Bài tổng quan
Hỏa Trạch Khuê: lửa bốc lên, đầm thấm xuống, trái nhau mà vẫn tìm ra chỗ đồng
Lửa thì bốc lên, đầm thì thấm xuống, hai thứ ở gần nhau mà mỗi thứ đi một hướng. Hai chị em cùng một nhà, một người hướng về cha mẹ, một người hướng về chồng... Nếu cái khác là điều không tránh được, làm sao tìm ra chỗ giống ngay trong chỗ trái nhau?
Mục lục · 8 phần
- 01Khuê là trái ngược: lửa bốc lên, đầm thấm xuống
- 02Hai chị em một nhà mà mỗi người một hướng
- 03Hào sơ cửu: mất ngựa đừng đuổi, nó tự trở về
- 04Hào cửu nhị: gặp chủ trong ngõ hẹp, không có lỗi
- 05Hào lục tam: xe bị kéo lùi, trâu bị chặn trước, đầu khó mà cuối hợp
- 06Hào cửu tứ: cô đơn trong thời chia lìa, gặp bạn thành tâm
- 07Hào lục ngũ: cắn vào da cho thân nhau, còn lỗi gì đâu
- 08Hào thượng cửu: nhìn thấy heo đội bùn, tưởng cả xe quỷ, hóa ra người đến cầu hôn
Khuê là trái ngược: lửa bốc lên, đầm thấm xuống
Quẻ số ba mươi tám là Hỏa Trạch Khuê, tiết khí tháng hai. Khuê nghĩa là trái ngược, khác nhau, chống đối, chia lìa. Trên là Ly, là lửa; dưới là Đoài, là đầm.
Thượng hỏa hạ trạch, Khuê. Quân tử dĩ đồng nhi dị.
Lời Tượng nói trên là lửa, dưới là đầm, là quẻ Khuê. Người quân tử nhìn quẻ này mà cùng với mọi người nhưng vẫn giữ chỗ khác của mình. Người sinh vào tháng hai gặp quẻ này là cách công danh phú quý.
Hai chị em một nhà mà mỗi người một hướng
Nguyễn Hiến Lê giảng: trên là Ly, là lửa; dưới là Đoài, là chằm, là đầm. Chằm có tính thấm xuống, lửa có tính bốc lên, trên dưới không thể hợp với nhau, càng ngày càng xa cách nhau. Quẻ này xấu nhất trong Kinh Dịch, ngược hẳn với quẻ Cách. Chỉ làm những việc nhỏ thì may ra còn tốt.
Lời Thoán giảng thêm: Đoài là thiếu nữ, Ly là trung nữ, hai chị em ở một nhà mà xu hướng trái nhau, em hướng về cha mẹ, chị hướng về chồng; chí hướng khác nhau cho nên gọi là Khuê. Tuy nhiên Đoài có đức vui, Ly có đức sáng, thế là hòa vui mà nương tựa vào đức sáng. Lại thêm hào năm âm nhu mà tiến lên ở ngôi cao, đắc trung mà thuận ứng với hào hai dương cương ở dưới, cho nên bảo việc nhỏ thì tốt.
Xét trong vũ trụ, trời đất, một ở trên cao, một ở dưới thấp, vốn là khác nhau, chia lìa nhau, vậy mà công hóa dục vạn vật là của chung trời đất. Trai gái một dương một âm vốn là trái nhau, vậy mà cảm thông được nhau. Vạn vật tuy khác nhau mà việc sinh hóa cùng theo một luật như nhau. Thế là trong chỗ trái nhau vẫn có chỗ giống nhau; tìm ra được chỗ đồng đó trong cái dị là biết được công dụng kỳ diệu của quẻ Khuê, của thời Khuê.
Lời Thoán khuyên ta như vậy; lời Tượng ngược lại khuyên ta ở trong chỗ đồng có khi phải dị. Ví dụ người quân tử bình thường hành động cũng hợp thiên lý, thuận nhân tình như mọi người, đó là đồng. Nhưng gặp thời loạn, đại chúng làm những việc trái thiên lý thì không ùa theo họ mà tách riêng ra, cứ giữ thiên lý, dù bị chê bai, bị gian khổ cũng chịu, đó là dị. Vậy không nhất định phải đồng mới tốt, dị cũng có đức tốt.
Phan Bội Châu lấy ví dụ: thời Chiến Quốc, thiên hạ thảy xu phụ với Tần, mà một mình Lỗ Trọng Liên không theo, gieo mình xuống biển Đông mà chết; đó là người quân tử một mình biết giữa cái đồng tìm ra cái dị.
Ông phụ chú: lời Thoán ở mọi quẻ chỉ tán một chữ Thời, mà ở đây lại tán chữ Dụng, vì cớ sao? Bởi vì thời Khuê mà làm ra không còn khuê mới là công dụng lớn. Xem câu thời dụng của quẻ Khuê lớn vậy thay thì biết thánh nhân ở trong thiên hạ không thời nào là không có khả năng tận dụng; biến hóa chuyển đổi chỉ cốt ở chữ Dụng. Chữ Dụng là phương pháp cứu thời của thánh nhân, mà cũng là thủ đoạn tạo thời của anh hùng.
Ông lại phụ chú: quẻ Khuê với quẻ Đồng Nhân đối lập nhau. Trời và lửa hai tính hợp nhau thành quẻ Đồng Nhân, lời Tượng nói rằng chia các loại giống nhau để phân biệt các vật, nghĩa là phải tìm cho ra cái dị mới sắp đặt được nên cái đồng. Lửa và đầm hai tính trái nhau thì thành ra Khuê, lời Tượng nói rằng cùng mà khác nghĩa là lựa chọn ở trong lúc đồng mà tìm ra cái dị. Thế mới biết đồng mà không đồng không phải là hỗn tạp, dị mà dị không phải là cuồng bạo. Thánh nhân giảng đạo lý bao giờ cũng giảng đạo lý sống, chẳng bao giờ giảng đạo lý chết; biết như thế thì học được Dịch.
Hào sơ cửu: mất ngựa đừng đuổi, nó tự trở về
Hào dương, hào tốt. Lúc đầu gian nan, sau thành đạt, như người có lòng trong trắng cho nên mất lại được. Khỏi ăn năn nữa, vì gặp được hào bốn đồng đức; mất ngựa cũng đừng đuổi tìm, nó tự trở về; cứ gặp kẻ ác, không lỗi gì.
Hối vong, táng mã vật trục, tự phục; kiến ác nhân, vô cữu.
Toán Hà Lạc nói mất người ứng viện mà rồi lại được.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này có tính cương, ở địa vị dưới, trong thời chống đối nhau thì ít kẻ hợp với mình, hành động sẽ bị hối hận. Nhưng hào này ở trên có hào bốn cũng dương cương, ứng với mình, tức như có bạn đồng chí, cứ chờ đợi rồi sẽ gặp, bao nhiêu khó khăn, ân hận sẽ tiêu hết. Đối với kẻ ác thì tuy không ưa cũng đừng tỏ ra, cứ làm bộ vui vẻ giao thiệp với họ để họ khỏi thù oán.
Người mệnh hợp cách có đức vọng làm cho người ta tin, ngay thẳng làm cho người ta hết bạo ngược; lúc nhỏ khó phát triển, lớn lên sẽ thành đạt. Người mệnh không hợp cách gian nan chẳng gặp dịp may, muộn mới khá.
Về vận hạn: giới quan được phục chức cũ, hoặc bị giáng thì được phục hồi; kẻ sĩ tiến thủ trắc trở; người thường trước mất sau được, trước giận sau lành; đề phòng hao tổn lục súc và lo lắng. Gặp nhau nhùng nhằng, được này mất kia.
Hào cửu nhị: gặp chủ trong ngõ hẹp, không có lỗi
Hào dương, hào tốt. Gặp được cấp trên tốt, dễ thăng tiến; sĩ tử đậu đạt cao; người thường kinh doanh phát đạt. Gặp chủ, tức hào năm ứng, ở trong ngõ hẻm, vì thời Khuê xấu, không thể đường hoàng; nhưng không lỗi.
Ngộ chủ vu hạng, vô cữu.
Toán Hà Lạc nói hết lòng vì chúa.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, đắc trung, ứng với hào năm âm nhu, đắc trung. Nếu ở trong quẻ Thái, là thời thông thuận, thì rất tốt. Nhưng ở trong quẻ Khuê, là thời chống đối nhau, thì khó, vì hào năm âm nhu có ý kiêng né hào hai dương cương; do đó hào hai muốn gặp hào năm thì phải dùng đường tắt, gặp trong ngõ hẹp như tình cờ gặp nhau. Không có lỗi gì cả, vì thái độ đó chỉ là quyền biến thôi.
Phan Bội Châu phụ chú: đạo lý trong thiên hạ chỉ sợ có lẽ phải mà thôi, mà lẽ phải lại thường phải tùy thời mà thay đổi. Y Doãn chờ vua Thang ba lần đem sính lễ mới chịu ra; Khổng Minh chờ Lưu Bị ba lần đến mời mới chịu ra. Nhưng Bách Lý Hề thì làm nghề chăn trâu mà cầu tiến thân với Tần Mục Công; Ninh Thích giả cách đi hát giữa chợ để cầu cảm động được Tề Hoàn Công; cũng chỉ chung một đạo lý mà cơ quyền, thủ đoạn có khác nhau. Cho nên ở vào thời Khảm, là hiểm, Dịch dạy cho giao ước qua cửa sổ; xử vào thời Khuê, Dịch dạy cho gặp chủ trong ngõ hẹp; chính là việc cầu cho được đạt cái chí tiết nghĩa của thánh hiền. Nhưng những hạng cố chấp thì không bao giờ biết được nghĩa ấy. Phải bậc tột cao mới đạt được tiết của mình, còn thứ nữa chỉ nên thủ tiết mình là được.
Người mệnh hợp cách là người trung nghĩa; cũng hiểu được nhân tình, hiểu người giúp mình, ở nơi ngõ hẻm chẳng quan tâm đến vinh nhục.
Về vận hạn: giới quan gặp chủ sẽ được thăng chuyển; kẻ sĩ được tuyển chọn và tiến lên; người thường kinh doanh đắc ý. Bỏ nơi kia, đến nơi này, việc làm uyển chuyển mới hay hợp thời.
Hào lục tam: xe bị kéo lùi, trâu bị chặn trước, đầu khó mà cuối hợp
Hào âm, hào xấu. Thấy kẻ kéo xe mình lùi lại, là hào hai; con trâu bị ngăn trước, là hào bốn; người này như bị cạo đầu, cắt mũi. Tuy không có trước, nhưng rồi sẽ có sau, vì sẽ gặp hào sáu ứng.
Kiến dư duệ, kỳ ngưu xiết, kỳ nhân thiên thả tị, vô sơ hữu chung.
Lúc đầu xấu, về sau tốt: quan chức bị nghi kỵ, gièm pha; sĩ tử bị thất cơ lỡ vận, sau được minh oan, được phục chức, thăng tiến; người thường gặp khó khăn lúc đầu, sau thành đạt. Toán Hà Lạc nói trước giận nhau, sau mới hợp.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào ba bất chính, âm mà ở vị dương, ứng với hào trên cùng cũng bất chính, dương mà ở vị âm. Vì ứng với nhau nên cầu hợp với nhau; hào ba muốn tiến lên gặp hào ứng với nó, nhưng bị hào bốn ở trên ngăn chặn, như cỗ xe đã dắt tới rồi mà con bò bị cản, không tiến được. Lại thêm bị hào hai ở dưới níu kéo lại. Hào ba phải chống lại hào bốn và hào hai, xô xát với chúng mà bị thương ở mặt, ở tai. Nhưng rốt cuộc hào hai và hào bốn vẫn không thắng được, chính hào ba vẫn hòa hợp được với hào trên cùng. Phan Bội Châu bình: tóm lại ở vào thời Khuê, dầu có chính ứng mà hòa hợp, cũng gay go như thế.
Người mệnh hợp cách tính mẫn tiệp, trước bị người ngược đãi, sau hợp được và tính việc gì cũng thành. Người mệnh không hợp cách hay bị hình thương ở sau ngựa, trước xe; trước khổ, sau mới được an vui.
Về vận hạn: giới quan phòng kẻ xu nịnh ngăn bước; kẻ sĩ có thể bài thi bị bỏ, sau sẽ được xét lại; người thường trước trở ngại sau thành, số xấu thì bị hình thương. Hợp tan, họa hoạn nên phòng, trước thì vất vả, sau cùng mới hay.
Hào cửu tứ: cô đơn trong thời chia lìa, gặp bạn thành tâm
Hào dương, hào tốt. Lúc đầu bị cô đơn, sau phúc lộc, thành đạt, thăng tiến. Cô đơn trong thời Khuê, thời chống đối, chia lìa, gặp người trai tốt, tức hào một đồng đức, mà chí thành hòa hợp với nhau thì tuy gặp nguy nhưng không lỗi.
Toán Hà Lạc nói gặp bạn thì không buồn cảnh cô đơn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào bốn này cô lập vì là dương mà bị hai hào âm bao vây; người trai tốt đây là hào một, cùng đức dương cương với hào bốn. Lời Tượng nói hai người trai liên kết thì không có lỗi, mà chí thì tiến lên được.
Phan Bội Châu giảng: hai hào dương cương kết hợp với nhau một cách chí thành; ở thời Khuê mà có bạn quân tử như thế thì chẳng những không lỗi mà còn phát triển được cái chí cứu thời của mình. Lời Tượng ở đây bổ túc cho ý nghĩa của lời hào; lời hào chỉ nói không lỗi mà thôi.
Người mệnh hợp cách có tài xuất chúng, giao thiệp giỏi, gặp bạn hay, giúp dẹp loạn, trị nước, chuyển giận thành hòa; mệnh nữ có thể thành bà lớn. Người mệnh không hợp cách cũng là người tự lập, trước chia ly, sau tương hợp.
Về vận hạn: giới quan được đồng chí tiến cử, đề bạt; kẻ sĩ được người trên biết đến; người thường hôn nhân thành, từ nguy đến an, việc mưu tính trước nghịch sau thuận. Cô đơn gặp bạn cố tri, đồng lòng lo tính, nạn gì cũng qua.
Hào lục ngũ: cắn vào da cho thân nhau, còn lỗi gì đâu
Hào âm, hào tốt. Khỏi ăn năn nữa; người cùng tông phái nên cắn vào da để thân nhau; tiến đi thì còn lỗi gì đâu.
Hối vong, quyết tông phệ phu, vãng hà cữu.
Ý hào: được người giúp đỡ, thời cơ thăng tiến, đề đạt, kinh doanh phát triển. Toán Hà Lạc nói dễ dàng gặp nhau, biết nhau, cứ tiến đi.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này không đắc chính, âm mà ở vị dương, ở vào thời chống đối, đáng lẽ xấu; nhưng nhờ có đức trung, lại có hào hai dương cương ứng với mình nên không xấu nữa, hối hận tiêu tan hết. Được vậy là nhờ hào hai chịu đứng vào một phe với mình, rất thân thiết với mình, như cắn chặt vào da mình.
Phan Bội Châu phụ chú: ở vào thời Khuê, dầu vua với quân tử kết hợp với nhau cũng tất phải vừa liệu chiều, vừa khôn khéo, như hào hai với hào năm, đều có đức trung, lại chính ứng với nhau; nếu ở thời khác thì hai người ấy kết hợp là việc dễ dàng. Song ở thời Khuê, đành phải tùy cơ ứng biến, cho nên hào hai nói gặp chủ trong ngõ hẹp, đến hào năm có chữ cắn vào da mình. Ngõ hẹp là không phải đi thẳng vào ngay; cắn vào da là tìm cách lựa cơ, rình thế. Mới biết rằng ở thời Khuê thật không thể so bì với đời thái bình vậy.
Người mệnh hợp cách vị cao, đốc lớn, được người giỏi phụ tá, lập công danh, hưởng phú quý. Người mệnh không hợp cách được nhờ tổ nghiệp âm phù, không khó nhọc gì, ra ngoài cũng gặp tri kỷ, nhưng phòng xương thịt cắn đứt.
Về vận hạn: giới quan được đền bù công lao; kẻ sĩ được lên cao; người thường thu lợi, hôn nhân thành, có người đề cử; số xấu thì bạn bè oán ghét, xương thịt bị hình thương, việc quan rắc rối. Tênh tênh hoạn nạn xa rồi, đến kỳ cát khánh, vui ngồi với nhau.
Hào thượng cửu: nhìn thấy heo đội bùn, tưởng cả xe quỷ, hóa ra người đến cầu hôn
Hào dương, hào xấu. Dễ bị cô lập, nghi kỵ, nhầm lẫn bạn bè. Quan chức đa nghi, sĩ tử mờ ám, gian khổ lúc trẻ, về già khá hơn. Cô đơn ở thời Khuê, thấy con heo đội bùn, bẩn lắm, một xe chở quỷ, xấu lắm; trước giương cung định bắn, sau tháo cung ra vì không phải giặc, đó là người muốn kết hôn. Thôi đi, gặp mưa tức giao hòa thì tốt.
Khuê cô, kiến thỉ phụ đồ, tái quỷ nhất xa, tiên trương chi hồ, hậu thoát chi hồ, phỉ khấu hôn cấu, vãng ngộ vũ tắc cát.
Tất cả trên là thái độ của hào sáu đối với hào ba: trước ngờ, sau hết ngờ và hòa hợp. Toán Hà Lạc nói đối với người ứng viện, trước ngờ sau hợp.
Nguyễn Hiến Lê giảng: ở vào thời chia lìa, người ta hay nghi kỵ nhau; hào cuối cùng này dương cương, ở địa vị tối cao, không tin ai ở dưới cả nên cô độc. Ngay hào ba âm, chính ứng với mình, mà cũng bị mình nghi kỵ, vì hào ba ở kẹt giữa hai hào dương, nên cho rằng hào ba vào phe hai hào dương đó mà chống với mình. Vì nghi kỵ nên thấy hào ba như con heo đội bùn, lại tưởng xe chở một bầy quỷ muốn hại mình. Do đó mà đâm hoảng, giương cung muốn bắn hào ba; nhưng nhờ vẫn còn chút minh mẫn, vì ở trên cùng quẻ ngoại Ly, sau nghĩ lại buông cung xuống xin lỗi hào ba: tôi không phải là giặc muốn làm hại em đâu, mà là muốn cầu hôn với em. Hết nghi kỵ rồi, hai bên hòa hợp với nhau, vui vẻ như sau khi nắng lâu gặp trận mưa rào, và cùng giúp nhau cứu đời. Văn thật là bóng bẩy, tâm lý cũng đúng. Phan Bội Châu khen là đạo lý rất tinh thâm, mà văn tự cũng ly kỳ biến hóa.
Ông nhắc: quẻ Khuê là quẻ xấu nhất Kinh Dịch, nhưng kết quả lại không có gì xấu. Sáu hào thì có ba hào không lỗi, một hào hối hận tiêu hết, một hào hòa hợp với nhau, nhất là hào cuối lại tốt nữa. Như vậy là trong cái họa vẫn có mầm phúc.
Phan Bội Châu cảm khái: chúng ta chỉ lo không người tạo thời thế, chứ đừng lo không có thời thế tạo mình; có lẽ đâu Khuê hoài, Khuê mãi mà không có một ngày thông thái được.
Người mệnh hợp cách trước khó khăn sau dễ dàng, hoặc hôn nhân tới, hoặc việc quân sự thành công; mưa tượng trưng cho phúc trạch, vui mừng, lợi lộc đến. Người mệnh không hợp cách cô đơn, ô trọc, dối trá, điều tiếng, tan hợp bất thường.
Về vận hạn: giới quan bị gièm pha, oán trách; kẻ sĩ trước u mê, sau làm được; người thường gặp ô nhục, bị vu oan, trước tổn sau ích. Sợ lo, tiếng sấm nổ vang, qua cơn mưa gió mây vàng trăng soi.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
