Bài tổng quan
Chương Từ Tụng: Xem Kiện Tụng Thắng Thua, Tội Danh Và Ân Xá
Một vụ kiện trong phép Lục Hào được dựng lại bằng Thế Ứng, Quan Quỷ và Phụ Mẫu, mỗi hào tượng trưng cho một bên hoặc một yếu tố của vụ án. Nhờ cách phân vai ấy, quẻ cho biết bên nào thắng, bên nào thua và bao giờ việc xử án ngã ngũ. Khi chuyện thắng thua đã rõ, phép đoán đi sâu hơn vào mức độ tội danh, cảnh ngục tù và khả năng được ân xá, thông qua các câu phú cổ cùng lời giải chi tiết. Từ Tụng vì thế không dừng ở chuyện thắng thua mà còn xét tới tội nặng hay nhẹ và cơ hội được tha. Có câu phú còn cho rằng khi trên dưới đều có hào Phụ Mẫu thì đơn phải đưa tới hai lần, việc kiện tụng mới xong.
Mục lục · 2 phần
Từ Tụng: mở đầu và câu 1–17
Từ Tụng (kiện cáo) — xem việc thắng thua trong kiện tụng, thời hạn xử án qua quẻ Bốc Dịch.
Mở đầu
小忿小懲必至爭長競短 - 大虧既負寧不訴枉身冤
Tiểu phẫn tiểu trừng tất chí tranh trường cạnh đoản
Đại khuy ký phụ ninh bất tố uổng thân oan
Hờn giận nhỏ nhoi đưa đến tranh cạnh hơn thua
Đã thua thiệt lớn sao không kiện tụng để tỏ oan uổng.
1.
欲定輸贏 - 須詳世應
Dục định thâu doanh - Tu tường Thế Ứng
Muốn định hơn thua - Nên rõ Thế Ứng.
Trong quẻ Thế và Ứng là tượng bên nguyên và bên bị, Biết rõ ràng Thế Ứng tất có thể biết hơn thua.
2.
應乃對頭要休囚子絕 - 世爲自己宜帝旺長生
Ứng nãi đối đầu yếu hưu tù Tử Tuyệt
Thế vi tự kỷ nghi Đế Vượng, Trường Sinh
Ứng là kẻ đối đầu cần hưu tù Tử Tuyệt,
Thế là mình nên Đế Vượng, Trường Sinh.
Không kể là nguyên cáo hay bị cáo. Khi xem Thế là mình, Ứng là người đối đầu. Ứng vượng Thế suy là người mạnh ta yếu, Thế vượng Ứng suy là người yếu ta mạnh.
3.
相冲相剋乃是欺凌之象
Tương xung tương khắc nãi thị khi lăng chi tượng
Tương xung tương khắc là tượng khinh dễ làm nhục.
Thế hào hình khắc Ứng hào chưa phải ta thắng, nhưng tượng ta khinh dễ người. Phải được Quỷ khắc hào Ứng thì ta mới thắng. Động hào với Nhật thần, Nguyệt kiến khắc Ứng cũng thế.
4.
相生相合終成和好之情
Tương sinh tương hợp chung thành hòa hảo chi tình
Tương sinh tương hợp cuối cùng cũng thành hòa hảo.
Thế Ứng sinh hợp thì bên nguyên và bị có ý giải hòa. Thế sinh Ứng thì ta có ý cầu hòa, Ứng sinh Thế thì người có ý cầu hòa. Thế Ứng động lâm Không, hóa Không đều giả đò hòa.
5.
世應比和官鬼動恐公家捉打官司
Thế Ứng tị hòa Quan Quỷ động khủng công gia tróc đả quan ti
Thế Ứng tị hòa mà Quan Quỷ động, e quan lớn trách cứ quan ti.
Thế Ứng tị hòa (tức cùng hành, không sinh không khắc) là tượng hòa giải. Nếu Quan Quỷ động khắc tất chủ quan phủ trách cứ quan dưới không chịu theo sự hòa giải. Nếu Tử Tôn động thì cuối cùng cũng hòa giải được.
6.
卦爻安靜子孫興喜親友勸和公事
Quái hào an tĩnh Tử Tôn hưng, hỉ thân hữu khuyến hòa công sự
Quái hào an tĩnh, Tử Tôn động, mừng được thân hữu khuyên hòa giải việc quan.
Sáu hào an tĩnh, Thế Ứng tuy không sinh hợp. (Nguyên bản sách in đoạn giải thích này ngắn, dừng lại đúng như vậy.)
7.
世空則我欲息爭
Thế Không tắc ngã dục tức tranh
Thế lâm Không thì ta muốn thôi tranh tụng.
Thế lâm Không thì ta muốn thôi tranh tụng, Ứng lâm Không thì người muốn thôi tranh tụng. Thế Ứng đều Không thì cả ta và người đều muốn bãi kiện.
8.
應動則他多機變
Ứng động tắc tha đa cơ biến
Ứng động thì người nhiều cơ biến.
Thế động tất ta có lòng dùng mưu mô. Nếu hóa Quan hồi đầu khắc thì ngược lại mưu tính thất bại. Ứng động thì người mưu mô, nếu là Nguyệt kiến thì có nương tựa quí nhân, khắc Thế thì ta không tốt.
9.
間傷世位須防硬証同謀 - 鬼剋間爻且喜有司明見
Gian thương Thế vị tu phòng ngạnh chứng đồng mưu
Quỷ khắc gian hào thả hỉ hữu ti minh kiến
Gian hào thương khắc Thế hào phòng người chứng ngang ngạnh đồng mưu
Quỷ khắc gian hào lại mừng được quan trên biết rõ.
Gian hào là người làm chứng trung gian, sinh hợp Thế thì theo ta; sinh hợp Ứng thì theo người. Gian hào xung khắc với Thế tất có thù với ta, xung khắc với Ứng tất có thù hằn với người. Nếu vượng hào sinh Ứng mà suy hào sinh Thế thì có sức giúp người mà không giúp gì được ta. Hoặc tĩnh sinh Ứng mà động khắc Thế thì không ra mặt theo người mà ra mặt chống ta. Nếu hào xung khắc ta ngược lại sinh hợp Ứng nên phòng người làm chứng đồng mưu hãm hại. Nếu có Quan Quỷ khắc chế, hoặc bị Nhật thần xung khắc tất quan trên không nghe lời người này, ta vô sự. Gian hào nếu bị hình khắc, người làm chứng tất bị trách phạt. Hào này gần Thế thì nhân chứng của ta, gần Ứng thì nhân chứng của người.
10.
身乃根因事體空則情虛
Thân nãi căn nhân sự thể, Không tắc tình hư
Thân là nguồn gốc sự việc, lâm Không tức không thực.
Quái thân liên quan đến gốc nguồn sự việc, nếu vượng thì việc lớn, suy thì việc nhỏ, động thì việc gấp, tĩnh thì chậm, nếu Không, Phục thì sự việc không thực; Phi Phục đều Không thì chẳng có chút nào thực cả.
11.
父爲案卷文書伏須未就
Phụ vi án quyển văn thư, Phục tu vị tựu
Phụ là án quyển, văn thư, nếu Phục tức chưa hoàn thành.
Trong quẻ không có hào Phụ Mẫu thì văn thư chưa xong, nếu bị Hình khắc tất nhiều sơ hở, hóa Tài cũng thế, hóa Huynh thì bị bác bỏ, được Nguyệt kiến hợp thì quan trên chấp nhận, xung thì không đồng ý.
12.
鬼作問官剋應則他遭仗責
Quỷ tác vấn Quan khắc Ứng tắc tha tao trượng trách
Quỷ là Quan thẩm vấn, khắc Ứng tức người bị quở trách.
Quỷ là quan xử kiện, động khắc Ứng thì ta thắng kiện, khắc Thế thì ta thua kiện.
13.
日爲書吏傷身則我受刑名
Nhật vị thư lại, thương Thân tắc ngã thụ hình danh
Nhật là thư lại, khắc hại Thân tất ta chịu hình phạt.
Nhật thần có thể cứu việc mà có thể làm hư việc. Như Quỷ động khắc Thế tất bị hình phạt, nếu được Nhật thần chế Quỷ, xung Quỷ tất nhờ lời của người ngoài giải thích mà quan coi kiện khoan tha ta.
14.
逢財則理直氣壯
Phùng Tài tắc lý trực khí tráng
Gặp Tài thì có khí phách mà lý lẽ thẳng thắn.
Lấy Tài làm lý lẽ, Tài lâm Thế thì ta có lý, lâm Ứng thì người có lý. Bị Quan Quỷ hình hại thì tuy có lý mà quan không theo, Huynh động tất không chịu nghe theo lời biện bạch. Như vậy thì Tài là Kỵ thần.
15.
遇兄則財散人離
Ngộ Huynh tắc tài tán nhân li
Gặp Huynh thì tiền hao mà người lìa.
Huynh Đệ nếu ở hào Thế Thân thì sự việc liên can nhiều người, động thì ta hao tốn nhiều tiền bạc, thêm Bạch Hổ thì khuynh gia bại sản. Nếu lâm hào Ứng thì đoán cho người.
16.
世入墓交難免獄囚之繫
Thế nhập Mộ hào nan miễn ngục tù chi hệ
Thế nhập Mộ thì khó tránh tù tội.
Thế hào nhập Mộ, hóa Mộ hoặc lâm Quỷ Mộ là tượng hung, tất có tai họa ngục tù, nếu có Bạch Hổ thì trong tù lại bị bệnh.
17.
官逢太歲必非州縣之詞
Quan phùng Thái Tuế tất phi châu huyện chi từ
Quan gặp Thái Tuế tất chẳng phải việc của châu huyện.
Quan ở hào ngũ nếu trị Thái Tuế thì việc liên quan đến triều đình, gặp Nguyệt kiến tất liên quan đến quan lớn.
Từ Tụng: câu 18–34
18.
內外有官事涉一司終不了
Nội ngoại hữu Quan, sự thiệp nhất ty chung bất liễu
Nội ngoại quái đều có hào Quan, việc xử ở một ty sẽ không xong được.
Hào Quan không hiện ở quẻ thì không có quan chủ trương xét xử, nội ngoại quái đều có quan thì quyền không qui về một chỗ, chủ sự việc lẫn lộn, phải xử đến hai ba nơi mới xong việc được.
19.
上下有父詞興兩度始能成
Thượng hạ hữu Phụ, từ hưng lưỡng độ thủy năng thành
Thượng hạ đều có hào Phụ, đưa đơn hai lần việc mới xong.
Hai hào Quan và Phụ không nên xuất hiện hai lần, tượng bất định, sẽ có chuyển biến. Việc kiện tụng tất kéo dài khó kết thúc. Như xem về cáo trạng tất phải tố cáo lại mới thành.
20.
官父兩強詞狀表章皆准理 - 妻財一動申呈訴告總徒勞
Quan Phụ lưỡng cường, từ trạng biểu chương giai chuẩn lí
Thê Tài nhất động, thân trình tố cáo tổng đồ lao
Quan Phụ đều mạnh, đơn từ cáo trạng đều chấp thuận
Thê Tài phát động tỏ bày tố cáo cũng vô ích.
Phàm những việc như dâng biểu, tấu trình, tố cáo đều cần hai hào Quan Phụ đều hữu khí, không bị Không tức đều được chấp thuận. Sợ nhất là Tài động khắc Phụ thì việc không thể thành.
21.
父旺官衰雀角鼠牙之訟
Phụ vượng Quan suy, tước giác thử nha chi tụng
Phụ vượng, Quan suy chỉ là việc đấu voi đuôi chuột.
Phụ Mẫu vượng tướng, Quan Quỷ hưu tù, thì tuy đơn từ lớn lao mà thực sự chỉ là việc nhỏ nhặt.
22.
變衰動旺虎頭蛇尾之人
Biến suy động vượng, hổ đầu xà vĩ chi nhân
Biến suy động vượng là người đầu cọp đuôi rắn.
Thế Ứng vượng động là thế muốn thôn tính nhau. Nếu biến nhập vào Mộ, Tuyệt, Không vong là trước mạnh sau yếu, tượng đầu voi đuôi chuột. Thế thì dùng cho ta. Mà Ứng là nói đến người.
23.
世若逢生當有貴人倚靠 - 應衰無助必無奸惡刁唆
Thế nhược phùng sinh đương hữu quí nhân ỷ kháo
Ứng suy vô trợ tất vô gian ác điêu toa
Thế nếu được sinh thì có quí nhân để nương tựa
Ứng suy không được giúp tất không có kẻ gian ác toa rập.
Thế hào suy nhược được Nguyệt kiến, Nhật thần, động hào sinh hợp tất có quí nhân phò trợ, người kia không thể làm gì ta. Ứng hào gặp như thế thì luận ngược lại.
24.
無合無生總旺何如獨腳虎 - 有刑有剋逢空當效縮頭龜
Vô hợp vô sinh tổng vượng hà như độc cước hổ
Hữu hình hữu khắc phùng Không đương hiệu súc đầu qui
Vô hợp vô sinh có vượng cũng như cọp một chân
Bị hình bị khắc, lâm Không nên như rùa rụt đầu.
Ứng hào vượng động không có sinh hợp thì người đối đầu như cọp một chân, không đáng sợ. Thế không được sinh hợp lại có Nhật Nguyệt, động hào hình khắc thì nên như rùa thụt đầu, chớ ra đấu lý.
25.
兄在間中事必干眾
Huynh tại gian trung tất can chúng
Huynh ở gian hào tất liên quan đến nhiều người.
Huynh Đệ tại gian hào thì trong án can phạm đông, động thì chứng nhân tham tiền đòi hối lộ, khắc Ứng thì yêu sách tiền của người, khắc Thế thì ta phải dùng tiền mua chuộc mới ổn.
26.
父臨應上彼欲興詞
Phụ lâm Ứng thượng bỉ dục hưng từ
Phụ ở hào Ứng, kẻ kia muốn khởi kiện.
Phụ Mẫu là văn thư, lâm Thế thì ta muốn kiện, lâm Ứng thì người muốn kiện ta, động thì muốn làm ngay, tĩnh thì chưa thực hiện.
27.
父動而官化福交事將成而偶逢兜勸 - 父空而身臨刑煞詞未准而先被笞刑
Phụ động nhi Quan hóa Phúc hào, sự tương thành nhi ngẫu phùng đâu khuyến
Phụ Không nhi Thân lâm hình sát, từ vị chuẩn nhi tiên bị si hình
Phụ động mà Quan hóa Phúc, việc sắp thành mà gặp khuyên lơn
Phụ Không mà Thân gặp hình sát, án từ chưa chuẩn mà đã bị hình phạt.
Phàm xem việc tố cáo, gặp hai hào Quan Phụ đều động thì việc có thể thành tựu. Nếu Phục có khí mà Quan hóa Tử Tôn tất chủ thân đến chốn cửa quan sắp đầu đơn mà có người khuyên lơn. Nếu Phụ hóa Không, Mộ, Tuyệt và Quan Quỷ hình khắc Thế hào hoặc Thế bị Nhật thần hình xung khắc hại thì cáo trạng chưa chuẩn thuận mà đã bị phạt roi vọt.
28.
妻動生官須用貲財囑託
Thê động sinh Quan tu dụng tư tài chúc thác
Thê động sinh Quan nên dùng của cải mà nhờ cậy.
Nếu đã thành kiện, quẻ có Tài động tất cần dùng tiền của để nhờ và Quan phủ. Nếu gặp Tử Tôn xung Quan thì tuy hao tốn tiền của cũng vô ích.
29.
世興變鬼必因官訟亡身
Thế hưng biến Quỷ tất nhân quan tụng vong thân
Thế động biến Quỷ tất vì kiện tụng mà bỏ thân.
Thế trì Quan ta thất lý, Ứng trì Quan người kia thất lý. Thế biến Quỷ e vì kiện lên quan mà bỏ mình. Ứng biến Quỷ thì đoán như thế với người.
30.
子在身邊到底不能結證 - 官伏世下訟根猶未芟除
Tử tại Thân biên đáo để bất năng kết chứng
Quan phục Thế hạ tụng căn do vị sam trừ
Tử ở bên Thân, rốt cục cũng không thể kết án
Quan phục dưới Thế, việc kiện chưa thể kết thúc.
Quái thân lâm Phúc Đức, xuất hiện, phát động thì kiện tụng tiêu tan. Chỉ sợ Quan phục dưới Thế thì mầm kiện tụng vẫn còn, trước mắt tuy chưa thành việc, nhưng đợi khi Quan vượng xuất lộ thì kiện tụng lại tái phát.
31.
墓逢日德刑冲目下即當出獄 - 歲挈福神生合獄中必遇天恩
Mộ phùng Nhật, Đức hình xung, mục hạ tức đương xuất ngục
Tuế khiết Phúc thần sinh hợp, ngục trung tất ngộ thiên ân
Mộ mà gặp Nhật, Phúc hình xung, trước mắt tức thoát khỏi ngục tù
Thái Tuế và Phúc thần sinh hợp thì ở trong ngục mà được ân vua.
Hào Thế động nhập Mộ, Quỷ động nhập Mộ tất tượng vào tù. Nếu được Nhật thần hình xung khắc phá trước mắt tất ra tù. Ở trong ngục mà bói, mừng nhất là được Thái Tuế sinh hợp hào Thế chủ có ân vua xá tội. Nguyệt kiến sinh hợp thì được quan lớn tha ra, Nhật thần sinh hợp thì được quan hữu trách buông tha, Phụ Mẫu sinh hợp thì vì nên bày tỏ tố cáo thì có thể khỏi tội.
32.
若問罪名須詳官鬼
Nhược vấn tội danh tu tường Quan Quỷ
Nếu hỏi về tội nên rõ Quan Quỷ.
Phàm bói tội nhẹ nặng, dùng hào Quan mà định, vượng thì nặng, suy thì nhẹ. Nếu thêm Hình, Bạch Hổ mà vượng động khắc Thế thuộc Hỏa thì chịu cực hình, thuộc Kim thì bị sung quân, Mộc thì bị roi trượng, Thủy thì tội đồ. Nên xem sinh vượng, có bị chế hay không mà đoán, không thể câu chấp.
33.
要知消散當看子孫
Yếu tri tiêu tán đương khán Tử Tôn
Muốn biết tiêu tan hay không nên xem Tử Tôn.
Nếu Phúc động Quỷ tĩnh thì dùng sinh vượng, Nhật Nguyệt để đoán. Quỷ động Phúc tĩnh dùng Quan Mộ và Nhật Nguyệt để đoán.
34.
卦象既成勝負了然明白 - 訟庭一剖是非判若昭彰
Quái tượng ký thành thắng phụ liễu nhiên minh bạch
Tụng đình nhất phẫu thị phi phán nhược chiêu chương
Tượng quẻ đã thành hơn thua rõ ràng đã thấy
Pháp đình phân tách đúng sai giải quyết rõ ràng.
Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.
