy ngờ là tiểu hanh mới đúng, tức việc nhỏ được hanh thông; nhưng cách hiểu của Phan Bội Châu theo Thoán truyện đúng hơn, nên được dịch như trên.
Quẻ này trên là nước, dưới là lửa. Lửa có tính bốc lên, mà ở dưới nước; nước thì chảy xuống, thế là nước với lửa giao nhau, giúp nhau mà thành công, cũng như nồi nước đặt trên bếp lửa: lửa bốc lên thì nước mới nóng, mới sôi được. Nước và lửa vốn tương khắc, nhưng chính vì ở sát nhau nên mới nên việc.
Lại xét sáu hào trong quẻ: hào dương nào cũng ở vị dương, hào âm nào cũng ở vị âm, và hào nào cũng có ứng viện: hào một dương có hào bốn âm ứng, hào hai âm có hào năm dương ứng, hào ba dương có hào sáu âm ứng. Đâu đó tốt đẹp cả, mọi việc xong xuôi, nên hanh thông.
Ở vào thời Ký Tế, việc lớn đã xong, những việc nhỏ cũng phải làm cho xong thì mới thật là hoàn thành; hoàn thành rồi lại phải cố giữ được sự nghiệp. Nếu không thì chỉ tốt lúc đầu thôi, rốt cuộc lại nát bét. Nghĩa là lúc trị phải lo đến lúc loạn.
Thoán truyện giảng lúc đầu tốt vì hào hai ở quẻ nội có đức nhu thuận mà đắc trung, và rốt cuộc sẽ loạn vì ngừng không tiến nữa, không đề phòng nữa. Đại tượng truyện cũng căn dặn phải phòng trước lúc loạn, lúc suy.
Trời đất mở đầu, nước lửa kết thúc: vì sao Dịch chọn hai quẻ này để khép bộ kinh
Phan Bội Châu bàn rằng vũ trụ lớn nhất là trời đất, nên Càn Khôn được đặt ở đầu bộ Kinh Dịch. Công dụng lớn nhất của tạo hóa là nước và lửa, nên Khảm, Ly được đặt ở cuối phần kinh thượng. Đến khi sáu mươi bốn quẻ sắp hết, công việc Dịch sắp hoàn thành, thì lại lấy hai quẻ Khảm, Ly hợp thể: Khảm trên Ly dưới thành quẻ Ký Tế, Ly trên Khảm dưới thành quẻ Vị Tế.
Đặt hai quẻ ấy vào cuối cùng toàn bộ kinh là để cho biết vũ trụ có bắt đầu, có kết thúc, mà thiên, địa, thủy, hỏa là những thứ biểu hiện được điều đó. Xưa nay suốt năm châu, vạn vật sở dĩ sinh tồn, tạo lập, không một thứ gì mà không nhờ công dụng của nước lửa; mà nước lửa lại thu nạp vào trong công dụng của trời đất. Dịch mở đầu bằng hai quẻ Càn Khôn và kết thúc bằng hai quẻ Khảm Ly hợp thể, ý nghĩa thật sâu xa.
Nước lửa có tương khắc rồi sau mới tương thành. Nếu Khảm, Ly mỗi quẻ đặt riêng thì nước lửa ở hai vị trí cách nhau tuyệt đối, làm sao tương khắc, tương thành được? Nhờ hai thứ ấy tiếp xúc, ở bên nhau mà có khắc, có thành. Khoa học ngày càng phát triển, muôn ngàn hình thức, cũng không ra ngoài vòng đạo lý ấy: than đá nấu nước thành hơi nước, hơi nước lại phát động được máy điện, quanh đi quẩn lại cũng chỉ là nước lửa tác động vào nhau.
Trong sáu mươi bốn quẻ, nói về việc trời đất, việc người tuần hoàn, thay đổi, tương phản và tiếp nối nhau thì chỉ có bốn quẻ: Địa Thiên Thái và Thiên Địa Bĩ, khác nhau vì trời đất giao nhau hay không giao nhau; Thủy Hỏa Ký Tế và Hỏa Thủy Vị Tế, khác nhau vì nước lửa giao nhau hay không giao nhau. Nước lửa giao nhau thành Ký Tế, nhưng lúc mới bước sang Ký Tế chính là lúc trời đất đã giao rồi; vì trời đất giao nên nước lửa mới giao. Thái và Ký Tế cùng ở trong một vận hội, chỉ xê xích về thời gian đôi chút. Trị đến cùng thì loạn nảy ra, thông suốt đến cùng thì bế tắc quay lại; bấy giờ nước lửa không giao mà thành Vị Tế, chưa xong.
Nhưng lúc bắt đầu vào Vị Tế thì Bĩ đã có từ trước, vì trời đất không giao nên nước lửa cũng không giao. Bĩ với Vị Tế cùng một vận hội liên quan nhau. Đọc Dịch đến bốn quẻ ấy, thấy vừa Thái tiếp đến Bĩ, vừa Ký Tế tiếp đến Vị Tế, thật ghê gớm cho khí số bất thường. Nhưng cũng may cho loài người, Bĩ với Thái cứ luân phiên, Ký Tế với Vị Tế cứ xoay đổi. Gặp hồi Thái với Ký Tế thì nên nhớ lời thành lại đổ xuống hào ở hào sáu quẻ Thái, và lời mới đầu tốt sau loạn ở hào sáu quẻ Ký Tế. Gặp hồi Bĩ với Vị Tế thì nên nhớ lời hết bĩ đến mừng ở hào sáu quẻ Bĩ và lời có niềm tin, không lỗi ở hào sáu quẻ Vị Tế.
Đạo trời như bánh xe lăn, việc người như bàn tay lật, chẳng bao giờ Ký Tế đến cùng mà không xoay sang Bĩ, cũng chẳng bao giờ Vị Tế đến cùng mà không chuyển sang Thái. Tất cả do chúng ta: chớ vì Thái với Ký Tế mà kiêu ngạo, cũng chớ vì Bĩ với Vị Tế mà buồn bã. Bốn quẻ trái nhau mà nối tiếp nhau là thâm ý của thánh nhân muốn cho ta biết như thế.
Lúc cùng mà ngừng thì loạn: nước lửa trong vũ trụ cũng là nước lửa trong thân người
Phan Bội Châu bình luận câu của Khổng Tử giảng quẻ Ký Tế: lúc cùng mà ngừng thì loạn. Quẻ này rất gần với y học, với vận khí của vũ trụ, và giống hệ thống khí huyết của thân người, nên người xưa thường nói thân người là trời đất thu nhỏ. Nước lửa của vũ trụ có giao mới thành tạo hóa; nước lửa trong mình có giao mới được khang kiện. Tâm hỏa giáng xuống mà giao với thận, thận thủy thăng lên mà giao với tâm; tâm thận giao thì thân thể được Ký Tế.
Nhưng nước là huyết mạch, lửa là khí quản, tất phải vận chuyển hoàn hảo luôn luôn. Nếu một phút đông hồ, lửa chỉ ở một chỗ mà không thăng, nước chỉ ở một chỗ mà không giáng, tất sinh bệnh phù thũng. Phàm việc thiên hạ không tiến bộ trong một lúc thì tất nhiên thoái lui; chỉ nghiệm thân người cũng đủ biết. Thâm ý câu lúc cùng mà ngừng thì loạn là muốn cho việc người không bao giờ ngừng, thì mới có được lúc cùng không bao giờ loạn. Vì ngừng thì loạn, chứ không phải vì lúc cùng mà loạn.
Dự báo cho quẻ Ký Tế: trước thuận buồm xuôi gió, sau suy vi
Quẻ Ký Tế chỉ thời vận bình yên, ổn định, mọi việc đang thuận buồm xuôi gió, cơ hội thành đạt có nhiều. Nhưng về sau trở nên khó khăn, không thuận, suy vi, bất lợi. Tài vận: trước khá, sau sa sút. Hôn nhân: trước mắt thuận lợi, sau không hòa hợp.
Hào sơ cửu: kéo lết bánh xe, ướt đuôi con cáo nhưng chưa qua sông
Hào dương, hào bình. Hãy kéo lết bánh xe, đừng vội đi quá; ướt đuôi rồi nhưng chưa qua sông, không có lỗi gì.
Duệ kỳ luân, nhu kỳ vĩ, vô cữu.
Hà Lạc nói theo hào, nên cẩn thận ngay từ đầu. Người cẩn thận biết phòng xa thì phúc lộc bền vững; người không biết phòng thân thì lâm vào gian khổ.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương, có tài, ở trong quẻ nội Ly là lửa, có tính nóng nảy, lại ở đầu quẻ Ký Tế nên có chí cầu tiến quá hăng. Vì vậy lời hào khuyên phải thận trọng, thủng thẳng như kéo lết bánh xe lại; chưa qua sông được đâu, như con cáo ướt cái đuôi không lội được; làm vậy mới khỏi lỗi.
Người mệnh hợp cách phòng loạn ngay từ lúc đang trị, nên giữ đất nước vững yên không lo, sự nghiệp lớn, lộc vị cao. Người mệnh không hợp cách tâm sáng, trí khôn, nhưng tiến thoái vô định, bỏ lỡ cơ hội, chỉ có hư danh; là người kém lo xa, phúc mỏng, phận bạc.
Về vận hạn: người có chức chưa lãnh, có vị chưa ngồi, muốn hoạt động mà chưa đến lúc thì chớ ra tay vội, cẩn thận đợi thời thì an bình không lo. Câu thơ của hào nói lên đường chẳng lỗi chi, cánh buồm ngàn dặm cũng là tới nơi.
Hào lục nhị: người đàn bà mất tấm màn xe, chớ đuổi tìm, bảy ngày sẽ thấy
Hào âm, hào bình. Như người đàn bà đánh mất cái màn che xe, phải hoãn cuộc đi, nhưng chớ đuổi tìm, bảy ngày sẽ thấy. Hào hai không được hào năm dùng vì bị kẹt vào giữa quẻ Khảm; chờ hết sáu hào của quẻ này mới đến hào thứ bảy, nên nói bảy ngày thời biến khác sẽ gặp lại. Vì vậy có tài mà chưa được dùng thì chớ nóng vội, hãy chờ thời.
Phụ táng kỳ phất, vật trục, thất nhật đắc.
Hà Lạc nói có sở đắc đầy nhưng chưa được dùng, nên hãy giữ gìn và đợi.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở giữa quẻ nội Ly, có đức văn minh, trung, chính, có thể thực hiện được chí mình. Nó ứng với hào năm dương cương, trung, chính ở địa vị chí tôn; nhưng ở thời Ký Tế, việc đã xong, hào năm không đoái hoài tới hào hai, thành thử hào hai như người đàn bà có xe để đi mà mất màn che bốn mặt xe, không đi được. Tuy nhiên hào hai trung chính, mà đạo trung chính không bị bỏ lâu bao giờ, nên đừng mất công theo đuổi, cứ đợi rồi tự nhiên sẽ được như ý.
Người mệnh hợp cách có tài đức đủ, đường lối sẵn nhưng chưa tiến hành được, chờ đợi thời sẽ có cơ hội, công danh muộn vậy. Người mệnh không hợp cách có kiến thức, biết nắm giữ, nhưng tuổi trẻ bị uất ức gian nan, mãi già mới được sung túc.
Về vận hạn: quan chức trước nghịch sau thuận; giới sĩ trước mất sau được; người thường trước khó sau dễ, có thể có tang phục. Câu thơ của hào nói sấm vang mà chẳng thấy mưa, có mưa mà chẳng ướt tơ áo; buồn cười câu chuyện bấy nay, chưa đến kỳ nở mặt thì đợi ngày nào cơ.
Hào cửu tam: vua Cao Tông đánh Quỷ Phương ba năm mới thắng, đừng dùng kẻ tiểu nhân
Hào dương, hào bình. Hào ba dương cương ví như vua Cao Tông nhà Ân, bình định xứ nhỏ mà không dùng kẻ gian nịnh. Vua Cao Tông đánh nước Quỷ Phương ba năm mới dẹp xong kẻ tiểu nhân. Gặp hào này thì đừng làm thế vội, vì phải tùy người mà hỏng việc.
Cao Tông phạt Quỷ Phương, tam niên khắc chi, tiểu nhân vật dụng.
Hà Lạc nói đạo làm tướng trong hành quân.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này là dương ở vị dương, nên quá cương cường, hóa ra khinh suất; lời hào khuyên phải thận trọng như vua Cao Tông, tức Vũ Đinh nhà Ân, khi đánh một rợ nhỏ là Quỷ Phương mà mất ba năm mới được. Đừng dùng kẻ tiểu nhân là lời khuyên chung chứ không phải chỉ khuyên riêng hào ba.
Phan Bội Châu phụ chú: hào sáu quẻ Sư cũng có câu đừng dùng kẻ tiểu nhân, nghĩa là chớ nên dùng kẻ tiểu nhân vào việc binh, vì tính chất của chúng cương, bạo, tham lam, dùng vào việc binh thì đến nỗi tan dân hại nước. Ở thời Ký Tế chính là lúc trong nước vô sự, biên giới yên tĩnh, rất đáng lo là bọn tiểu nhân sinh sự. Chẳng khác thân thể đang khỏe mạnh lại đem thuốc công bệnh, làm tổn thương nguyên khí; nên lời hào có ý răn việc dùng binh, mà chú trọng câu đừng dùng kẻ tiểu nhân.
Người mệnh hợp cách có tài nhưng vội thì khó thành công; lớn làm tướng soái, nhỏ làm quan coi quản. Là người có công dẹp loạn nhưng thành công muộn, có phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách có tài nhưng kém đức, thường hay thiếu kiên nhẫn, buôn bán thua lỗ, đi đến đâu bất hòa, hay tranh chấp, kiện cáo, làm bừa, lừa dối trên; không dùng thì oán, dùng đến thì kiêu mạn, ưa tranh tụng, sức mệt, của hết, phúc lộc kém.
Về vận hạn: quan chức có công tác cử hành hay đi chinh phạt; giới sĩ tiến thủ nhưng phải lâu mới được; người thường hay gây oán thù, kiện tụng tranh chấp. Câu thơ của hào nói vào dễ ra khó, lần khân; càng đụng càng mệt, ba lần mới xong.
Hào lục tứ: thuyền thấm nước phải có giẻ trám, suốt ngày lưu ý
Hào âm, hào tốt. Thuyền bị nước thấm lâu thì phải có giẻ để trám chỗ lủng, suốt ngày lưu ý, vì đã lên đến quẻ Khảm rồi. Hào chỉ người biết luôn luôn phòng bị, như người vượt sông lớn phòng thuyền rò thì phải có sẵn áo rách để độn.
Nhu hữu y nhự, chung nhật giới.
Hà Lạc nói chức lớn dự phòng việc nước, cho hết đạo trị dân.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này đã bắt đầu lên quẻ ngoại Khảm là hiểm, phải phòng bị cẩn thận, như người ngồi chiếc thuyền bị nước vào thì phải có giẻ để bít lỗ. Hào này âm nhu, ở vị âm, đắc chính, là người thận trọng, biết lo sợ.
Người mệnh hợp cách thời bình phòng loạn, cơ mưu lớn được dùng, nên phú quý song toàn. Người mệnh không hợp cách cũng là người cẩn hậu, cả lo, cả ngờ, đời sống sung túc.
Về vận hạn: quan chức biết phòng xa nên lộc vị yên ổn; giới sĩ sống trong sạch nên tiến thủ không lem nhem; người thường có sinh kế, có phòng bị nên không gặp nguy. Câu thơ của hào nói đi đò phòng đò hở nước, có cuộc sống an nhàn; công lộc vị chưa thấy đâu, quyền ấn chẳng vào tới tay; lui về một bước cũng hay, phù người, vui vẻ chờ ngày tiến lên.
Hào cửu ngũ: xóm đông giết trâu tế chẳng bằng xóm tây tế sơ sài mà được phúc thật
Hào dương, hào xấu. Xóm bên đông giết trâu tế, chẳng bằng xóm bên tây làm lễ thược sơ sài mà hưởng được phúc thật. Hào không có hậu: trước khá sau gian khổ, theo đóm ăn tàn, không khỏi liên lụy. Hào năm tuy ngôi cửu ngũ cấp trên nhưng đang suy, ví như người láng giềng phía đông; không bằng hào hai là cấp dưới nhưng đang thịnh, ví như người láng giềng phía tây.
Đông lân sát ngưu, bất như Tây lân chi thược tế, thực thụ kỳ phúc.
Hà Lạc nói cấp trên suy rồi không bằng cấp dưới gặp thời.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hàng xóm bên đông là hào năm, bên tây là hào hai. Cả hai hào đều đắc trung, đắc chính, lòng chí thành ngang nhau; hào năm ở địa vị chí tôn làm tế lễ lớn, nhưng được hưởng phúc thì hào hai lại hơn hào năm, chỉ vì hào hai gặp thời hơn: hào hai ở đoạn đầu Ký Tế nên sức tiến còn mạnh, tương lai còn nhiều; hào năm ở gần cuối Ký Tế, lại ở giữa quẻ Khảm là hiểm, tiến tới mức chót rồi, sắp nguy, thịnh cực rồi thì phải suy.
Người mệnh hợp cách lo xa, việc không khinh động, phép chẳng đổi bừa, giữ trọn vẹn thời Ký Tế, hưởng phúc lớn. Người mệnh không hợp cách thiếu thành thực, nhiều phù hoa, tổn vật hại người, thân gia khó toàn, chỉ nên ở ẩn nơi sơn lâm hay chốn u tịch thì còn phúc.
Về vận hạn: quan chức trông coi việc tế lễ nhưng hết thời cũng bị oán trách; giới sĩ hết thời rồi mới đi theo nên tai hại; người thường mưu việc gần thì còn thấy thực, xa thì hão huyền; lợi phương Tây, không lợi phương Đông. Câu thơ của hào nói lòng thành lễ bạc cảm được bề trên, việc làm đúng lúc tự nhiên trời phù.
Hào thượng lục: nước ngập cả đầu, tài đủ lo cho đời nhưng nguy
Hào âm, hào bình. Nước ngập cả đầu, nguy. Hà Lạc nói tài đủ lo cho đời, nhưng nguy.
Nhu kỳ thủ, lệ.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này là tiểu nhân bất tài, vì là âm, ở thời cuối cùng của Ký Tế, lại ở trên hết quẻ Khảm nên càng nguy, như một người lội qua sông mà nước ngập cả đầu. Ký Tế vốn là một quẻ tốt, nhưng chỉ ba hào đầu là khá tốt, còn ba hào sau càng tiến lên càng xấu: hào năm kém phúc hào hai, mà hào trên cùng là ướt đầu, so với hào một là ướt đuôi còn xấu hơn nhiều. Vẫn là lời khuyên gặp thời thịnh phải cẩn thận, đề phòng lúc suy.
Người mệnh hợp cách trị không quên loạn, an không quên nguy; thiên mệnh vững, nhân tâm nhớ lâu, nên sự nghiệp Ký Tế không đến nỗi nào. Đó là người ứng với thời Ký Tế, làm nên sự nghiệp vẻ vang, phúc lộc hoàn mỹ. Người mệnh không hợp cách chí cao, ý đầy, cậy tài làm liều, trời chán, người oán, cái thân chưa biết đến ngày nào. Đó là kẻ kém tài trí lại có địa vị cao, dễ làm liều, gây tổn hại lớn, nguy đến thân, phúc lộc mỏng.
Về vận hạn: quan chức cao quá dễ gãy; giới sĩ chìm đắm khó tiến; người thường phải phòng nhiễm bẩn, không hay đi thuyền, sợ đắm. Câu thơ của hào nói thuyền nhỏ phòng chìm đắm, cây thu sợ héo tàn.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
