Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Thuyên Chuyển, Tại Nhiệm Và Viện Lệ: Vinh Nhục Của Người Làm Quan

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch19/09/202613 phút đọc2 lượt đọc
Thuyên Chuyển, Tại Nhiệm Và Viện Lệ: Vinh Nhục Của Người Làm Quan

Một vị quan hỏi về vận nhiệm sở năm nay, thấy hào Thế biến ra Quan Quỷ liền hoảng sợ. Dã Hạc lão nhân trấn an: bản thân không việc gì, nhưng nhà sắp có tang — quả nhiên đến tháng tám năm đó, cha ông qua đời. Một người khác bỏ tiền mua chức quan, được quẻ Tài động sinh Quan tưởng chắc thành, nhưng hào Thế lại gặp Nguyệt phá: nộp bạc xong, chức tước lẫn mạng người đều mất. Tăng San Bốc Dịch xâu chuỗi ba chặng đời làm quan — đổi nhiệm sở đi đâu, tại chức lành hay dữ, con đường mua quan bằng tiền — vào cùng một trục hào Quan, hào Tài, hào Thế. Điều gì khiến cùng bỏ ra một món tiền, có người đổi đời, có người mất cả sinh mạng?


Nơi Nhiệm Sở Mới: Hào Quan Định Phương Hướng Thuyên Chuyển

Theo phép xưa, hào Quan thuộc kim ứng tại phương tây, hào Quan thuộc mộc ứng tại phương đông, thuộc thủy ứng tại phương bắc, thuộc hỏa ứng tại phương nam, thuộc thổ ứng tại trung ương.

Theo chiêm nghiệm của ta, hào Quan thuộc mộc có khi ứng tại Sơn Đông, cũng có khi ứng với Quảng Đông; hào Quan thuộc kim tuy ứng với Thiểm Tây, cũng có khi ứng với Quảng Tây, Giang Tây. Cũng có khi ứng vào hướng đông, tây, nam, bắc so với nơi ở của mình.

Ví dụ: Ngày Kỷ Tị tháng Mùi, người ở kinh đô xem phải thuyên chuyển đến nơi nào, được quẻ Quy Muội biến Giải:

Quẻ Lôi Trạch Quy Muội
Quẻ biến Lôi Thủy Giải

Lúc đó, có hai chỗ khuyết tại trấn Sơn Đông và Chân Định. Quẻ này Quan tinh tại Tị hỏa, nên đoán là thuyên chuyển đến Chân Định.

Người xem hỏi nguyên do, ta đáp: Quan tinh Tị hỏa ứng với phương nam, nên sẽ được điền khuyết tại Chân Định, vì nơi này nằm ở phía nam kinh đô. Sau quả nhiên được điền khuyết tại Chân Định.

Lại có thuyết coi hào sơ ứng với khu vực nội địa, hào 5, hào 6 ứng với vùng biên giới, ứng với hào sơ khi Thế và Quan đều tại hào sơ. Ứng với hào 5, hào 6 khi Thế ở hào 5, Quan ở hào 6, hoặc Thế ở hào 6, Quan ở hào 5, hoặc Quan tinh trì Thế cùng ở hào 5 hoặc hào 6. Nếu nằm tại các hào 2, 3 và 4 thì vẫn căn cứ vào ngũ hành để đoán.

Ví dụ: Ngày Quý Mùi tháng Sửu, xem được thăng chức đến nơi nào, được quẻ Sơn Phong Cổ:

Quẻ Sơn Phong Cổ

Quẻ này hào Quan Dậu kim trì Thế, nên đoán rằng sẽ nhiệm chức tại phương tây. Đến năm sau, lại có đợt thăng quan, nên xem tiếp xem thăng nhiệm tại phương nào.

Ngày Giáp Tuất tháng Dần, xem được quẻ Chấn:

Quẻ Chấn Vi Lôi

Ta vẫn ghi nhớ quẻ trước, Quan tinh Dậu kim trì Thế, nên đoán ở phương tây. Nay gặp quẻ này, Quan tinh vẫn là Thân kim, nên vẫn ứng với phương tây. Nhưng hào Thế nằm ở hào 6, nên sẽ thuyên chuyển đến vùng biên giới, nên mới hỏi: "Ở Thiểm Tây có chỗ điền khuyết tại biên giới không?".

Người xem đáp: "Có, tại Khánh Dương." Ta bèn nói: "Ông sẽ được điền khuyết đến đấy". Sau quả nhiên được thăng nhiệm đến Khánh Dương.

Dã Hạc bàn rằng: Đại khái là hỏi về nơi thuyên chuyển, tuy có ứng nghiệm, nhưng không bằng hỏi trực tiếp chỗ điền khuyết ấy có được hay không. Ví dụ: Vị trí này tôi có điền khuyết không? Có được vào Hàn Lâm viện không? Có được làm trong sáu bộ không? Có được làm quan Khoa đạo không? Có được làm quan phủ, quan huyện không?

Nếu Quan tinh trì Thế, Quan động sinh hợp hào Thế, Tam hợp Quan cục sinh hào Thế, chắc chắn sẽ được. Nếu hào Thế Không, Phá; hào Quan Không, Phá, đều không được. Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn phát động, cũng không được. Hào Quan tại hào Ứng, Tam hợp Quan cục sinh hào Ứng cũng không được.

Tại Nhiệm Cát Hung: Hào Quan, Hào Tài, Hào Huynh Định Vinh Nhục

Biết được nơi đến, câu hỏi tiếp là suốt quãng thời gian tại chức, phúc họa sẽ ra sao.

(CHUYỆN LÀNH DỮ NƠI NHIỆM CHỨC)

Quan vượng Tài hưng, sĩ đồ hiển hách; Tử dao Huynh động, giảm bổng hưu quan.

Quan vượng, Tài hưng, đường quan hiển hách; Tử động, Huynh động, giáng chức giảm lương.

Hào Quan vượng, được sinh phò, hoặc động mà hóa cát, hào Thế vượng, hào Tài vượng; hoặc hào Tài động sinh Thế, đều chủ về đường làm quan suôn sẻ, được dân chúng tín nhiệm.

Hào Quan lâm Nhật, Nguyệt, sinh hợp hào Thế tam hợp Quan cục sinh hợp hào Thế; hoặc Quan tinh trì Thế, được Nhật Nguyệt sinh phò, Thái Tuế lại tương sinh tương hợp, nếu là chức quan gần vua, sẽ có ân sủng đặc biệt; nếu là quan cao, sẽ được thăng tiến; nếu là quan bên ngoài, sẽ được chuyển về kinh thành.

Hào Huynh Đệ trì Thế, hào Huynh Đệ phát động, là tượng hao tài tán của, ắt sẽ phải giảm bổng trừ lương.

Hào Tử Tôn trì Thế, hoặc hào Tử động, là tượng thì mất quan giáng chức. Nếu Quan tinh hưu tù được phò trợ, Tử Tôn động mà bị ức chế, thì chỉ giáng cấp mà thôi.

Quan vượng Huynh hưng, thanh phong lưỡng tụ; Phụ phát Quỷ vượng, ân lộ tam tứ.

Quan vượng, Huynh hưng, thanh bần liêm khiết; Phụ động, Quỷ vượng, mưa móc dồi dào.

Hào Huynh động tuy là tượng giảm lộc, hao tài, nhưng cũng không nên câu nệ vào đó. Nếu hào Quan vượng tướng, chủ về làm quan thanh liêm ngay thẳng, không màng của phi nghĩa, chứ không phải không có tiền của.

Hào Quan vượng tướng, mà hào Tài gặp Không, Phá, cũng tương tự như thế.

Hào Phụ vượng, lâm Thế, hào Quan động, lâm Tuế ngũ, hoặc được Nhật Nguyệt sinh phò, nếu nhiệm chức ở tỉnh ngoài kinh, sẽ được tiến cử về kinh; nếu làm việc trong triều đình, sẽ tiếp tục được thăng tiến, ân sủng.

Tân bình thích: Đoán sự thanh liêm, không thể lấy Huynh Đệ có phát động hay không để phán đoán, có Huynh Đệ phát động, có lúc bởi vì nhiệm sở không có tiền của để tham ô. Xem bản tính của người ta, cần phải lấy lục thần lâm hào Thế để xem.

Huynh Quỷ an ninh, địa phương thiểu sự.

Huynh, Quỷ yên tĩnh, địa phương vô sự.

Còn nếu hào Huynh, hào Quỷ động trong quẻ là điềm hạn, lụt, thiên tai, nơi nhiệm chức nhiễu nhương bất ổn.

Tân bình thích: Hiện nay, nếu là cán bộ cấp tỉnh thì có thể phán đoán như vậy, nhưng nếu như là lãnh đạo của một đơn vị thì có thể phán đoán hiệu quả kinh tế của đơn vị đó ra sao.

Nhật Nguyệt xung khắc, phỉ báng đa chiêu.

Nhật Nguyệt xung khắc, rước nhiều phỉ báng.

Nhật thần, Nguyệt kiến khắc hào Quan hoặc hào Thế, hoặc Chu Tước, Đằng Xà khắc hào Thế, mà Thế hưu tù, ắt rước họa không nhẹ. Nếu hào Thế vượng tướng, được cứu giúp, chủ về nhiều điều tiếng thị phi. Nếu gặp quẻ này, nên tự kiềm chế bản thân, làm việc cần cù, để tránh lỗi lầm.

Hào Quan Quỷ khắc Thế, mà Thế vượng Quan suy, cũng chủ về trách móc phỉ báng. Nếu Thế suy Quan vượng, lại lâm Chu Tước, Đằng Xà, dễ bị mắc tội.

Hóa Tiến thần, xung biến hợp, gia quan tấn tước.

Hóa Tiến thần, xung biến hợp, thăng quan tiến chức.

Hào Thế vượng tướng, hào Quan hóa Tiến thần; hoặc Quan tinh vượng tướng, hào Thế hóa Tiến thần; hoặc hào Thế, hào Quan đắc địa, hào Tài hóa Tiến thần, đều là tượng thăng quan tiến chức.

Hào Phản ngâm, nhập Tam Mộ, phản phục hôn dung.

Quẻ Phản ngâm, nhập Tam Mộ, là tượng tráo trở hồ đồ.

Gặp quẻ Phản ngâm, tuy là tượng thân không được yên, nhưng nếu hào Thế và hào Quan vượng tướng, chắc chắn sẽ được thăng chức. Nếu hào Thế và hào Quan đều suy, sẽ bị giáng chức trách phạt, sau khi giáng chức vẫn còn chuyện phải lo sợ. Kỵ nhất là hào Thế và hào Quan bị xung bị khắc, sẽ gặp tai họa khó lường.

Hào Thế hưu tù bị khắc, hóa Mộ, nhập Mộ, chủ về sự việc tráo trở bất thường, sắp gặp tai họa. Hào Thế hữu khí mà nhập Mộ, hóa Mộ, chủ về hồ đồ, mù mờ.

Thế Phá Quan Không, cư quan bất cửu; Thân suy hóa Quỷ, mệnh tận đương nguy.

Thế Phá, Quan Không, làm quan chẳng lâu; Thân suy hóa Quỷ, tính mệnh nguy cấp.

Hào Thế Phá, Không, hào Quan Phá, Không, là tượng nhiệm chức không lâu.

Hào Thế suy, động hóa Quỷ hoặc hóa hồi đầu khắc, tính mệnh khó được duy trì.

Thế hóa Quan nhi ngộ Quan, chính quyền đa nhiếp;

Thế hóa Quan mà gặp Quan, nắm được nhiều quyền hành;

Hào Thế vượng tướng, hóa thành Quan tinh sinh hợp, tỷ trợ cho Thế, chủ về nắm được quyền hành. Hào Thế vượng tướng, hóa thành Quan tinh mà hình Thế, khắc Thế, lại chủ về bị hại bởi quyền hành. Hóa thành Quan tinh mà làm tiết khí hào Thế, chủ về liên lụy bởi quyền hành. Quan tinh trì Thế mà vượng, trong quẻ lại có hào Quan tinh động sinh trợ tỷ hợp, cũng chủ về nắm nhiều quyền hành.

Thế lâm Quan nhi ngộ Mã, sai khiển phiền lao.

Thế lâm Quan gặp Dịch Mã, bị sai khiến vất vả.

Quan tinh trì Thế phát động hoặc ám động, lại lâm Dịch Mã, chủ về sai khiến lao dịch. Nếu được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động làm hào Tài sinh phò, thì sẽ được ích lợi từ công việc sai dịch. Trong quẻ hào Huynh phát động, Nhật thần, Nguyệt kiến hào động hình khắc hào Thế, là tượng vất vả mà lại phải bồi thường tiền của. Nếu đang mong muốn nhận được chức sai dịch đó, không cần đợi lâm Dịch Mã, chỉ cần hào Thế động, sẽ có được.

Tân bình thích: Hiện nay đoán là đi công tác, có thể tham khảo.

Quan hợp Long hưng, ân mệnh chí.

Quan hợp Long động, ân điển đến.

Thanh Long Quan tinh trì Thế, hoặc hào Thế lâm Nhật, Nguyệt, hoặc Nhật, Nguyệt, hào động sinh hợp hào Thế, hoặc hào Thế lâm hào Tuế ngũ, hoặc hào Tuế ngũ sinh hợp Thế, hoặc hào Thế, hào Quan hình thành tam hợp, đều là điềm tốt. Nếu đang giữ chức vị cao, sẽ nhận được ân điển đặc biệt; nếu địa vị bình thường, sẽ được thăng quan tiến tước...

Tài lâm Hổ động, phó âm lai.

Tài lâm Hổ động, nhận tin buồn.

Hào Tài trì Thế, hoặc hào Tài động trong quẻ, hoặc hào Phụ Mẫu hưu tù, Không Phá, nếu trong nhà có trưởng bối, thì tuyệt đối không nên đoán về tiền của, mà nên phòng có tang.

Hai Quẻ Chứng Nghiệm: Tang Cha Và Hỏa Hoạn Giữa Nhiệm Sở

Hai lần xem thực tế của Dã Hạc lão nhân cho thấy họa phúc tại chức đôi khi không nằm ở chính quan trường.

Ví dụ: Ngày Nhâm Ngọ tháng Dần, xem chức vị đương nhiệm có được bình yên không, được quẻ Di biến Phệ Hạp:

Quẻ Sơn Lôi Di
Quẻ biến Hỏa Lôi Phệ Hạp

Có người đem ra quẻ này đến hỏi ta rằng: "Năm nay xem về lưu niên tại nhiệm sở, được hào Thế biến Quỷ, tôi rất lo sợ." Ta đáp: "Hào Thế Tuất thổ tuy hưu tù, nhưng được Nhật thần Ngọ hỏa tương sinh, nên bản thân không có gì đáng ngại, nhưng phòng có tang cha mẹ."

Người này bèn hỏi: "Hào Tài không lâm Bạch Hổ, sao lại có tang?" Ta đáp: "Lý luận như vậy là sai lầm, Nhật thần Ngọ xung động Tý thủy Phụ Mẫu, bị hào Tài Tuất thổ tương khắc, hào Thế lại hóa hào Quan lâm Không, ắt sẽ ứng vào tháng tám, tháng chín." Quả nhiên đến tháng tám có tang.

Lại ví dụ: Ngày Kỷ Sửu tháng Thìn, xem về chuyện lành dữ nơi nhiệm sở, được quẻ Trung Phu biến Tổn:

Quẻ Phong Trạch Trung Phu
Quẻ biến Sơn Trạch Tổn

Hào Quan Quỷ khắc Thế, may mà không động, nên nhiệm sở vẫn được bình yên. Nhưng hiềm vì hào Huynh trì Thế, bị Nhật thần Sửu xung động, nên đến mùa đông, bản thân sẽ phải di chuyển, thân động mà phí tổn không nhỏ. Người xem bèn hỏi: "Vì sao mà phải di chuyển?" Ta bèn hỏi: "Song thân của ông còn mạnh giỏi không?" Người xem bèn đáp, cha vẫn còn sống. Ta giảng giải rằng: "Cần đề phòng mùa đông, hỏa bị thủy thương khắc, nên phải lên đường vì việc tang."

Chẳng dè sang tháng sáu, nha môn bị hỏa hoạn; đến mùa đông, nhận được tin cha mất. Sở dĩ bị hỏa hoạn, vì hào Huynh trì Thế, ám động mà phá Tài; cha mất, là vì hào Phụ Tị hỏa hóa Tý thủy hồi đầu khắc.

Tân bình thích: Bị hỏa hoạn, bởi vì Tài lâm Chu Tước bị Nhật Nguyệt hào Thế khắc thương, lại Tuyệt ở hỏa. Cha mất, bởi vì hào 5 là cha, dương cũng là cha, tháng Tý hào biến đến vượng địa mà cha mất.

Viện Lệ: Dùng Tiền Mua Quan Tước Được Hay Mất

Ngoài con đường khoa cử, còn một lối tắt để có chức quan: bỏ tiền ra mua.

(DÙNG TIỀN MUA QUAN TƯỚC)

Tài vượng Quan Không, tự hữu đôi kim vu bạch ốc.

Tài vượng Thế vượng, mà Quan lâm Nguyệt phá Tuần Không, hoặc bị Nhật Nguyệt xung khắc, và động mà biến hung, Quan như gỗ mục cành khô, tuy có Tài vượng tướng nhưng sinh không khởi, cuối cùng chỉ là phú ông bình thường, khó ăn thiên lộc của nhà vua.

Tân bình thích: Trong xã hội có người phú quý song toàn, có người chỉ phú không quý, có người quý mà không phú. Có Tài vô Quan không thể cưỡng cầu.

Thê dao Quỷ vượng, định nhiên chấp ngọc bái đan trì.

Thế và Quan tinh Tài tinh, ba cái không được có một thất hãm, nếu Tài Quan đều vượng mà Thế thất hãm thì cuối cùng cũng được quan nhưng không có phúc để hưởng. Nếu Quan Thế đều vượng mà Tài tinh thất hãm thì có lệ nhưng không có tiền.

Như ngày Ất Mão tháng Sửu, xem viện lệ, được quẻ Dự biến Bĩ.

Quẻ Lôi Địa Dự
Quẻ biến Thiên Địa Bĩ

Đoán rằng: Tài động sinh Quan, không nên Thế lâm Nguyệt phá, Phá mà bị khắc, có được quan cũng không thể hưởng. Sau khi nạp tiền xong, danh bại người mất.

Lại như ngày Quý Sửu tháng Tuất, xem tặng bạc để khôi phục chức quan, được Khốn biến Đoài.

Quẻ Trạch Thủy Khốn
Quẻ biến Đoài Vi Trạch

Hào Thế hưu tù, động mà biến Quỷ, không nên làm. Người này không nghe. Tôi nói: Mùa thu sang năm rất xấu, danh thành cũng không thể ra làm quan. Quả nhiên tặng bạc, đến tháng giêng năm sau bị mắc nghẹn, tháng 7 chết.

Tài tĩnh Tử phi không dụng ý.

Tử Tôn trì Thế,Tài động hay không động đều không nên làm. Tài lâm Không Phá cũng không nên làm. Tử Tôn Tài tinh Quan tinh đều động thì có thể làm, tại sao vậy? Bởi vì Tử động sinh Tài, Tài động để sinh Quan.

Huynh hưng Tài động uổng lao tâm.

Hào Huynh Đệ trì Thế, hoặc hào Huynh phát động, chính là thần phá hao, lãng phí tiền bạc, cuối cùng không thành danh, nếu được Quan tinh cùng động thì có thể làm, tại sao vậy? Bởi vì dùng Quan Quỷ để chế Huynh.

Dã Hạc nói: Trong quẻ Quan tinh không động, nhưng gặp Huynh Đệ trì Thế, Huynh Phụ phát động, và hào Tài trì Thế hóa Huynh Đệ, thì đều không thành, cho dù có thành thì sau này cũng có sự cố khác, cuối cũng cũng không được ăn lộc.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch