Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lục hào dự đoán

Bài tổng quan

Mười Hai Cung Trường Sinh Tượng: Từ Trường Sinh Đến Đế Vượng

Bói Dịch - Lục hào dự đoán21/09/20266 phút đọc1 lượt đọc
Mười Hai Cung Trường Sinh Tượng: Từ Trường Sinh Đến Đế Vượng

Người vợ hỏi chồng ngày nào về. Hào Quan quỷ trong quẻ chẳng được tháng nâng, lại bị ngày khắc, yếu đến mức nguyên thần động sinh cũng chưa đủ dựng dậy. Người đoán không tính theo sinh khắc nữa mà tìm cái ngày hào ấy gặp lại gốc rễ của nó: ngày Hợi, Dụng thần lâm trường sinh. Và chồng chị về đúng giờ Hợi ngày Hợi. Sách xưa nói mười hai cung trường sinh, nhưng phần lớn chỉ giữ lại bốn chữ sinh vượng mộ tuyệt để cân cát hung, bỏ quên tám trạng thái còn lại. Tắm gội, đội mũ, ra làm quan, cực thịnh rồi tàn tạ — mỗi trạng thái ấy giấu một lớp nghĩa. Chúng nói được những gì?


Mười hai cung Trường sinh trong phần Tượng

Các môn Huyền học đều nhắc đến 12 cung trường sinh nhưng đều khá mơ hồ. Trong Tăng san bốc dịch và một số sách khác thì đều có nói sơ qua về 12 cung trường sinh nhưng chỉ chú trọng đến Sinh Vượng Mộ Tuyệt còn các phần khác đều không dùng. Vì cổ nhân chỉ sử dụng 12 cung trường sinh để cân nhắc cát hung của hào, tức là xét cái phần Lý trong Lục hào mà thôi. Sinh vượng mộ tuyệt cố nhiên có ảnh hưởng đến cát hung của hào. Nhưng 12 cung trường sinh chân chính lại được sử dụng nhiều trong phần Tượng, phần đoán chi tiết, còn cát hung chủ yếu là Ngũ Hành sinh khắc.

Ngũ Hành sinh diệt là dựa theo quy luật tuần hoàn qua lại không ngừng vận động, chỉ cần có âm dương tồn tại, tác dụng của Ngũ Hành sẽ không ngừng nghỉ. Ngũ Hành từ sinh đến diệt tổng cộng có mười hai loại trạng thái, đối ứng tại mười hai địa chi. Theo thứ tự là Trường sinh, Mộc dục, Quan đái, Lâm Quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Mười hai trạng thái này là mười hai trạng thái của sự vật từ sinh ra đến phát triển, rồi lại diệt tuyệt. Mười hai trạng thái này lấy trường sinh làm điểm xuất phát, cho nên hiện tượng này cũng được gọi là mười hai cung Trường sinh.

Trường sinh

Trường sinh là xuất phát điểm của Ngũ Hành sinh diệt mười hai trạng thái có hàm nghĩa sinh trưởng, sinh ra, phát sinh. Trường sinh còn có hàm ý là nguồn gốc, khởi điểm, cội nguồn, gốc rễ, nguyên thủy, mới ra đời, sinh trưởng, sinh ra, phát sinh, trợ giúp, cứu trợ, dựa vào, chỗ dựa vững chắc, người giúp đỡ, được cứu vớt, bồi dưỡng, chăm sóc, nhận được, tìm kiếm, thức tỉnh, ăn cơm…

Ví dụ 1

Ngày Ất Dậu tháng Thìn, một phụ nữ xem chồng ngày nào về? Được quẻ Thủy Địa Tỉ biến Phong Địa Quán.

Quẻ Thủy Địa Tỉ biến Phong Địa Quán

Lấy Quan quỷ làm Dụng thần. Quan quỷ không được Nguyệt kiến sinh phù, bị Nhật khắc thương là hưu tù. Trong quẻ tuy có nguyên thần động sinh phù nhưng vẫn có chút yếu, ngày Hợi Dụng thần lâm trường sinh, ngày Hợi sẽ về. Sau về vào giờ Hợi ngày Hợi.

Mộc dục

Mộc dục giống như hài nhi sau khi sinh được tẩy lễ, hoa cỏ cây cối nảy mầm được mưa tưới nhuần. Mộc dục có hàm nghĩa là Tắm rửa, nhập thủy, thoát y, lỏa thể, dâm loạn, đại tiểu tiện, đổ nát, khó coi, vô sỉ, ân trạch, làm dịu, chiếu cố, có lợi, bại lộ, nhẵn bóng; trơ trụi, sáng bóng, bóng loáng, thẳng thắn, hưởng thụ, ngủ, bạc nhược, yếu kém, nơi trí mạng, từ bỏ phòng vệ, không đề phòng, không có năng lực phòng hộ…

Quan đái

Quan đái chính là sau khi tẩy lễ mộc dục, mặc quần áo mang giầy mũ, người sau khi lớn lên, cử hành nghi thức trưởng thành, lễ đội mũ mang ý trưởng thành là như vậy. Quan đái có hàm nghĩa là mặc quần áo, đội mũ, y phục, trang điểm, trang phục, túi xách, trang sức, bề ngoài, cao quý, thăng cấp, vinh dự, khen ngợi, phần thưởng, tán thưởng, giành được chứng thư, phòng hộ, bảo quản, che đậy, nhập ngũ

Suy

Suy là chỉ sự vật ở trạng thái suy bại, khi dự đoán lấy Ngũ Hành sinh khắc lý lẽ bình thường mà luận. Suy có hàm nghĩa là vô lực, lực yếu, mềm yếu, suy yếu, nhỏ yếu, hư nhược, yếu trí, tàn tạ, sa sút, tiêu điều, suy tàn, xui xẻo, lùi bước, nhược điểm, nhát gan, nhỏ thấp, không có chỗ dựa, không có năng lực, không có bản lãnh, bất học vô thuật, cao không được thấp không xong, không dám phản kháng.

Bệnh

Bệnh là chỉ sự vật đã ở trạng thái sinh bệnh, sắp diệt vong, khi dự đoán tật bệnh có thể dùng để phán đoán chứng bệnh, nhưng trên phương diện cát hung, lấy Ngũ Hành sinh khắc lý lẽ bình thường mà xem. Bệnh có hàm nghĩa là tật bệnh, ổ bệnh, thương tổn, cần uống thuốc, khuyết điểm, nhược điểm, thiếu sót, tật xấu, chỗ sơ hở, chỗ hiểm (trên thân thể), địa điểm quan trọng, tâm bệnh, hủ bại, ôn thần, căm ghét, căm thù, cừu nhân, nhìn hằn thù, coi là kẻ thù.

Thai

Thai chỉ sự vật sau khi diệt tuyệt lại bắt đầu thai nghén sinh mệnh mới. Bình thường ở ngưỡng sơ cấp dự đoán cũng không có nhiều ứng dụng. Chỉ khi xem mang thai, sinh con thì tham khảo, phối hợp với hào Tử tôn để đoán. Các tình huống bình thường thì đều lấy Ngũ Hành sinh khắc để luận. Thai có hàm nghĩa là Mang thai, nhược tiểu, nhỏ tuổi, ngây thơ, sơ cấp, chuẩn bị, tính toán sơ bộ, kế hoạch, hình thành, di truyền, tiên thiên, bẩm sinh, bản tính khó dời, cấu kết, bận tâm, bận lòng, quan tâm, ý tưởng, có chút nghĩ không thông, phản ứng chậm chạp.

Dưỡng

Dưỡng là thai đã hình thành, dần dần hấp thu dinh dưỡng, dần thành thục, chuẩn bị xuất sinh. Sơ cấp dự đoán rất ít khi dùng, nếu gặp vẫn lấy Ngũ Hành sinh khắc để luận. Dưỡng có hàm nghĩa là: Thu dưỡng, nghỉ ngơi, dinh dưỡng, tẩm bổ, bồi dưỡng, dưỡng dục, dựa vào, trợ giúp, nâng đỡ, hoài nghi, không yên lòng, không nỡ, chột dạ, bất an, quan tâm, mới ra đời, sinh trưởng, ký thác, nhận làm con thừa tự, nhược tiểu.

Lâm Quan

Lâm Quan là cùng khí Ngũ Hành gọi là đồng khí tương cầu. Đế vượng là dương khí đạt đến đỉnh điểm, như mặt trời ban trưa. Lâm Quan, Đế vượng như một người giữ ải vạn người khó qua, không còn sợ khắc.

Lâm Quan là con người trưởng thành sau ra làm quan, luận sinh khắc ngũ hành bình thường. Lâm quan có hàm nghĩa là Nhà nước, cơ quan, quốc doanh, quan phủ, ra làm quan, đang làm quan, có vận làm quan, địa vị, công chức; viên chức, a dua nghênh tiếp, nịnh hót, có bệnh, tai họa, cách cái chết không xa, nguy hiểm, sầu lo, tự lực cánh sinh, tự mình nỗ lực, lớn lên, giai đoạn trưởng thành, sắp thành công, phát nguyện, hứa hẹn, biến hóa, xuất quỷ nhập thần, biến hoá tài tình, có nam nhân ở bên người.

Đế vượng

Đế vượng là con người tại thời điểm cường thịnh, hoa cỏ cây cối khi tươi tốt. Đế vượng có hàm nghĩa là vinh phát, phát đạt, thăng chức, lên cao, đắc ý, ngạo mạn, tinh thần hưng phấn, huy hoàng, cực hạn, cao triều, cực điểm, đến cùng, hết mức, điểm cuối, kết cục, cường đại, mạnh mẽ, hùng tráng, cao lớn, am hiểu, sở trường, có quyền

Nguồn: Dịch Kinh Chân Tủy – Lục Hào Tượng Giải (An Hạ)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lục hào dự đoán