Bài tổng quan
Chương Sản Dục Và Tiến Nhân Khẩu: Xem Thai Sản, Con Nuôi, Người Ở
Việc thêm người trong nhà, dù bằng sinh nở hay nhận nuôi, đều được Lục Hào xem qua hai phép Sản Dục và Tiến Nhân Khẩu. Sản Dục xét việc mang thai, trai hay gái, thai nghén an hay nguy qua sáu hào, rồi luận về ngày sinh khó dễ, bà đỡ, vú em và những điềm lành dữ khi sinh nở. Tiến Nhân Khẩu xét việc nhận con nuôi, mua tôi tớ, thu nhận người ở, cùng chuyện giao dịch, vai trò gian hào môi giới và việc nhận nuôi trẻ bị bỏ rơi. Vì vậy, cùng một bộ sáu hào vừa soi đứa trẻ sắp chào đời, vừa soi người lạ sắp bước vào gia đình. Ngay câu phú đầu của Sản Dục đã rất lạ: quẻ du hồn gặp Quan Quỷ lâm Không là điềm sinh con khi cha vắng mặt.
Sản Dục: mở đầu và câu 1–20
Sản Dục (sinh nở) — cách xem việc mang thai, biết trai gái, thai nghén an nguy và ngày sinh qua sáu hào của quẻ Bốc Dịch.
Mở đầu
首出混沌判乾坤而生人物 - 繼興太昊制嫁娶以合夫婦 - 迄今數千百年化生不絕 - 雖至幾億萬世絡繹無窮 - 蓋得陰陽交感方能胎孕相生 - 先看子孫便知男女 - 陽為男子掌中探見一枝新 - 陰是女兒門右喜看弧悅設
Thủ xuất hỗn độn phán càn khôn nhi sinh nhân vật
Kế hưng Thái Hạo chế giá thú dĩ hợp phu thê
Hất kim số thiên bách niên hóa sinh vất tuyệt
Tuy chí cơ ức vạn thế lạc dịch vô cùng
Cái đắc âm dương giao cảm, phương năng thai dựng tương sinh
Tiên khán Tử Tôn, cánh tri nam nữ
Dương vi nam tử chưởng trung thám kiến nhất chi tân
Âm thị nữ nhi môn hữu hỉ khán hồ thuế thiết
Ban đầu xuất hiện hỗn độn rồi phân càn khôn mà sinh ra người vật
Thái Hạo (tức Phục Hy, một vua thời tối cổ ở Trung Quốc) nối tiếp tạo giá thú để hợp vợ chồng
Đến nay trải mấy ngàn năm sinh sản không dứt
Tuy đến vạn ức đời cũng vẫn còn nối tiếp không dứt.
Vốn nhờ âm dương giao cảm, mới có thai mà sinh đẻ
Trước xem Tử Tôn, rồi biết nam nữ
Dương là trai, trong tay nắm một cành cây mới
Âm là gái, bên phải cửa mừng thấy bày cung và khăn. (Ở thiên Nội Tắc trong Lễ Kinh ghi: sinh con, trai thì treo cung bên trái của cổng, gái thì treo khăn bên phải của cổng — câu phú trên không đúng hẳn với ý Kinh.)
Tử Tôn là Dụng thần khi xem về sinh sản. Vượng tướng, đơn, trùng tức hào dương thì sinh nam; hưu tù giao chiết là hào âm thì sinh nữ.
1.
主星生旺當生俊秀之肥兒 - 命曜休囚必產委靡之弱子
Chủ tinh sinh vượng đương sinh tuấn tú chi phì nhi
Mệnh diệu hưu tù tất sản uỷ mị chi nhược tử
Dụng thần sinh vượng thì sinh con mập mạp tuấn tú,
Dụng thần hưu tù tất sinh con bạc nhược ốm yếu.
Tử Tôn được sinh vượng tất con béo mập, về sau tuấn tú vượt trội. Hưu tù thì gầy bé, ngày sau chủ kém cỏi khó tiến bộ.
2.
如無福德莫究胎爻
Như vô Phúc Đức mạc cứu thai hào
Nếu không có hào Tử Tôn chớ xét hào Thai.
Dụng thần không xuất hiện trong quẻ, xem Phục thần ở dưới hào nào, rồi xem hung cát mà đoán.
3.
雙胎雙福必雙生 - 一剋一刑終一夢
Song Thai song Phúc tất song sinh
Nhất khắc nhất hình chung nhất mộng
Hai hào Thai, hai hào Phúc tất sinh đôi.
Một hào bị khắc, một bị Hình thì như giấc mộng.
Trong quẻ có hai hào Tử Tôn, lại có hai hào Thai, nếu không phát động cũng chủ sinh đôi. Nếu Tử hóa Tử, Thai hóa Thai mà là hóa Thoái chủ song thai mà không đậu. Xem động tĩnh âm dương có thể đoán nam hay nữ. Chẳng hạn một động, một tĩnh, một âm, một dương là một trai một gái chẳng hạn. Quẻ không có Tử Tôn nếu hào Thai bị Nguyệt kiến, Nhật thần, động hào hình khắc là điềm đại hung, chỉ là mộng ảo tức báo là con sẽ chết. Tử Tôn suy nhược, bị khắc cũng vậy.
4.
胎臨官鬼懷孕便有採薪憂 - 財化子孫分娩即當勿藥喜
Thai lâm Quan Quỷ hoài nhậm tiện hữu thái tân ưu
Tài hóa Tử Tôn phân miễn tức đương vật dược hỉ
Thai ở Quan Quỷ mang thai tất có bệnh
Tài hóa Tử Tôn có thai mừng khỏi uống thuốc.
Quan Quỷ ở hào Thai phụ nữ mang thai có bệnh. Tài hợp hào Phúc tất sẽ bình an.
5.
妻財一位喜見扶持 - 胎福二爻怕逢傷害
Thê Tài nhất vị hỉ kiến phù trì
Thai Phúc nhị hào phạ phùng thương hại
Hào Thê Tài mừng được phò trợ,
Hai hào Thai, Phúc sợ gặp khắc hại.
Chồng xem cho vợ thì Tài là sản phụ, Thai là bào thai, Phúc là con. Ba hào đều mừng được Nguyệt kiến, Nhật thần, động hào sinh phò hợp trợ, tất sản phụ bình an, thai ổn định, con dễ nuôi. Nếu gặp hình, xung, khắc hại thì sản phụ nhiều tai ương, thai không yên, con khó nuôi. Nếu hóa thành Tử, Mộ, Không, Tuyệt cũng vậy.
6.
虎作血神值子交重胎已破
Hổ tác huyết thần trị Tử giao trùng thai dĩ phá
Bạch hổ là huyết thần, ở Tử Tôn mà động thì thai đã bị hư.
Bạch Hổ là Huyết thần, nếu lâm Tử Tôn hoặc lâm hào Thai mà phát động thì thai đã bị hư. Nếu lâm Thê Tài mà động thì cũng như thế.
7.
龍為喜氣遇胎發動日將臨
Thai vi hỉ khí, ngộ Thai phát động nhật tương lâm
Thai là điềm mừng, gặp Thai phát động thì ngày sinh sắp đến.
Xem sinh sản lấy Thanh Long làm điềm mừng, nếu lâm hào Thai, Tử Tôn hoặc Thê Tài mà động thì ngày sinh sắp đến, tất nhiên đúng ngày đó sẽ sinh.
8.
福遇龍空胎動乃墜胎虛喜
Phúc ngộ Long Không, Thai động nãi truy thai hư hỉ
Phúc gặp Long lâm Không, Thai động thì trụy thai, mừng hụt.
Phúc lâm Thanh Long mà lâm Không tất bị chế, lại thấy hào Thai phát động, hoặc bị Nhật thần, động hào xung động, tất bị truy thai mà mừng hụt.
9.
官當虎動福空乃半產空娠
Quan đương Hổ động, Phúc Không nãi bán sản không thần
Quan có Bạch Hổ động, Phúc lâm Không là có thai mà bị tiểu sản.
Bạch Hổ lâm Quan phát động, hoặc lâm Tài động hóa Quan, hoặc lâm Quỷ động gặp Không hóa Không, hoặc bị xung tán, là tượng bị tiểu sản (đẻ non), con không nuôi được.
10.
福已動而日又冲胎兒必預生於膝下
Phúc dĩ động nhi Nhật hựu xung Thai, nhi tất dự sinh ư tất hạ
Phúc đã động mà Nhật lại xung Thai thì con tất đã sinh ở dưới chân.
Phúc thần phát động mà Nhật thần xung Thai thì con tất đã sinh dưới chân.
11.
福被傷而胎化鬼子當屈死於腹中
Phúc bị thương nhi Thai hóa Quỷ, tử đương khuất tử ư phúc trung
Phúc bị thương mà Thai hóa Quỷ, con tất chết trong bụng.
Tử Tôn lâm Mộ, Tuyệt, lại bị Nhật Nguyệt, động hào hình xung khắc hại tất đại hung, hoặc Thai lâm Quan, động hóa Quỷ thì là thai đã chết. Nếu hào Tài bị thương, phòng mẹ con đều bị nạn.
12.
兄動兮不利其妻 - 父興兮難為厥子
Huynh động hề bất lợi kỳ thê
Phụ hưng hề nan vi quyết tử
Huynh động tất không lợi cho vợ,
Phụ động thì con gặp nạn.
Huynh động tất khắc Thê Tài, Phụ động tất khắc Tử Tôn. Chồng xem vợ sinh, gặp Huynh động tất sản phụ bất an, gặp Phụ động thì con gặp nạn.
13.
用在空亡逢惡煞何妨坐草之虞
Dụng tại Không Vong, phùng ác sát hà phương tọa thảo chi ngu
Dụng ở Không vong, gặp ác sát chẳng có gì lo khi sinh sản.
Phụ hào phát động vốn khắc Tử Tôn, nếu hào Phúc được Nguyệt kiến, Nhật thần phò trợ, hoặc lâm Không mà chẳng chịu khắc, cho nên bảo rằng "vô ngu" (không lo).
14.
妻臨玄武入陰宮果應夢蘭之兆
Thê lâm Huyền Vũ nhập âm cung, quả ứng mộng lan chi triệu
Thê Tài lâm Huyền Vũ ở cung âm tất ứng điềm có thai.
Tốn, Li, Khôn, Đoài thuộc âm. Nếu hai hào Tài và Tử đều thuộc vào cung này tất sinh nữ. Nếu Tài lâm Huyền Vũ, hoặc tác hợp với ứng hào, bàng hào, Huyền Vũ tất tư thông mà có thai.
15.
剋世剋身誕生日迫
Khắc Thế khắc Thân đản sinh nhật bách
Khắc Thế, khắc Thân ngày sinh đã gần kề.
Được Tử Tôn, hào Thai xung khắc Thế Thân, ngày sinh đã gấp, phải lấy ngày giờ để đoán.
16.
不冲不發產日時遲
Bất xung bất phát sản nhật thời trì
Không xung, không động ngày sinh thường trễ.
Thai và Phúc không động lại không bị ám xung, tất chậm trễ, nên đợi đến lúc ngày tháng xung.
17.
胎福齊興官父合臨產難生
Thai Phúc tề hưng Quan Phụ hợp lâm, sản nan sinh
Hào Thai và Phúc đều động mà hợp với Quan, Phụ, đến lúc sinh khó đẻ.
Hai hào Thai, Phúc phát động vốn chủ dễ sinh. Nếu bị Quan Quỷ, Phụ Mẫu, động hào hợp trú, hoặc Nhật thần hợp trú đều chủ khó sinh. Đợi ngày xung phá mới có thể sinh được.
18.
子財皆絕日辰扶將危有救
Tử Tài giai Tuyệt, Nhật thần phù tương nguy hữu cứu
Tử và Tài đều Tuyệt mà được Nhật thần phò trợ, sắp nguy thì được cứu.
Nếu gặp hai hào Tử và Tài đều ở Mộ, Tuyệt chắc chắn là hung. Nếu được Nhật thần, động hào sinh phò thì là điềm gặp nguy mà được cứu.
19.
間合間生全賴收生之力
Gian hợp gian sinh toàn lại thu sinh chi lực
Gian hào hợp, gian hào sinh thì hoàn toàn nhờ sức của bà đỡ.
Dùng gian hào để đoán là bà đỡ. Nếu động mà sinh hợp với hào Tài tất nhờ sức của bà nuôi đẻ.
20.
官空官伏定然遺腹之兒
Quan Không, Quan phục định nhiên di phúc chi nhi
Quan hào lâm Không, Quan hào phục chắc chắn là để lại đứa con trong bụng vợ.
Nếu người ngoài hoặc sản phụ đến xem gặp quẻ không có hào Quan Quỷ, hoặc Quan lâm Không, Tử Tuyệt, chỉ chồng của sản phụ đã chết, để lại đứa con trong bụng. Nếu hào Quan phục nhưng vượng tướng hoặc được đề bạt tất cha đứa trẻ đi xa, vắng mặt khi sinh đứa bé.
Sản Dục: câu 21–41
21.
遊魂卦官鬼空亡乃背爹落地
Du hồn quái Quan Quỷ Không vong, nãi bối da lạc địa
Quẻ du hồn, Quan Quỷ lâm Không là sinh con vắng mặt cha.
Gặp quẻ Du hồn Quan Quỷ lâm Không, nếu chưa vượt qua tháng (luận chưa ra khỏi tháng vì sợ trường hợp sẽ xuất Không, hoặc qua tháng thì vượng, suy sẽ khác) chắc chắn chủ chồng đi xa mà ở nhà sinh, ấy là bối sinh. Nếu chồng tự đi xem thì không luận hào Quan mà dùng hào Thế. Nếu Thế hào lâm Không gặp quẻ Du hồn, chủ sau khi đi khỏi nhà thì sinh con.
22.
發動爻父兄刑害必攜子歸泉
Phát động hào Phụ Huynh hình hại tất huề tử qui tuyền
Phụ hào phát động, Huynh hình hại tất mẹ dẫn con về chốn cửu tuyền.
Hào Huynh, Phụ nếu nắm quyền, vượng tướng, khi động thì hình khắc Thê Tài, Tử Tôn. Nếu hai hào Tài và Phúc không được trợ giúp chủ mẹ con đều gặp hung.
23.
官化福胎前多病 - 財化鬼產後多災
Quan hóa Phúc thai tiền đa bệnh
Tài hóa Quỷ sản hậu đa tai
Quan hóa Tử, Thai thì trước khi sinh nhiều bệnh.
Tài hóa Quỷ sau khi sinh nhiều tai ương.
Quỷ hóa Tử Tôn chủ có bệnh trước khi sinh con. Tài hóa Quan Quỷ e rằng sau khi sinh gặp tai nạn.
24.
三合成兄而缺乳 - 六冲遇子婦安然
Tam hợp thành Huynh nhi khuyết nhũ
Lục xung ngộ Tử phụ an nhiên
Tam hợp thành Huynh cục, con thiếu bú
Lục xung gặp Tử, mẹ yên ổn.
Quẻ có tam hợp tạo thành Huynh Đệ cục, sinh con tất sữa mẹ thiếu. Chồng đi xem tất phòng vợ bị khắc. Nếu được hào Phúc phát động hoặc an tĩnh nhưng được Nhật thần xung động tất hào Tài có sinh khí cho nên sản phụ yên ổn.
25.
應若逢空外家無催生之禮物
Ứng nhược phùng Không, ngoại gia vô thôi sinh chi lễ vật
Ứng nếu lâm Không tất nhà ngoại không có lễ vật để thúc sinh mau.
Dùng hào Ứng để làm nhà ngoại, nếu lâm Không tất không có lễ vật thúc sinh.
26.
世如值弟自家調理絕之肥甘
Thế như trị Đệ, tự gia điều lý tuyệt chi phì cam
Thế nếu ở hào Huynh, thì tự mình nuôi dưỡng không dồi dào.
Huynh ở Thế mà suy thì nhà nghèo tất sản phụ được nuôi dưỡng không đầy đủ.
27.
陽福會青龍無異桂庭之秀子 - 陰孫非月建何殊桃洞之仙姬
Dương Phúc hội Thanh Long, vô dị quế đình chi tú tử
Âm Tôn phi Nguyệt kiến, hà thù đào động chi tiên cơ
Hào Phúc dương gặp Thanh Long, khác gì con giỏi chốn quế đình
Hào Tử âm mà chẳng phải Nguyệt kiến, chẳng khác gì tiên nữ ở động đào.
Tử Tôn lâm Nguyệt kiến có Thanh Long hoặc Nguyệt Kiến ở Thanh Long sinh hợp Tử Tôn tất mừng sinh trai, mà sau này tuấn tú thông minh. Nếu Tử Tôn không phải là Nguyệt kiến, Nhật thần lại không được Nhật Nguyệt sinh mà ở hào âm tất là con gái.
28.
若卜有孕無孕須詳胎伏胎飛
Nhược bốc hữu dựng vô dựng, tu tường Thai phục Thai phi
Nếu bói có thai hay không, nên rõ Thai phục hoặc Thai là phi hào.
Phàm bói có thai hay không chuyên lấy hào Thai làm chủ, không xem hào Tử Tôn. Nếu trong quẻ sáu hào trên dưới cung năm tháng ngày giờ đều không có hào Thai, tất chủ không có thai. Trong quẻ có động hào hóa ra hào Thai, trước mắt thì không mà sau tất có thai. Chỉ gặp hào Thai xuất hiện tất có thai.
29.
出現空亡將胚而有散 - 交重化絕既孕而不成
Xuất hiện Không vong tương phôi nhi hữu tán
Giao trùng hóa Tuyệt ký dựng nhi bất thành
Xuất hiện mà lâm Không, tuy là phôi nhưng mà lại tan đi.
Động mà hóa Tuyệt đã có thai mà chẳng thành.
Phôi là máu ngưng lại. Phôi là dương tinh và âm huyết đọng tụ lại mà thành thai. Vốn chưa thành hình gọi là Phôi, mà đã thành hình gọi là Dựng. Hào Thai xuất hiện mà lâm Không chủ tuy có thai nhưng không thành hình mà tan đi. Nếu động tất đã thành hình, chỉ sợ biến nhập Mộ Tuyệt thì thai thành hình nhưng không nuôi được, thì cũng chẳng thành.
30.
姅必逢官 - 炆必遇虎
Bán tất phùng Quan
Chẩm tất ngộ Hổ
Thai bị thương vì gặp Quan
Xuất huyết tất gặp Hổ.
Bán là thai bị thương tổn. Thai lâm Quan hoặc bị hào Quan, Nguyệt kiến, Nhật thần hình xung khắc hại đều chủ thai bị tổn thương. Đàn bà có thai mà có kinh nguyệt gọi là "chầm". Nếu chưa được một tháng mà Thai lâm Bạch Hổ tất sảo thai (sút sảo). Nếu bị xung sát hoặc phát động hóa Quỷ thì là tiểu sản (đẻ non).
31.
帶令星而獲助存沒咸安
Đới lệnh tinh nhi hoạch trợ, tồn một hàm an
Mang Nhật Nguyệt mà được phò trợ, sống chết đều yên.
Phàm hào Thai vượng tướng, lại được sinh hợp tương trợ, không lâm Quan Quỷ, hoặc Phụ Mẫu, Không vong thì thai đã thành, ở hào dương thì sinh con trai dễ nuôi.
32.
有陰地而無傷緩急非益
Hữu âm địa nhi vô thương, hoãn cấp phi ích
Lâm hào âm mà không bị thương hại, nhanh hay chậm đều chẳng lợi gì.
Hào Thai thuộc âm, hưu tù mà được Nguyệt kiến Nhật thần, động hào sinh hợp, mà không có hung thần hình hại, tất thai đã thành mà lại sinh con gái. Cho nên mới bảo "nhanh chậm đều chẳng lợi".
33.
如逢玄武暗裏成胎 - 若遇文書此前無子
Như phùng Huyền Vũ ám lý thành thai
Nhược ngộ Văn thư, thử tiền vô tử
Nếu gặp Huyền Vũ thì lén lút mà thành thai,
Nếu gặp Phụ Mẫu thì trước đây chưa có con.
Thai lâm Huyền Vũ tất thai chẳng do chân chính vợ chồng mà có. Nếu lâm hào Phụ chủ trước lần này chưa hề có con, nay mới thành thai.
34.
孕形于外只因土並勾陳 - 胎隱于中端為臨龍合德
Dựng hình vu ngoại chỉ nhân Thổ tịnh Câu Trần
Thai ẩn vu trung, đoan vi lâm Long hợp Đức
Thai hình thành rõ ra bên ngoài chỉ vì Thổ cùng Câu Trần,
Thai ẩn bên trong, chính vì lâm Thanh Long hợp với Phúc Đức.
Thai lâm Câu Trần, hiện rõ chuyện mang thai. Thai lâm Thanh Long thì thai này không hiện, lại gặp tam hợp, lục hợp tất ẩn.
35.
若問收生之婦休將兩間而推 - 如占代養之娘須以一財柔斷
Nhược vấn thu sinh chi phụ, hưu tương lưỡng gian nhi suy
Như chiêm đại dưỡng chi nương, tu dĩ nhất Tài nhi đoán
Nếu hỏi về bà đỡ, chớ dùng hai gian hào để suy
Nếu xem vú em tất dùng hào Tài để đoán.
Nếu xem về sinh sản thì dùng gian hào để đoán cho bà đỡ. Nay người ta chỉ xem hung cát về bà đỡ, nếu lấy gian hào mà luận thì sai lý. Cho nên xem bà đỡ và vú em đều dùng chỉ hào Thê Tài làm Dụng thần, không thể lấy gian hào mà suy.
36.
兄動兮手低乳母須防盜物
Huynh động hề thủ đê, nhũ mẫu tu phòng đạo vật
Huynh động thì nên phòng bà vú mình nuôi trộm đồ vật.
Huynh Đệ phát động thì chủ bà đỡ, vú em thấy của mà ham, lại chủ tham ăn. Lâm Huyền Vũ tất là kẻ trộm cắp.
37.
父興兮乳少老娘切恐傷胎
Phụ hưng hề nhũ thiếu lão nương, thiết khủng thương thai
Phụ động thì bà vú ít sữa e hại thai.
Phụ Mẫu phát động lại thêm hình hại, bé tất bị hại, không nên như thế. Xem về bà vú cũng vậy.
38.
子孫發動乳多手段更高能
Tử Tôn phát động nhũ đa, thủ đoạn cánh cao năng
Tử Tôn động thì sữa nhiều mà có tài năng cao.
Tử Tôn vượng tướng phát động, không bị chế phục, sinh phò hào Tài, thì bà đỡ có khả năng, bà vú tất sữa nhiều.
39.
兄鬼交重禍甚事機猶返復
Huynh Quỷ giao trùng họa thâm, sự cơ do phản phúc
Huynh, Quỷ động thì nhiều tai họa, sự việc còn tráo trở.
Quan Quỷ động tất có tai họa, nếu không thương Thế Thân thì tuy hung cũng nhẹ, nếu khắc hại thì họa khó nói được.
40.
財合福爻善能調護 - 身生子位理會維持
Tài hợp Phúc hào thiện năng điều hộ
Thân sinh Tử vị lý hội duy trì
Tài hợp với hào Phúc thì có tài năng
Thân sinh Tử Tôn có thể trợ giúp lâu dài.
Quái thân với hào Tài hợp với Tử Tôn là rất tốt. Xem về bà đỡ tất có khả năng cải tử hoàn sinh, xem về bà vú tất giỏi nuôi trẻ mà sữa cũng nhiều.
41.
如逢相剋將沖決見多災多咎
Như phùng tương khắc tương xung, quyết kiến đa tai đa cữu
Nếu gặp tương khắc, tương xung, chắc chắn nhiều tai họa nhiều trở ngại.
Tử Tôn bị Tài hào với Quái thân hình xung khắc hại là tối kỵ, đứa trẻ tất bị tai họa.
Tiến Nhân Khẩu: mở đầu và câu 1–15
Tiến Nhân Khẩu (nhận thêm người) — cách xem việc nhận con nuôi, mua tôi tớ, thu nhận người ở qua sáu hào của quẻ Bốc Dịch.
Mở đầu
獨夫處世休言無子即忘情 - 君子治家難道一身兼作僕 - 必須便嬖乃足使令於前 - 若不螟蛉焉繼宗支於後
Độc phu xử thế hưu ngôn vô tử tức vong tình
Quân tử trị gia nan đạo nhất thân kiêm tác bộc
Tất tu tiện bế nãi túc sử lệnh ư tiền
Nhược bất minh linh yên kế tông chi ư hậu
Cô đơn ở đời đừng nói không có tình với con cái
Quân tử lo việc nhà đâu thể một thân kiêm nô bộc
Tất phải có tình thương mới mới lệnh được người trước mặt
Nếu không có con nuôi làm sao nối tiếp tông tộc về sau
Già mà không có con gọi là "Độc", qua làm con nuôi nhà người khác gọi là "Minh linh", như trong Thi có câu: "Tò vò mà nuôi con nhện".
1.
須別來占 - 方知主用
Tu biệt lai chiêm
Phương tri Chủ Dụng
Cần phân ra để xem
Mới biết được Chủ tượng, Dụng thần.
Trẻ làm con nuôi thì dùng Tử Tôn làm chủ, mua tỳ thiếp, đầy tớ cùng thu nhận người bơ vơ lạc lõng đều lấy Thê Tài làm chủ. Nếu chứa chấp người bị nạn thì phải xem người này với ta quen biết ra sao, bạn bè thì lấy Huynh Đệ làm chủ, tôn trưởng thì lấy Phụ Mẫu làm chủ, đàn bà thì lấy Thê Tài làm chủ.
2.
用不宜動動必難留
Dụng bất nghi động, động tất nan lưu
Dụng không nên động, động thì khó giữ lại.
Dụng thần phát động, người này khó bám vào ta. Nếu gặp quẻ Du hồn hoặc hóa thành quẻ Du hồn tất ngày sau sẽ bỏ trốn. Nếu sinh hợp với hào Thế thì không đến nỗi phải liên lụy.
3.
主不可傷傷須夭折
Chủ bất khả thương, thương tu yểu chiết
Chủ không thể bị thương, thương thì chết yểu.
Chủ tượng suy nhược mà bị Nhật thần, động hào vượng đến hình thương khắc hại không được giải cứu tất nhiên bị chết.
4.
衰入墓中擬定委靡不振 - 旺臨世上決然幹蠱有成
Suy nhập Mộ trung nghĩ định ủy mỵ bất chấn
Vượng lâm Thế thượng quyết nhiên cán cổ hữu thành
Suy nhập Mộ tất là mệt mỏi không phấn chấn
Thế vượng chắc chắn gánh vác thành tựu.
Dụng hào nhập Mộ thì người này biếng nhác. Nếu suy nhược vô khí, lâm Không Tuyệt chủ uể oải chẳng phấn chấn. Dụng thần nếu vượng tướng lâm Thân Thế, hoặc sinh hợp Thế hào là đại cát.
5.
動化空亡有始無終之輩 - 蛇合官鬼多謀少德之人
Động hóa Không vong hữu thủy vô chung chi bối
Xà hợp Quan Quỷ đa mưu thiểu đức chi nhân
Động hóa Không là bọn có đầu không đuôi
Xà hợp với Quan Quỷ là người nhiều mưu thiếu đức.
Dụng hào phát động biến nhập Không vong chủ người này có đầu không đuôi. Nếu lâm Đằng Xà, động hợp Quan Quỷ thì người đó tuy nhiều cơ mưu nhưng gian trá không thành thực, nếu đàn bà thì thất tiết.
6.
臨玄武而化兄爻門户須防出入 - 遇青龍而連福德貲財可付經營
Lâm Huyền Vũ nhi hóa Huynh hào môn hộ tu phòng xuất nhập
Ngộ Thanh long nhi liên Phúc Đức tư tài khả phó kinh doanh
Lâm Huyền Vũ mà hóa Huynh cần cẩn phòng khi ra vào nhà cửa
Gặp Thanh long mà nối kết với Phúc Đức có thể giao của cải để kinh doanh.
Dụng thần lâm Huyền Vũ động hóa Huynh Đệ chủ người này hám của mê sắc chớ dùng như người nhà. Dụng hào lâm Thanh Long động hóa Tử Tôn sinh hợp Thế hào chủ người này hết sức thành thật, trung hậu, gởi của cải thì lo giữ khó mất, nếu khiến kinh doanh thì đem lợi về cho chủ.
7.
若逢太過及空亡,反主少誠兼懶惰
Nhược phùng thái quá cập Không vong, phản chủ thiếu thành kiêm lại nọa
Nếu gặp quá nhiều cùng lâm Không tất phản chủ ít thành thật mà biếng nhác.
Trong quẻ Dụng thần xuất hiện đến ba bốn hào, hoặc lâm Không thì người này cơ mưu kín đáo, phản phúc thiếu thành thực.
8.
用爻生合世爻必得其力 - 主象剋冲身象難服其心
Dụng hào sinh hợp Thế hào tất đắc kỳ lực
Chủ tượng khắc xung Thân tượng nan phục kỳ tâm
Dụng hào sinh hợp Thế hào tất nhờ được sức
Chủ tượng khắc xung Thân khó thu phục lòng
Dụng hào sinh hợp Thế hào thì người này có thể dùng. Phàm có việc thì hết sức hết lòng. Sợ nhất là "hợp xứ phùng xung".
9.
財化子攜子偕來 - 世合身終身寵用
Tài hóa Tử, huề tử giai lai
Thế hợp Thân chung thân sủng dụng
Tài hóa Tử thì cùng dắt con đến
Thế hợp Thân thì được yêu dùng trọn đời.
Phàm xem thê thiếp mà hào Tài hóa Tử Tôn, thì mang theo đứa trẻ cùng đến. Nếu Tài động sinh hợp Thế hào mà hóa Tử Tôn ngược lại bị hình khắc thì người tì này có thể dùng mà con thì ngu muội. Xem việc thì hào Quái thân là thể của sự việc, xem người thì là thân mình. Nếu gặp Thế hào sinh hợp chủ người này được yêu dùng.
10.
受動變之傷向後終難稱意 - 得日月之助他時定見如心
Thụ động biến chi thương hướng hậu chung nan xứng ý
Đắc Nhật Nguyệt chi trợ tha thời định kiến như tâm
Chịu động biến thương khắc về sau khó vừa lòng
Được Nhật Nguyệt trợ giúp về sau chắc được hợp ý.
Nhật thần, Nguyệt kiến, động hào khắc Thế thì người này không thể dùng. Thế hào suy tất sẽ bị hại. Nếu được động biến, Nhật Nguyệt sinh phò hợp trợ về sau sẽ tốt.
11.
世與卦身以和為貴
Thế dữ Quái thân dĩ hòa vi quí
Thế và Quái thân lấy hòa làm quí.
Hai hào Thế, Thân tương hợp tương sinh, tị hòa là quí; tương khắc tương xung, hình hại là hung.
12.
兄同官鬼惟靜為佳
Huynh đồng Quan Quỷ duy tĩnh vi giai
Huynh cùng Quan Quỷ chỉ có tĩnh mới tốt.
Huynh động thì phá Tài, khẩu thiệt; Quan động là họa hoạn, tật bệnh. Cho nên hai hào này không nên động, tĩnh thì mới vừa ý.
13.
兄鬼交重誠恐將來成訟 - 三合絆住須知此去徒勞
Huynh Quỷ giao trùng khủng tương lai thành tụng
Tam hợp bạn trú tu tri thử khứ đồ lao
Huynh Quỷ phát động sợ tương lai kiện tụng
Kết thành Tam hợp nên biết cũng là đồ bỏ.
Huynh và Quan phát động hoặc Quan và Văn thư biến đổi lẫn nhau chủ ngày sau kiện cáo. Nếu gặp hợp cũng thành việc bỏ đi.
14.
若在間爻乃是牙人作鬼
Nhược tại gian hào nãi thị nha nhân tác quỷ
Nếu ở gian hào thì môi giới quái quỷ.
Mua bán giao dịch lấy gian hào làm người môi giới. Nếu gian hào lâm Huynh Đệ Quan Quỷ phát động thì môi giới quái quỷ.
15.
如居空地不過賣主爭財
Như cư Không địa bất quá mại chủ tranh tài
Nếu ở Không vong, chẳng qua chủ bán giành tiền.
Hào Quan Quỷ Không vong, động mà hợp với ắt tất chủ bán và môi giới âm mưu làm tiền.
Tiến Nhân Khẩu: câu 16–30
16.
卦象兩官良父須知事係兩頭
Quái tượng lưỡng Quan lưỡng Phụ tu tri sự hệ lưỡng đầu
Quái tượng có hai hào Quan hai hào Phụ thì nên biết liên quan đến hai việc.
Trong quẻ có hai hào Quan, hai hào Phụ e có nhiều giao dịch.
17.
兄鬼一動一冲切莫財交一手
Huynh Quỷ nhất động nhất xung thiết mạc tài giao nhất thủ
Huynh Quỷ một động một xung, nhất thiết tiền bạc đừng giao cho một người.
Quẻ có hào Ứng khắc Thế mà Huynh và quan phát động nên phòng âm mưu lừa dối.
18.
應生世他來就我 - 世生應我去求人
Ứng sinh Thế tha lai tựu ngã
Thế sinh Ứng ngã khứ cầu nhân
Ứng sinh Thế thì người tìm ta
Thế sinh Ứng thì ta cầu người.
Xem nhờ người thuê mua nô tì, lấy Ứng hào làm Chủ. Nếu Chủ hợp Thế thì người đến với ta nên xong việc, mà dễ dàng. Nếu Thế sinh Ứng ta đi cầu người, việc khó thành.
19.
和合易成最怕日辰冲破
Hòa hợp dị thành tối phạ Nhật thần xung phá
Hòa hợp dễ thành, sợ nhất là Nhật thần xung phá.
Nếu được hào Ứng sinh hợp Thế, mọi việc dễ thành. Nếu là hợp xứ phùng xung khắc hại chủ nhân có cản trở. Để biết người nào cản trở lấy hào phá hợp mà đoán.
20.
相冲難就偏宜動象生扶
Tương xung nan tựu, thiên nghi động tượng sinh phù
Tương xung khó thành, nên được động hào sinh phò.
Thế và Ứng tương xung, tương khắc mọi việc khó thành. Nếu được động hào, Nhật thần sinh phò hợp trợ tất có quí nhân lo liệu, việc có thể thành.
21.
兄爻發動為詐為虛 - 卦象亂興多更多變
Huynh hào phát động vi trá vi hư
Quái tượng loạn hưng đa canh đa biến
Huynh hào phát động nhiều hư trá
Quẻ mà loạn động lắm đổi thay.
Hào Huynh là thần phản phúc bất định, loạn động thì việc không chắc chắn nhiều thay đổi.
22.
六爻為父定無主契之人
Lục hào vi Phụ định vô chủ khế chi nhân
Sáu hào không có Phụ tất không có người làm chủ việc.
Lấy hào Phụ làm Văn thư, chủ việc. Nếu sáu hào không có Phụ Mẫu thì không có người đứng ra làm chủ việc. Nếu động hào biến ra Phụ Mẫu thì có người ngoài đứng ra làm chủ.
23.
兩間俱空未有作中之子
Lưỡng gian câu Không vị hữu tác trung chi tử
Hai gian hào đều lâm Không, chưa có người làm trung gian.
Gian hào là người môi giới, nếu lâm Không tức không có người đứng giữa.
24.
世獲間生喜媒人之護向
Thế hoạch gian sinh hỉ môi nhân chi hộ hướng
Thế được gian sinh, mừng được người môi giới giúp đỡ dẫn lối.
Gian hào sinh Thế, hợp Thế, tất nhiên môi giới giúp ta. Nếu gian hào là Tử Tôn tức liên quan đến con cháu.
25.
生扶弟出防賣主之合謀
Sinh phù Đệ, xuất phòng mại chủ chi hợp mưu
Sinh phò Huynh Đệ, phòng hợp mưu với chủ bán.
Nếu Huynh, Quỷ động khắc Thế hào mà Ứng hào lại hình xung khắc hại ta tất gian hào sinh hợp là giả trá, hợp mưu chứ không thành tâm.
26.
父化兄契虛事假
Phụ hóa Huynh khế hư sự giả
Phụ hóa Huynh thì giấy tờ giả, việc giả.
Phàm gặp Phụ Mẫu hóa Huynh Đệ chắc chắn sự việc không thật, khế ước không thật. Quẻ không có Phụ Mẫu mà do Huynh Đệ động hóa thành cũng như thế.
27.
兄持世財散人離
Huynh trì Thế, Tài tán nhân li
Huynh trì Thế tiền tan người lìa.
Huynh Đệ trì Thế chi phí tiền vô ích. Nếu nhờ người mua nô tì cũng không hết lòng. Nếu có hung thần vượng động tất chủ tiền tán mà người lìa.
28.
應若空亡我欲成交徒費力 - 世如發動彼來謀合亦難成
Ứng nhược Không vong, ngã dục thành giao đồ phí lực
Thế như phát động bỉ lai mưu hợp diệc nan thành
Ứng nếu lâm Không, ta muốn thành mà chi phí sức
Thế nếu động, người đến hợp kết quả không thành.
Ứng lâm Không thì ý của người khó đồng với ta. Thế động thì tự mình ưa đổi thay, cho nên không thành việc.
29.
弟因財乏 - 鬼必疑心
Đệ nhân tài phạp
Quỷ tất nghi tâm
Đệ vì thiếu tiền
Quỷ tất nghi ngờ.
Huynh Đệ trì Thế tất vì tiền bạc thiếu. Quỷ hào trì Thế tất tự mình đa nghi hoặc thụt lui thụt tới nên việc khó thành.
30.
四覆三番事機不定 - 千變萬化卦象無常 - 能求不見之形 - 自喻未來之事
Tứ phúc tam phiên sự cơ bất định
Thiên biến vạn hóa quái tượng phi thường
Năng cầu bất kiến chi hình
Tự dụ vị lai chi sự
Ba phen bốn lượt việc không chắc
Ngàn biến vạn hóa, Quái tượng bất thường
Muốn tìm cái mà chẳng biết hình dung
Tự nói ra sự việc trong tương lai.
Phàm xem việc thu nhận con cái vất bỏ của người, sợ nhất là Quỷ lâm Huyền Vũ, nếu phát động tất là trộm cướp. Dụng lâm Huyền Vũ hoặc hóa thành Quỷ hào cũng vậy, nếu hình khắc Thế hào tất sẽ bị hại.
Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.
