Bài tổng quan
Trường sinh, đế vượng, nhập mộ: ba chặng đời của một hào
Một hào cũng có tuổi đời: lúc mới sinh, lúc đỉnh cao, lúc về mộ, lúc tắt hẳn. Biết hào đang ở chặng nào, ta biết việc đang bắt đầu hay đang cạn sức. Nhưng không phải chặng nào cũng đúng như tên gọi của nó.
Vòng trường sinh của ngũ hành
Vòng trường sinh trong Dịch xếp theo cùng cách các môn huyền học Đông Á khác vẫn dùng, vì các nước vùng Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản đều lấy nền tảng phát triển từ Âm Dương. Trong quẻ Lục hào, trừ trường hợp đặc biệt khi hỏi về chuyện thai nghén, chỉ có bốn chặng sinh, vượng, mộ, tuyệt ảnh hưởng đến vượng suy và thông tin của quẻ.
- Kim sinh ở Tỵ, vượng ở Dậu, mộ ở Sửu, tuyệt ở Dần.
- Mộc sinh ở Hợi, vượng ở Mão, mộ ở Mùi, tuyệt ở Thân.
- Hỏa sinh ở Dần, vượng ở Ngọ, mộ ở Tuất, tuyệt ở Hợi.
- Thủy và Thổ sinh ở Thân, vượng ở Tý, mộ ở Thìn, tuyệt ở Tỵ.
Vòng trường sinh được quy chiếu theo nhật và hào biến. Riêng mộ còn có thêm hào động. Có một điểm khác biệt: không tính mộ của Thổ, trừ khi xét ứng kỳ quá vượng của Thổ.
Ghi nhớ thêm khái niệm quá vượng: ba lần được sinh, hoặc nhật nguyệt trùng hay sinh cùng với hào động hoặc hào biến sinh cho, thì gọi là quá vượng. Cũng có khi nhật nguyệt trùng hoặc sinh, nhật nguyệt hợp thì hào được gọi là quá vượng. Chữ sinh ở đây có thể gồm cả phi thần, hào động còn dùng được, hoặc hào biến nếu hào biến đang xét không gặp không, phá, mộ. Để nhìn vòng này theo cách đời thường, có thể xem thêm mười hai cung trường sinh từ trường sinh đến đế vượng.
Trường sinh: chuyện bắt đầu cái mới
Chặng đầu tiên của vòng này là lúc một hào vừa sinh ra.
Trường sinh báo hiệu một khởi đầu mới. Nếu hỏi kinh doanh thì đó là chuyện đi vào mảng mới. Nếu hỏi sức khỏe thì là sự khởi sắc. Nếu hỏi đất đai thì là mạch đất trở lại.
Có hai trường hợp cần lưu ý đặc biệt. Thứ nhất là trường sinh của Kim: Kim trường sinh ở Tỵ, nhưng Tỵ thuộc Hỏa và khắc Kim. Vì vậy, trong trường hợp này, trường sinh không báo hiện tại mà lại báo quá khứ. Sự kiện từng có khí thế hưng thịnh ban đầu nhưng giờ đã bớt nhiều rồi. Nếu suy thì hết hẳn, hoặc ban đầu to lớn nhưng đến nay đã lùi dần. Nếu Kim hóa Tỵ, đến thời Hỏa thì hết hẳn.
Thứ hai là Thổ trường sinh ở Thân. Trường sinh của Thổ báo sự tốt dần lên, không đến ngay được. Nếu hóa Thân thì ban đầu hao tổn, sau sẽ ổn dần, kể cả khi Thổ suy. Nếu nhật ở Thân thì vẫn đi từ đây mà lên, đừng ngại khó, sẽ thành. Nếu biến ra Thân thì có sự đầu tư ban đầu rồi mới thành, vì dù sao Thổ hóa Thân vẫn là hóa tiết.
Vượng: tự lực nhưng đừng quên thân Thổ
Tới đỉnh cao, mỗi hành có một cách vượng riêng, và Thổ là ngoại lệ.
Vượng báo hiệu sự tự lực. Cần lưu ý với Thổ, vì các hành khác vượng luôn ở chi mạnh của hành đó, nhưng Thổ vượng ở Tý là chuyện khác hẳn, Tý Thủy chẳng liên quan gì đến Thổ. Thổ vượng ở Thủy báo sự tự lực, tự cường, nhưng cô đơn và phải chịu thế. Thổ ở Tý vẫn báo hào vượng, nhưng nếu hào đang vô căn thì sự vượng ấy vẫn sẽ xảy ra vào thời điểm Tý, đừng lo, trời không tuyệt đường người.
Hợp và tuyệt trong vòng trường sinh
Giữa các chặng còn có những lần hợp và tuyệt, mỗi lần mang một nghĩa khác nhau.
Chuyện hợp với chi trường sinh có nét thú vị riêng. Dần hợp Hợi: Dần Mộc trường sinh ở Hợi, Dần hợp Hợi, Dần lại được Hợi sinh. Về cơ bản đây là trường hợp kiểu gì cũng tốt, một khởi đầu mới. Nếu hóa ra thì báo chuyện có sự giúp đỡ. Nhưng nếu Dần động, Hợi hợp hào động, thì báo tình trạng tuy là khởi đầu nhưng không thoải mái, bị trói buộc, rồi sẽ tốt dần lên.
Thân hợp Tỵ: nếu không được sinh phù từ nguyệt hay hào động thì báo trước kia rất ổn, nhưng sau lại tệ, hoặc từng rất ổn nhưng giờ tệ. Hầu hết các quẻ như thế đều báo về một thời quá khứ huy hoàng. Nếu hào động hóa, sẽ vừa bị hợp vừa bị khắc, nghĩa là từng rất huy hoàng, nhưng quá khứ không tạp với bản thân, và sẽ hỏng hẳn vào thời điểm ứng kỳ. Trường hợp này dễ chịu hơn Dậu trường sinh ở Tỵ, vì ít nhất Thân vẫn hợp Tỵ nên đỡ lên một phần, mất mát nhưng không mất hết như Dậu.
Với chữ tuyệt, Mộc tuyệt ở Thân vừa tuyệt vừa bị khắc, tương tự Hỏa tuyệt ở Hợi. Kim tuyệt ở Dần chỉ tuyệt chứ không bị khắc, tương tự Thủy. Trong mọi trường hợp tuyệt, nếu hào còn vượng hoặc ít nhất còn chút khí, đều là tượng đang đi xuống dốc nhưng sẽ vượt qua. Nếu vượng thì sẽ đạt lại đỉnh phong ở thời điểm đế vượng. Chẳng hạn Kim tuyệt ở Dần, nhưng nếu Kim vượng, đến thời Tỵ sẽ trở lại và thời Dậu là đỉnh phong.
Thổ trường sinh ở Thân là vừa tiết vừa trường sinh, nếu động hóa từ Thổ ra Thân. Quẻ báo ban đầu tổn hao, hơi to, nhưng sẽ thành. Sự thú vị của Thổ ở trường sinh và đế vượng nằm ở chỗ: dù bị nguyệt khắc, nhưng nếu trường sinh hay đế vượng nằm ở nhật thì vẫn tính hào vượng, chỉ khác nhau về thời điểm, còn bản chất ban đầu vẫn là vượng. Thổ đế vượng ở Tý báo sự tự lực mà thành của bản thân, tay trắng dựng cơ đồ, nhưng bù lại là người cô độc. Thổ tuyệt ở Tỵ là vừa tuyệt vừa sinh, đến đây rồi sẽ đi lên. Nếu là hóa thì đó là sự cùng đi một đường với người khác, tuy đang đi xuống nhưng đừng sợ.
Mộc, Hỏa, Thủy mà gặp chi trường sinh thì đều là chi sinh, đều tốt cả. Dần hóa Mão vừa vượng vừa tiến; nếu hóa tiến thì sẽ tốt, dù hào vô căn, nhưng phải động mới tính. Có một trường hợp đáng lưu ý: hào phá nếu động hóa tuyệt thì hỏng hẳn dù vượng hay được nhật sinh. Chỉ có trường hợp được hào động trợ giúp, hoặc Thổ hóa Tỵ (bản chất Tỵ Hỏa sinh Thổ), thì cứu được, ứng kỳ lúc trực hoặc hợp. Tuần không cũng vậy: không gặp mộ thì dù vượng cũng hỏng, nhưng nếu được trợ giúp thì vượt qua, ứng kỳ lúc trực xung. Nên nhớ phá sợ tuyệt, không sợ mộ. Ghi chú đầy đủ về chặng này còn nằm trong phép sinh vượng mộ tuyệt.
Tùy quỷ nhập mộ: khi họa gặp phải ngõ cụt
Đến chặng cuối, khi hào về mộ, nguy hiểm nhất là lúc Quỷ vừa trì Thế vừa nhập mộ.
Tùy quỷ nhập mộ là trường hợp hào Quỷ trì Thế mà nhập mộ ở một trong ba nơi: mộ tại nhật, mộ tại hào động, mộ tại hào biến. Vì sao tình huống này nguy hiểm? Vì Quan trì Thế trong một quẻ hỏi thông thường về an nguy vốn đã là tai họa, thêm nhập mộ nữa thì nguy lại thêm nguy. Tuy nhiên cần phân rõ vượng suy của hào Thế. Nếu hào Thế vượng thì việc nguy hiểm tuy có nhưng vẫn qua được. Ngoài ra, nếu tùy quỷ nhập mộ mà hóa thành Tử tôn thì vẫn báo có họa nhưng qua được.
Mộ chia thành vượng và suy, và hào vượng nhập mộ khác với hào suy nhập mộ. Giả sử hào vượng, trong tình huống không cấp thời hoặc không liên quan nhân sự, xung mộ sẽ dùng được, trừ trường hợp nguyên thần động thì việc hỏng. Còn nếu kỵ thần động, thì đến khi xung mộ việc mới thành, vì kỵ sinh nguyên, nguyên sinh dụng. Nguyên tắc chung cho các vấn đề như không gặp mộ, phá gặp tuyệt hoặc nguyên mộ là hào nguyên thần của chính hào mộ phải động.
Ví dụ ngày Đinh Mùi tháng Dần, hỏi sức khỏe của con, ra quẻ Hỏa Phong Đỉnh hóa Lôi Phong Hằng. Dụng thần lâm nhật, lại được nguyên thần động sinh cho, đáng lẽ sẽ hết bệnh trong ngày, nhưng đến ngày Hợi thì xảy ra điều chẳng lành. Nguyên nhân là nguyên thần động hóa mộ nên không sinh được cho dụng thần, dụng thần như cây cao mà không còn gốc. Ngày Hợi xung Tỵ mất nguyên thần. Cũng trong quẻ ấy, nếu có thêm hào Dần Mộc ở nội quái động thì có thể cứu được, vào ngày Thìn, vì Thìn xung Tuất mà nguyên thần hoạt động trở lại, thành chuỗi Phụ sinh Tử, Tử sinh Huynh.
Cơ bản khi dụng thần vượng, hỏi sức khỏe, tiền bạc, công danh đều chỉ cần chờ đến lúc xung mộ. Nhưng phải xét rõ quy mô của sự việc để biết thời điểm là ngày, giờ, tháng hay năm. Hỏi bệnh cảm thì thời gian hết không tính bằng năm; hỏi kinh doanh thì thời gian không xem bằng ngày.
Mộ chỉ dùng với nhật
Dù vậy, mộ không tính cho mọi thứ.
Có một điều cần nhắc nhiều lần: mộ chỉ được xét với nhật. Điều này liên quan đến vòng trường sinh. Nhầm nhật và nguyệt như nhau sẽ dẫn đến nhầm vòng trường sinh. Dù học đúng hay sai, cũng phải hiểu vì sao lại như thế.
Với chuyện tình duyên có điều lưu ý đặc biệt: nếu dụng thần nhập mộ thì lúc xung dụng thần sẽ có duyên mới, chứ không phải thành với duyên hiện tại. Hay khi hỏi chuyện gặp gỡ đối tác mà dụng thần mê man, thông thường việc hỏng. Nhưng nếu biết chủ động tác động bằng cách hỏi thúc, việc sẽ thành trong trường hợp dụng thần vượng.
Với kỵ thần động mà nhập mộ: nếu kỵ vượng, ứng vào lúc xung mộ sẽ xảy ra chuyện. Nếu kỵ suy, lúc xung mộ cũng ra chuyện. Nhưng nếu dụng thần vượng thì trục trặc xảy ra đúng lúc đó, song vẫn qua được, an tâm.
Cửu thần động cũng tương tự, nhưng với sức khỏe thì Cửu vượng đến lúc xung mộ là nguy. Các tình huống khác báo nguy cơ gián tiếp. Chẳng hạn kinh doanh, đến thời điểm xung mộ sẽ bị người có đặc điểm như hào ấy phá mất vốn, đôi khi lấy tiền hoặc trộm, cho vay mà mất, hoặc hỏng hàng hóa. Biết thời điểm ngày tháng ấy thì phải đề phòng hoàn toàn mọi thứ có đặc điểm liên quan, may ra thoát được. Còn những tình huống bất khả kháng như mưa to lũ lụt thì đành chịu. Điều này đúng trong khoảng không gian thời gian vô hạn. Còn nếu trong đoạn không gian giới hạn, hay việc cấp thời, thì khi kỵ hay cừu nhập mộ lại không sao. Chỉ khi qua khỏi khoảng không gian ấy mới ra chuyện, còn trong thời gian đó vẫn ổn. Trường hợp dụng thần thì khác: trong khoảng thời gian chưa đến lúc xung, việc hỏng ngay.
Bốn điều kiện khiến mộ không còn là mộ
Thậm chí có lúc hào đang ở đúng chỗ mộ mà vẫn không phải nhập mộ.
Vài điều kiện làm cho hào không còn được tính là nhập mộ nữa:
- Nhật hoặc nguyệt xung mộ ngay thời điểm hỏi. Ví dụ ngày Tuất, hào Tý Thủy hóa Thìn thì không tính hóa mộ mà tính hóa Thìn Thổ, vì khi đó nhật đã xung mất mộ của Thủy.
- Hào động xung hào động làm mộ. Ví dụ Thìn và Tuất đều động thì Tý Thủy không tính mộ ở hào Thìn, vì hào động Tuất đã xung mất hào Thìn. Chỉ xảy ra khi hào động dùng được, tức không hóa không, hóa phá.
- Hào mộ ở trạng thái hưu mà còn bị nguyệt hay nhật khắc, kể cả hào biến. Ví dụ hào Dần Mộc hóa Mùi Thổ, xem vào ngày Dần tháng Tỵ thì không tính mộ, vì hào Mùi Thổ hưu tù bị nhật khắc.
- Hào mộ, kể cả hào biến, bị tuần không hoặc nguyệt phá thì không tính mộ. Ví dụ Hợi hóa Thìn mà Thìn không hoặc phá, hay bị nhật xung, ta không tính Hợi mộ ở Thìn mà chỉ tính Hợi hóa khắc. Hay dụng thần Hợi, Thìn động hóa tuần không hoặc nguyệt phá, thì Thìn này sẽ không tính là mộ của Hợi vĩnh viễn, mà tính như một hào động bị tuần không, nguyệt phá thông thường.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
