Bài tổng quan
Tùy Quỷ Nhập Mộ: Khi Nào Hào Thế Theo Quỷ Vào Mộ Mới Thật Hung
Người vợ hỏi bệnh chồng vào ngày Mậu Thìn, được quẻ Đồng Nhân biến Ly. Dụng thần là hào Quan Quỷ Hợi thủy, mà Hợi nhập Mộ ở Thìn, chồng lại tuổi Quý Hợi: hào chồng, mệnh chồng cùng vào Mộ. Theo lối cũ thì người bệnh khó qua. Dã Hạc lão nhân đoán ngược lại: hôm sau sẽ khỏi, vì ngày Tị xung Hợi thủy ra khỏi Tuần Không để nhận Thân kim tương sinh. Giác Tử từng than rằng nếu tin trọn thuyết theo Quỷ nhập Mộ thì gặp ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi chẳng ai dám xem quẻ. Thử qua nhiều lần, chỉ còn ba trường hợp hào Thế nhập Mộ là ứng nghiệm, và chỉ ứng khi hào Thế hưu tù, Không, Phá. Vậy vì sao người cha quay lại đón con gái trong quẻ Đại Súc biến Thái vẫn không thoát khỏi giặc cướp?
Mục lục · 6 phần
- 01Tam Mộ và thuyết theo Quỷ nhập Mộ của phép xưa
- 02Hào chồng, mệnh chồng cùng nhập Mộ mà hôm sau khỏi bệnh: quẻ Đồng Nhân biến Ly
- 03Xung khai Mộ khố: quẻ Tiểu Quá biến Cấn, quẻ Hằng, quẻ Cổ biến Tổn
- 04Ba trường hợp hào Thế nhập Mộ có ứng nghiệm
- 05Hào Thế nhập Mộ trong từng việc xem: công danh, hôn nhân, bệnh tật, kiện tụng
- 06Hào Thế tại Quỷ gặp Nguyệt phá: quẻ Đại Súc biến Thái
Tam Mộ và thuyết theo Quỷ nhập Mộ của phép xưa
Phép xưa có định ra Tam Mộ, tức Nhật Mộ (nhập Mộ tại Nhật thần), động Mộ (nhập Mộ tại hào động), hóa Mộ (nhập Mộ tại hào biến).
Còn có: Hào Thế theo Quỷ nhập Mộ; bản mệnh theo Quỷ nhập Mộ; thân quẻ theo Quỷ nhập Mộ; thân Thế theo Quỷ nhập Mộ.
Giác Tử bàn rằng: Theo như lý luận trên, nếu gặp các ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, thì chẳng dám xem quẻ, bởi vì vào những ngày đó, chẳng phải hào Thế tại Quỷ, thì là thân quẻ gặp Quỷ; chẳng phải thân Thế tại Quỷ, thì là bản mệnh gặp Quỷ. Vả lại không chỉ riêng các ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, mà những ngày khác cũng không dám xem. Tại sao như vậy? Vì trong mười quẻ, chắc chắn sẽ gặp phải hai, ba hào Mộ phát động, chẳng phải là Thế, mệnh nhập Mộ, cũng là thân quẻ, thân Thế nhập Mộ; lại thêm động mà hóa Mộ, nếu chẳng phải do hào Thế động hóa, thì là hai thân (thân quẻ, thân Thế) động hóa. Nếu không, cũng khó bảo đảm bản mệnh không hóa Mộ.
Trong một quẻ, không cần phải xem đến hình, xung, khắc, hại, phá, tán, tuyệt, không, phàm là khi xem về các việc bệnh tật, hung hiểm, chỉ cần xem "theo Quỷ nhập Mộ" là đã có thể đoán định được cát hung. Ta nhiều lần xem về tật bệnh, lưu ý xem kỹ từng quẻ, thấy nếu như Dụng thần vượng, thì hai thân (thân quẻ, thân Thế) có theo Quỷ nhập Mộ, cũng không chết; bản mệnh có theo Quỷ nhập Mộ, cũng không chết; hóa Mộ, động Mộ cũng không chết. Bảo lưu để đợi chứng nghiệm, không ứng nghiệm lại thử; thử mà không ứng nghiệm, lại thử tiếp. Một đến mười, mười đến trăm, nếu đều không ứng nghiệm, thì bỏ điều đó đi. Nếu hào Thế hào Dụng theo Quỷ nhập Nhật Mộ, nhập động Mộ, hoặc động mà hóa Mộ, mà bản thân hào lại hưu tù vô khí, mới gặp phải hung hiểm; nếu hào Thế, hào Dụng vượng hoặc được trợ giúp, vẫn sẽ được giải cứu.
Tân bình thích: Lý luận của Giác Tử rất chính xác, thái độ nghiên cứu học vấn của ông ta cũng đáng được mỗi Dịch học giả lấy làm gương. Bốc quái quý ở linh hoạt biến thông, nhiều lần nghiệm chứng, những giảng giải trong sách cổ không hẳn hoàn toàn đúng, có một số khẩu quyết đoán quẻ là có điều kiện, một số khẩu quyết vẫn cần phải liên tục tổng kết quy luật trong thực tiễn mới có thể nâng cao tỷ lệ chính xác khi đoán quẻ.
Hào chồng, mệnh chồng cùng nhập Mộ mà hôm sau khỏi bệnh: quẻ Đồng Nhân biến Ly
Lời Giác Tử cần một quẻ làm chứng, và quẻ ấy đến từ một người vợ đang lo cho chồng.
Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Thân, xem về bệnh của chồng mệnh Quý Hợi, được quẻ Đồng Nhân biến Ly:


Ta đoán rằng: Vợ xem bệnh cho chồng, lấy hào Quan Quỷ Hợi thủy làm Dụng thần, Hợi nhập Mộ vào ngày Thìn, như vậy hào chồng, mệnh chồng đều nhập Mộ, nếu đoán theo lối cũ, người chồng ắt sẽ chết. Nhưng ta lại đoán: "Không những không chết, mà hôm sau sẽ khỏi bệnh." Như vậy là dựa vào đâu? Do Nhật thần Thìn xung động hào Tuất thổ để sinh ra Thân kim. Do hào Thế Hợi thủy Không Vong, nên không được tương sinh. Hôm sau là ngày Kỷ Tị, sẽ xung Hợi thủy, như vậy, sẽ được Thân kim tương sinh, bệnh sẽ khỏi. Quả nhiên người chồng khỏi bệnh vào hôm sau.
Tân bình thích: Dự đoán cát hung lấy Dụng thần suy vượng tức lý pháp làm chủ, lấy 12 cung trường sinh tức tượng pháp làm phụ, Dụng thần nhập Mộ, chính là tượng bệnh nhân có bệnh ở nhà, hoặc nhập viện, hoặc hôn mê, hoặc tinh thần hoảng hốt. Ví dụ trên mặc dù Dụng bị Nhật thần khắc, nhưng được Nguyệt sinh, lại có Nguyên thần độc phát, sinh nhiều khắc ít là cát. Có ba lý chứng tỏ ngày Tị khỏi bệnh. Một là Dụng thần Không Vong, Không mà không được Nguyên thần sinh, ngày hôm sau xung thực, bệnh gần gặp xung sẽ khỏi. Hai là Dụng thần nhập Mộ, ứng kỳ của nó là xuất Mộ gặp xung, tức là lúc Mộ khố hoặc Dụng thần gặp xung. Bệnh gần đa số có ứng nghiệm. Hơn nữa quẻ này một hào độc phát, động mà gặp trị gặp hợp, cũng là ứng kỳ của quẻ độc phát.
Xung khai Mộ khố: quẻ Tiểu Quá biến Cấn, quẻ Hằng, quẻ Cổ biến Tổn
Mộ không phải là chỗ hết, nó là cánh cửa đóng chờ ngày bị xung mở.
Lại ví dụ: Ngày Giáp Dần tháng Tuất, xem thi Hội có đỗ không, được quẻ Tiểu Quá biến Cấn:


Ta đoán rằng: Hào Thế theo Quan nhập Tam Mộ, tức động Mộ (gặp Mộ tại hào động Tuất thổ), hóa Mộ, lại nhập Mộ tại Nguyệt kiến (Tuất). Năm sau là năm Thìn, sẽ xung khai Mộ khố, là lúc đề danh thi đỗ. Lại gặp tháng Thìn, xung khai Tam Mộ, không những thi đỗ, mà còn đỗ vào hàng Giáp (thứ nhất). Nhật thần, Nguyệt kiến hợp thành Quan cục, vượng tướng đương thời. Quẻ này rất đẹp, như viên ngọc không tỳ vết. Quả nhiên sau được đề danh bảng vàng.
Tân bình thích: Trước đây nói Tam Mộ không bao gồm Nguyệt Mộ, ở đây lại nói nhập Nguyệt Mộ, có phần không ổn. Quẻ này bởi vì Dần mộc và Tuất thổ tạo thành tam hợp cục, nên không lấy Mộ khố để luận. Nếu luận nhập Mộ, Mộ khố là văn thư, cũng là quái tượng người này say mê sách vở, yêu thích học tập. Quẻ này tam hợp Quan cục, vì vậy thi Hội sẽ thuận buồm xuôi gió, được đề danh bảng vàng.
Lại ví dụ: Vào ngày Kỷ Sửu tháng Thân, xem về bệnh tật cho người mệnh Nhâm Thân, được quẻ Hằng:

Trong quẻ này, mệnh Thân theo Quỷ nhập Mộ, hào Thế theo Quỷ nhập Mộ (hào Thế Thân kim nhập Mộ tại ngày Sửu), thân Thế lại gặp Tuần Không, thân quẻ (ở Dần) gặp Nguyệt phá (Thân), nếu xem theo phép cũ, người này ắt chết mười mươi. Nhưng ta thấy hào Thế vượng tướng (hào Thế thuộc kim, xem vào tháng Sửu thuộc mùa thu, lại được Nhật thần Sửu thổ tương sinh), nên đoán là đến ngày Mùi khỏi bệnh. Sau quả đến ngày Mùi bệnh tình thuyên giảm.
Sở dĩ ứng nghiệm vào ngày Mùi, là vì xung khai được ngày Mộ là Sửu mà dậy. Phép xem cũ cho rằng Mộ là tượng ngưng trệ, hôn mê, rất có lý. Người này trong lúc ốm không uống thuốc, hôn mê bất tỉnh cho đến ngày Mùi, đột nhiên tỉnh dậy, không uống thuốc mà khỏi bệnh. Bởi vậy, sao có thể cứng nhắc cho rằng theo Quỷ nhập Mộ chắc chắn sẽ chết.
Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Mùi, xem bản thân đang bị khép trọng tội, liệu có được ân xá không, được quẻ Cổ biến Tổn:


Hào Thế Dậu theo Quỷ nhập Mộ tại hào động Sửu thổ, lại động hóa Mộ (Sửu), nếu xem theo lối cổ, đây là điềm hung, nhưng ta lại cho đây là điềm tốt. Hào Thế được Nhật thần Thìn thổ, Nguyệt kiến Mùi thổ tương sinh nên vượng, mà Mộ Sửu gặp Nguyệt phá, nên Thế dễ dàng ra khỏi Mộ. Năm sau là năm Dậu, chắc chắn sẽ được ân xá. Sau quả nhiên được ân xá vào tháng Thìn năm sau, do bấy giờ Thế vượng, ứng vào tháng Thìn vì Thìn hợp với Thế.
Ba trường hợp hào Thế nhập Mộ có ứng nghiệm
Gạt đi những thứ Mộ không nghiệm, phần còn lại gọn trong ba điều.
Ta chiêm nghiệm qua nhiều lần thử, thấy hào Thế nhập Mộ chỉ ứng nghiệm ở ba trường hợp sau:
Thứ nhất, hào Thế theo Quỷ nhập Mộ ở Nhật thần
Thứ hai, hào Thế nhập động Mộ (nhập Mộ ở hào động).
Thứ ba, hào Thế động mà hóa Mộ.
Trong ba loại Mộ trên đây, nếu tự xem cho mình thì xem hào Thế, nếu hào Thế vượng tướng, sẽ không ứng nghiệm. Xem thay người khác, thì xem Dụng thần. Nếu Dụng thần vượng tướng, sẽ không ứng nghiệm (không phải Mộ thật). Chỉ khi hào Thế, hào Dụng hưu tù, bị khắc, lại nhập Mộ, mới ứng nghiệm. Nếu như Mộ bị hào động, Nhật thần, Nguyệt kiến xung phá, cũng không ứng nghiệm. Mộ gặp phá cũng như lưới bị rách, dễ dàng thoát ra ngoài.
Tân bình thích: Lý luận này rất đúng, tôi thường được nghiệm đoán sinh nở Mộ khố Tử Tôn Nguyệt phá mà dễ sinh, đoán đòi nợ Tài khố Nguyệt phá mà dễ đòi về, đoán tìm đồ vật Tài Mộ Nguyệt phá mà thấy được. Đoán hành nhân thì dễ gặp Dụng thần nhập Mộ, Dụng thần vượng mà nhập Nhật Mộ, đa số ứng hôm đó trở về ngay.
Hào Thế nhập Mộ trong từng việc xem: công danh, hôn nhân, bệnh tật, kiện tụng
Cùng một phép vượng thì đợi xung khai, suy thì hung, đem soi vào mỗi việc lại ra một lời đoán riêng.
Xem về công danh: Nếu hào Thế vượng, đắc địa, đợi đến năm, tháng xung khai Mộ khố sẽ được thành danh. Nếu hào Thế Không, Phá, hưu tù, thì công danh khó thành tựu.
Xem về thân mệnh: Nếu hào Thế vượng, đắc địa, thì đợi đến năm, tháng xung khai Mộ khố sẽ phát đạt. Nếu hào Thế gặp Không, Phá, hưu tù, thì một đời lặng lẽ vô danh.
Xem về làm quan, xuất hành: Nếu hào Thế vượng, đắc địa, đợi đến ngày xung Mộ, sẽ được toại nguyện. Nếu hào Thế gặp Không, Phá, hưu tù, thì phần nhiều là ra đi không có ngày về.
Xem về mưu sự hoặc cầu tài: Nếu hào Thế vượng, đợi đến ngày, tháng xung Mộ, việc sẽ thành. Nếu gặp Không, Phá, hưu tù, sự việc sẽ không thành.
Xem về hôn nhân: Nếu hào Thế vượng, đắc địa, hào Tài hữu khí và sinh Thế, thì đợi đến ngày, tháng xung khởi Mộ khố, hôn sự sẽ thành. Nếu gặp Không, Phá, hưu tù thì hôn sự khó thành.
Xem về bệnh tật: Nếu hào Thế vượng, đắc địa, đợi đến ngày, tháng xung khai Mộ khố, bệnh sẽ khỏi. Nếu hào Thế gặp Không, Phá, hưu tù, đến ngày xung khai Mộ khố sẽ gặp nguy. Nếu là bệnh gần gặp Không thì không đáng ngại, đợi đến ngày xuất Không bệnh sẽ lành.
Xem về ngục tù: Nếu hào Thế vượng sẽ được thoát nạn; nếu hào Thế hưu tù, Không Vong thì khó tránh được hung hại.
Xem về người đi xa: Dụng thần hóa Mộ, hoặc nhập động Mộ, nếu Dụng thần vượng tướng, người đi xa sẽ trở về; nếu Dụng thần gặp Không, Phá, hưu tù, chẳng phải đau ốm ở quê người, cũng là điềm lưu lạc phương xa.
Xem về thai sản: Hào Tài, hào Tử Tôn nhập động Mộ, hóa Mộ, nếu là vượng tướng thì đợi ngày, tháng xung khai Mộ khố sẽ sinh. Nếu hào Tài gặp Không, Phá, hưu tù, vợ sẽ khó đẻ. Nếu hào Tử Tôn gặp Không Phá, hưu tù thì con sẽ nguy vong.
Xem về việc quan ti: Nếu hào Thế vượng, đắc địa, đến tháng, năm xung Mộ sẽ được như ý, nếu hào Thế gặp Không, Phá, hưu tù, dễ bị gông cùm, hình ngục.
Xem về gia trạch: Nếu hào Thế vượng, hoặc hoặc được hào Tài sinh Thế, đợi đến năm, tháng xung khai Mộ khố sẽ vượng phát. Nếu hào Thế Không, Phá, hưu tù, thì tán gia bại nghiệp.
Xem về mồ mả tổ tiên: Tương tự như trường hợp xem về gia trạch. Nếu xem về sinh phần chưa chôn cất, thì dù hào Thế vượng tướng hay hưu tù, nhập Mộ đều không nên.
Xem về việc nguy hiểm: Nếu hào Thế vượng tướng, lại được sinh phò, tuy không gặp nguy hiểm, nhưng vẫn phải lo lắng không yên, là bởi vì Quỷ ở bên mình.
Xem về kiện tụng: Nếu hào Thế vượng, sẽ được lý. Nếu hào Thế Không, Phá, hưu tù, bị khắc, ắt phải chịu hình ngục.
Xem về bất kỳ chuyện gì, nếu hào Thế vượng, mà hào Mộ gặp Không, Phá, đợi đến tháng, ngày hào Mộ được điền thực sẽ cát. Nếu hào Thế Không, Phá, hưu tù, đến ngày, tháng hào Thế được điền thực sẽ hung.
Hào Thế tại Quỷ gặp Nguyệt phá: quẻ Đại Súc biến Thái
Còn một lời của sách xưa phải xét lại, rằng Quỷ ở hào Thế gặp Phá thì tai qua nạn khỏi.
Sách xưa cho rằng, nếu xem về tai họa mà hào Thế tại Quỷ gặp Phá, là điềm tai qua nạn khỏi. Ta cho rằng đó là sai lầm, Nguyệt phá vốn đã là Quỷ Đại Bạch Hổ, tuy trước mắt không đáng ngại, nhưng đến năm, tháng thực Phá, ắt gặp tai ương.
Ví dụ: Ngày Kỷ Mùi tháng Thân, xem giặc cướp có đến không, được quẻ Đại Súc biến Thái.


Trong quẻ này hào Thế tại Quỷ Dần gặp Nguyệt phá, nhập Mộ tại Nhật thần, ắt nguy đến bản thân. Hào thượng Quỷ động mà biến thành Tử Tôn, là điềm con cái gặp nguy hiểm. Thời đó, giặc cướp nổi dậy, cướp phá nhiều nơi, người dân không được yên thân. Một hôm, người này nghe tin giặc cướp đến, bèn dẫn vợ đi trốn. Nhưng vì con gái nhỏ không theo kịp, nên quay lại đón con gái, kết quả cả hai cha con đều bị giặc cướp giết hại. Như vậy, nếu theo phép cổ, cho rằng hào Thế tại Quỷ gặp Phá là điềm tai qua nạn khỏi, là sai lầm. Thế nhưng nếu hào Thế tại Quỷ gặp Nguyệt phá nhưng không động thì không ứng nghiệm.
Lý Ngã Bình bàn rằng: Phần này bàn về trường hợp "theo Quỷ nhập Mộ", quả thực giúp người ta mở mang tầm mắt. Tại mỗi quẻ hầu như đều có thể gặp động Mộ, hóa Mộ; lại nếu như xem vào các ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, hào Mộ trùng trùng, nếu tính thêm cả hai thân Thế, mệnh, thì chắc chắn sẽ có một vài thứ phải nhập Mộ. Quan điểm bàn luận ở đây không mượn ở sách khác. Huống nữa trong các sách khi bàn về nhập Mộ, đều không tính đến vượng suy, mà nhất loạt cho rằng theo Quỷ nhập Mộ là điềm dữ. Nếu xem về công danh, mà hào Quan vượng tướng, sao có thể cho rằng, lên đường làm quan không có ngày về. Xem về tai họa, hào Thế gặp Nguyệt phá, lại theo Quỷ nhập Mộ, sao lại có thể cho rằng không đáng ngại. Cát hung lẫn lộn, thật là gây hại cho chính lý.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
