Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Tiểu vận và mười bảy điều xét khi vận hạn chạm vào lá số

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Tiểu vận và mười bảy điều xét khi vận hạn chạm vào lá số

Người ta vẫn tin đại vận mười năm chia đôi, năm năm đầu theo can, năm năm sau theo chi. Nhưng có người vừa bước vào đại vận chưa đầy một năm đã chạm họa, có người đến năm thứ tám mới gặp. Và còn một thứ vận nhỏ hơn, canh giữ từng năm một của đứa trẻ chưa vào đại vận...


Tính đại vận cho đúng đến từng tháng

Khi tính tuổi bắt đầu đại vận, người ta thường lấy tròn tuổi làm chuẩn. Nhưng còn một cách tính chính xác hơn. Lấy ba ngày làm một năm, một ngày đổi thành bốn tháng, một giờ đổi thành mười ngày. Chẳng hạn từ giờ sinh Thìn đến lúc giao tiết thực tế cách bốn ngày ba giờ; ba giờ là ba mươi ngày, vừa đúng một tháng. Như thế lá số ấy chính xác hơn là một tuổi năm tháng bắt đầu đại vận, và vận được tính từ lúc ấy.

Còn một cách khác, lấy ba ngày đổi một tuổi, năm ngày là một tuổi dư hai ngày, tức một tuổi tám tháng thì bắt đầu đại vận. Như một người nữ sinh giờ Tị ngày 27 tháng 11 năm 1991, đếm thuận đến tiết tiểu hàn giờ Tị ngày 2 tháng 12 là đủ năm ngày; chia cho ba thì được một, còn dư hai ngày, hai ngày đổi thành tám tháng, tức một tuổi tám tháng thì bắt đầu đại vận.

Tiểu vận: họa phúc của từng năm

Đại vận là cát hung của mười năm, tiểu vận là họa phúc của một năm. Tiểu vận có thể bổ trợ chỗ còn thiếu của đại vận, của năm hạn và của Tứ trụ; ngược lại, nó cũng có thể là điều kiêng kỵ đối với đại vận, năm hạn và Tứ trụ. Tóm lại công dụng của tiểu vận có cát có hung và không thể thiếu trong vận trình cả đời người, nhất là ở tuổi nhỏ chưa vào đại vận, khi cần đoán cho trẻ từng năm một.

Ngày xưa lấy tiểu vận có hai cách. Cách thứ nhất, trong Uyên Hải Tử Bình: không cần phân mệnh âm hay dương, một tuổi bắt đầu từ Bính Dần, hai tuổi từ Đinh Mão, và cứ thế; nữ thì một tuổi bắt đầu từ Nhâm Thân, hai tuổi từ Tân Mùi. Cách thứ hai, trong Mệnh Lý Thám Nguyên: lấy theo giờ sinh của người ấy, nam dương nữ âm thì tính thuận, nam âm nữ dương thì tính ngược.

Thầy Thiệu Vĩ Hoa cho rằng cách thứ nhất không căn cứ vào Tứ trụ khác nhau của từng người, nên tránh sao khỏi thiếu khoa học: đã là nam thì tiểu vận ai cũng giống ai, đã là nữ cũng vậy, thực tế làm thế không ổn. Cách thứ hai khoa học hơn, vì không những phân biệt nam nữ âm dương mà còn đi thuận nghịch thống nhất với đại vận, hơn nữa lại tùy giờ sinh mà ra tiểu vận khác nhau, và khi tính toán thực tế thì chính xác. Do đó nên lấy tiểu vận theo cách này.

Ví dụ: nam sinh giờ Kỷ Tị, ngày Kỷ Mão, tháng hai năm 1990, một tuổi tiểu vận là Canh Ngọ, hai tuổi là Tân Mùi, cứ thế tính thuận đến năm cần đoán. Nếu cùng ngày giờ ấy mà là nữ thì một tuổi tiểu vận là Mậu Thìn, hai tuổi là Đinh Mão, cứ thế tính ngược lên. Một ví dụ khác: nam sinh giờ Tân Dậu, ngày Quý Tị, tháng ba năm 1991, một tuổi tiểu vận là Canh Thân, hai tuổi là Kỷ Mùi, tính ngược lên; nếu là nữ thì một tuổi tiểu vận là Nhâm Tuất, hai tuổi là Quý Hợi, tính thuận. Tiểu vận lấy theo tuổi hư, mỗi năm tính một tuổi.

Vận sinh cho mệnh là tốt

Người xưa nói: vận sinh cho mệnh là tốt, vận khắc mệnh hoặc mệnh sinh cho vận thì không có lợi. Vận sinh cho mệnh lấy nạp âm sáu mươi giáp tý làm chuẩn. Như người sinh năm Bính Tý hay Đinh Sửu là mệnh thủy: nếu gặp vận mộc Mậu Tuất, Kỷ Hợi thì thủy bị tiết khí; gặp vận Canh Tý, Tân Sửu là thổ thì thổ khắc thủy, không tốt; gặp vận Nhâm Dần, Quý Mão có nạp âm kim thì kim sinh thủy, tốt. Tam Mệnh Thông Hội nói: vận xoay vần đến nạp âm cùng loại với mệnh là tốt nhất.

Vận trình của người ta đại để có ba loại: vận tốt, vận xấu và vận trung bình. Thời thanh niên và trung niên gặp vận sinh trưởng thì sáng tạo, làm nên sự nghiệp; gặp vận lâm quan, đế vượng thì sự nghiệp phát đạt, thăng chức, được của, sinh con, nhiều tin vui. Gặp vận suy, bệnh, tử, tuyệt phần nhiều thất bại, hao tài, bệnh tật, cốt nhục chia lìa, mê rượu sắc, việc gì cũng trắc trở. Vận đến đất thai, dưỡng thì bình lặng, yên ổn. Người trước gặp vận bại thì sau sẽ gặp vận tốt, người trước gặp vận tốt thì sau thường là vận bại, giống như đi đường, có lên dốc thì có xuống dốc, đã xuống dốc tất phải lên dốc.

Lưu niên là chính, đại vận là phụ

Quan hệ sinh khắc giữa đại vận, tiểu vận, lưu niên và quan hệ của ba thứ ấy với Tứ trụ vô cùng phức tạp, là một trong những khâu then chốt quyết định đoán đúng hay sai. Người xưa lập thuyết rất coi trọng chỗ này, nhưng lý luận cao siêu, quan điểm rối rắm, lý lẽ rườm rà làm người học sau rất lúng túng. Qua thực tiễn của bản thân, ông rút ra: quan hệ sinh, khắc, hình, xung giữa đại vận và lưu niên với Tứ trụ thì lấy lưu niên làm chính, đại vận làm thứ yếu; tiểu vận hỗ trợ với Thái Tuế hoặc hỗ trợ đại vận; sau đó mới xem dụng thần, nhật nguyên, hoặc các điều nên kỵ của lá số. Làm theo cách đó thường dễ đoán đúng cát hung cả đời.

Khi vận chưa hình, xung, khắc, hợp với lá số

Đại vận quản mười năm bằng can chi của nó: năm năm đầu lấy can làm chủ chiếm bảy phần, chi chiếm ba phần làm bổ trợ; năm năm sau lấy chi làm chủ chiếm bảy phần. Lưu niên thì dùng can chi quản một năm. Khi không có hình, xung, khắc, hợp phá hoại, đại thể đoán cát hung như sau. Đại vận hay lưu niên là hỉ thần hoặc dụng thần của lá số thì tốt. Là kỵ thần thì xấu. Không phải hỉ thần, dụng thần hay kỵ thần thì bình thường.

Khi vận đụng vào lá số, hai nguyên tắc đầu

Khi đại vận hay lưu niên phát sinh hình, xung, khắc, hợp với lá số thì cát hung biến đổi phức tạp: có khi hình xung khắc hợp biến cát thành xấu, có khi biến hung thành tốt. Đây là chỗ khó nhất của mệnh học. Nguyên tắc thứ nhất: khi đại vận hay lưu niên đã sinh hình xung khắc hợp với lá số rồi biến hóa, thì cho dù lá số vốn có hay không có hình xung khắc hợp, nhất thiết lấy đại vận hoặc lưu niên làm ưu tiên để xem; đại vận quan trọng hơn, lưu niên yếu hơn. Nguyên tắc thứ hai: nếu lá số có hợp nhưng không hóa, mà đại vận hay lưu niên dẫn ra thần hóa, thì hợp cục ấy thành hóa cục, và khi tan cục sẽ có thay đổi lớn.

Mười bảy điều đoán cát hung khi vận đã chạm vào lá số

Một. Đại vận hoặc lưu niên hình, xung, khắc, hợp làm mất kỵ thần của lá số thì chuyển xấu thành tốt.

Hai. Làm mất hỉ thần hoặc dụng thần của lá số thì chuyển tốt thành xấu.

Ba. Đại vận hay lưu niên là hỉ thần, dụng thần, nhưng bị một chữ nào đó trong lá số xung khắc hoặc hợp chặt, thì tốt mà không thực, thành bình thường.

Bốn. Đại vận hay lưu niên là kỵ thần nhưng có một chữ nào đó xung khắc mất hoặc hợp chặt kỵ thần ấy, thì cái xấu vừa phải, trở thành bình thường.

Năm. Đại vận hay lưu niên hợp hóa thành công với lá số thì lấy thần hóa ấy mà bàn: hóa thành hỉ thần, dụng thần là tốt, hóa thành kỵ thần là hung.

Sáu. Đại vận hay lưu niên hình phạt lá số, dù hình phạt mất hỉ thần hay kỵ thần, đều chủ về hung.

Bảy. Địa chi của đại vận và lưu niên thiên khắc địa xung với nhau, hoặc can chi của đại vận thiên khắc địa xung với lá số, hoặc lưu niên xung khắc lá số, đều chủ về hung; nếu khắc nhập hoặc xung nhập vào vận hạn ấy thì càng nặng.

Tám. Đại vận và lưu niên thiên tỉ địa xung, hay thiên khắc địa tỉ, hay thiên tỉ địa hình, đều chủ về hung; nếu xung vào vận hạn ấy thì càng nặng.

Chín. Đại vận, lưu niên và lá số hình thành một chi xung ba chi, hoặc một can khắc ba can, một chi hình ba chi, hoặc ba chi hình một chi, e rằng có tai nạn bất ngờ nguy hiểm đến tính mạng, phải hết sức chú ý. Một chi xung hai chi, một can khắc hai can, một chi hình hai chi hay hai chi hình một chi thì tuy có họa nhưng nhẹ hơn.

Mười. Trong đại vận, lưu niên, lá số có bốn chi hợp với một chi, bốn can hợp với một can, một chi hợp bốn chi, hoặc một can hợp bốn can, thì chủ tình cảm có sóng gió, bệnh tật hoặc thất bại tài sản, và tình trạng ấy kéo dài.

Mười một. Lá số lấy thương quan làm dụng thần thì đại vận, lưu niên kỵ nhất là thương quan. Phạm điều ấy có thể tan nát nhân duyên, cãi vã, kiện tụng, hoặc phá sản.

Mười hai. Lá số, đại vận, lưu niên có sáu địa chi hợp thành hai cục khác nhau, hoặc tam hợp cục tương khắc nhau, thì chủ đại họa đến nơi, cái chết khó tránh.

Mười ba. Đại vận, lưu niên dùng hai chi xung một chi, xung vào cung thê (vợ) thì vợ có tai họa, xung vào cung phụ mẫu thì cha mẹ có tai nạn, xung vào cung con cái thì con cái gặp nạn.

Mười bốn. Đại vận, lưu niên, lá số xuất hiện tam hình: hai hình bất kỳ nhập vào chính ấn của lá số là có nguy cơ mẹ mất, nhập vào thiên tài là có nguy cơ cha mất, nhập vào chính tài là có nguy cơ vợ mất, nhập vào thực thương là có điềm con mất.

Mười lăm. Trong đại vận, lưu niên hoặc lá số xuất hiện hai nhóm hình phạt nhau hay tuần hoàn tam hình, khi hình nhập vào vận hạn ấy mà không có cái cứu giải, tức không có thiên đức, nguyệt đức hoặc không bị những chữ khác hợp chặt, thì bản thân có tai họa; nếu lại gặp xung thì tai họa nặng hơn, có thể chết. Nếu hình không nhập vào vận hạn ấy mà nhập vào chi năm, không có gì cứu, thì ông bà có tai họa; nhập vào chi tháng thì cha mẹ có tai họa; nhập vào chi ngày thì con cái hoặc vợ có tai họa.

Mười sáu. Can ngày khắc thiên can lưu niên, tức phạm tuế quân, là xấu. Nếu có cứu, như một can khác khắc hợp làm xì hơi can ngày hoặc có quý nhân, thiên đức, thì chỉ ngăn trở người ấy tiến, tức không gặp của.

Mười bảy. Trong đại vận, lưu niên và lá số xuất hiện đủ bốn chữ Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì tốt.

Khi dùng các điều ấy, lá số được chia làm bốn thời kỳ, mỗi thời kỳ là một hạn: trụ năm từ lúc sinh đến mười lăm tuổi; trụ tháng từ mười sáu đến ba mươi mốt tuổi; trụ ngày từ ba mươi mốt đến bốn mươi bảy tuổi; trụ giờ từ bốn mươi bảy đến sáu mươi lăm tuổi.

Mười năm của đại vận do cả can lẫn chi quản

Về đại vận mười năm, nhiều cách nói thiên can quản năm năm đầu, địa chi quản năm năm sau. Qua thực tiễn, ông thấy quan hệ giữa can chi của đại vận với lưu niên và Tứ trụ vừa mật thiết vừa phức tạp, là dấu hiệu vận khí tốt xấu trong mười năm. Rất nhiều trường hợp cho thấy can chi của đại vận đều tác động trong suốt mười năm. Như đại vận Giáp Tý thương quan: theo thuyết can Giáp quản năm năm đầu, chi Tý quản năm năm sau, thì năm năm đầu không gặp năm Tân vốn không có tai họa gì hoặc việc gì cũng thuận lợi. Nhưng thực tế năm năm đầu không gặp quan tinh của lưu niên, mà đến năm thứ bảy, thứ tám, có người đến tận năm cuối của đại vận mới gặp quan tinh của lưu niên, thì lại sinh họa do thương quan gặp quan tinh. Địa chi Tý của đại vận theo thuyết chỉ quản năm năm sau, nhưng khi Tý rơi vào năm năm đầu mà gặp chi Ngọ của lưu niên thì Tý của đại vận xung khắc Ngọ của Thái Tuế, tai ách hoặc việc không thuận là điều khó tránh.

Can chi của đại vận tác động mười năm, có quan hệ mật thiết với tổ hợp lá số. Nếu lá số đã rõ năm thứ bảy hoặc thứ tám của đại vận gặp quan vận bất lợi thì thương quan Giáp mộc của đại vận sẽ có lúc gặp thương quan tinh và sinh họa. Ví dụ nhật nguyên trong lá số có Ngọ, đại vận có Tý thì Tý của đại vận xung Ngọ của nhật nguyên, khiến người ấy trong mười năm năm nào cũng có chuyến đi xa; nếu không thì bản thân hay vợ gặp việc không thuận, có người tai họa ứng vào lúc cưới nhau. Có ví dụ rất rõ: địa chi đại vận là Thân, chi ngày của lá số là Dần, vào đại vận chưa đầy một năm thì Thân kim của vận xung Dần mộc của chi ngày, làm người ấy gặp tai ách và những việc không may.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc