Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Tám đại vận của một lá số: cát hung đoán ra sao

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202615 phút đọc2 lượt đọc
Tám đại vận của một lá số: cát hung đoán ra sao

Một người sinh trong nhà đại địa chủ, mười một tuổi gia tộc tan nát, hai mươi mốt tuổi vào tù mười tám năm. Mọi biến cố ấy đã nằm sẵn trong tám đại vận của lá số. Thử xem từng vận hiện ra thế nào…


Một lá số mà năm sinh đã vẽ sẵn nhiều biến cố

Lá số của một nam nhân: năm bính tuất, tháng canh dần, ngày bính tý, giờ quý tị. Đại vận xếp thuận từ trụ tháng canh dần, khởi từ một tuổi, mỗi vận mười năm: tân mão, nhâm thìn, quý tị, giáp ngọ, ất mùi, bính thân, đinh dậu, mậu tuất. Đối với nhật can bính, mười thần của tám vận lần lượt là tài, sát, quan, kiêu, ấn, tỉ, kiếp, thực.

Thoạt nhìn đây là lá số tốt: can ngày được lệnh, lại gặp tài và quan. Nhưng xét theo cân bằng thì còn lo nhật nguyên chưa chắc đã thắng nổi tài quan. Can ngày bính đóng trên đất trường sinh của tháng dần. Hỏa mùa xuân mừng được mộc phù trợ, mộc không nên vượng quá nhưng cũng không nên bị khắc. Tài là canh kim ở trụ tháng khắc dần mộc, nên lệnh tháng bị tổn hại, can ngày bị uy hiếp. Quý thủy chính quan lộ ở can giờ, gốc là tý thủy nằm ngay sát bên nên lực khắc rất mạnh. Chi giờ tị là quy lộc của can ngày, tức lộc ở trụ giờ, vốn giúp trợ được thân, nhưng bị can giờ khắc chế, lại bị lệnh tháng dần hình hại tị nên không giúp nổi. Tài tinh ở can tháng làm hao khí can ngày. Can năm là bính hỏa ngang vai, vốn cứu trợ được ít nhiều, nhưng đáng tiếc phía dưới can năm là mộ kho tuất của hỏa nên không giúp thân được.

Những nhân tố có lợi như thân vượng, được lệnh, đắc địa, được trợ giúp, từng cái một đều bị bài trừ, tiêu hao. Giống như người ngồi trên chiếc thuyền tốt nhưng bốn bề sóng nước mênh mông, lúc nào cũng có nguy cơ lật thuyền. Xét cân bằng tổng hợp thì chính quan khắc thân là điều kị nhất. Quan vượng lại có lẫn hình hại, gặp tuất là nhật mộ, nên rất sợ phạm hình pháp, thân phải vào tù. Do đó mệnh này kị tài vận, vì tài sinh quan sát; kị vận quan sát khắc thân; kị hình vận; kị vận thân nhập mộ. Nếu gặp vận ấn tinh hóa quan sinh thân thì tốt; thứ đến là vận tỉ kiếp, thực thương có thể chế ngự quan sát nhưng làm xì hơi thân nên chỉ là vận bình thường.

Năm điều đoán ra, điều nào cũng ứng

Sau khi đoán sơ bộ, người đoán còn tham khảo tướng mặt và tướng tay, rồi nêu ra năm điều. Một: người này vốn xuất thân nhà giàu, nhưng năm 1952 ông bố và gia đình gặp tai họa về quan lộ, từ đó gia đình tan nát. Hai: ông bố không mất năm 1958 thì cũng mất năm 1960. Ba: năm 1970 người này có họa ngồi tù kéo dài mười tám năm. Bốn: hôn nhân không thuận, đã lấy vợ hai lần, vợ không phải chết rồi thì cũng là sắp chết. Năm: về sau còn có họa ngồi tù, nếu biết giải thì có thể tránh được. Điều nào cũng chính xác đến mức người nghe phải khâm phục.

Từng vận hiện ra trong lá số thế nào

Gia đình tan nát năm 1952, vận từ một đến mười một tuổi. Người này xuất thân từ gia đình đại địa chủ. Năm 1952 ông bố bị đấu tố, ruộng vườn gia sản đều bị chia hết. Trong mệnh cục điều đó hiện ở chỗ kị vận là tài sinh quan khắc thân. Trụ năm vốn thiên hợp địa hợp với đại vận, nhưng gặp lưu niên nhâm thìn, tức năm 1952, là năm thiên khắc địa xung nên bị đánh bật cả gốc rễ. Ngôi phụ tinh trên thiên can bị khắc là xấu nhất, nên nói là kiếp phụ, kiếp tài.

Cha mất năm 1960, vận từ mười một đến hai mươi mốt tuổi. Bước sang vận thất sát là kị vận, thiên khắc địa xung với trụ năm. Hơn nữa quan sát hỗn tạp lại khắc bính hỏa, bính hỏa ở trụ năm nhập mộ, gặp chi thìn của vận xung. Cho nên nếu ông bố không mất năm 1958, tức năm mậu tuất, là năm mộ bị xung khai, thì nhất định mất vào năm canh tý 1960, năm tài sinh quan sát khắc phụ tinh bính hỏa.

Mười tám năm tù, vận từ hai mươi mốt đến ba mươi mốt tuổi và những vận sau. Bước sang vận chính quan là kị vận. Địa chi của quan vận lại có lẫn hình hại là điều kị nhất. Trong mệnh cục đã sẵn dấu hiệu lao tù là dần hình tị, can ngày lại rơi vào năm nhập mộ, thiên can của lưu niên là tài sinh quan, năm canh tuất quan hình nhập mộ, nên nhất định đến cửa quan và bị giam. Tiến sang vận kiêu thần, chi vận có kình dương, hung thần lẫn kình dương, kiêu đoạt thực thần là vô cùng xấu, nên ngày ra khỏi tù chưa thấy rõ. Nhưng kiêu thần, kình dương cuối cùng vẫn còn chút tác dụng tốt là có thể sinh thân, giúp thân, nên người ấy chưa đến nỗi chết. Đó là vận từ ba mươi mốt đến bốn mươi mốt tuổi, vận tai họa còn kéo dài.

Bước sang vận ấn tinh là vận tốt, có cơ hội nhìn thấy mặt trời. Đến năm xung khai được mộ thì nhất định được ra tù, đó là năm mậu thìn 1988.

Hôn nhân trắc trở. Từ hồi quan vận, vợ đã ốm chết. Sau khi ra tù lại tái hôn, nhưng vì tình khắc vẫn như cũ, chi tý thủy trong lá số tương hại với mùi thổ, ngôi thê tinh, nên hiện nay vợ ốm sắp chết. Đó là vận từ bốn mươi mốt đến năm mươi mốt tuổi, vận trong cát có hung.

Còn họa tù và tuổi thọ. Người ấy còn gặp vận vào tù, nhưng vì đại vận tốt nhiều nên nếu biết giải thì được cứu. Bước sang vận ngang vai là vận tốt giúp trợ thân, nhưng địa chi của vận là tài, là hình hại, xung với lệnh tháng, nên bất lợi cho vợ, của cải và thân mình. Nhờ thiên can của vận chế ngự được địa chi nên có cứu. Vận kiếp đinh dậu cũng như thế. Vận thực thần là vận bình thường, nhưng chi tuất của vận là chỗ thân gặp mộ nên tuổi thọ không thể vượt quá vận này. Người ấy sau khi bước sang ấn vận tuy có đạt được một ít thành đạt, hưởng phú quý, vẫn khó tránh những điều trắc trở. Tuy cuộc đời gập ghềnh, về cuối còn được hưởng ít phúc.

Cát hung từng vận của lá số này

Tài vận, sát vận, quan vận: đại vận xấu, lưu niên xấu, đại xấu. Kiêu vận: đại vận bình thường, lưu niên xấu, xấu ít. Ấn vận, tỉ vận, kiếp vận: đại vận tốt, lưu niên xấu, tốt nhiều xấu ít. Thực vận: đại vận bình thường, trong đó có gặp điều kị, lưu niên xấu, đối với tuổi thọ là xấu.

Từ ví dụ ấy có thể thấy cách đoán này lấy lệnh tháng trong mệnh cục làm cơ sở để đo các vượng suy. Đại vận không chỉ được bàn đồng thời với sự sinh khắc chế hóa trong Tứ trụ mà còn chỉ ra xu thế cát hung ở từng bước vận trình. Thiên can đại vận là chủ thể, địa chi của đại vận có tác dụng bổ trợ có ích hoặc làm hại thiên can, đồng thời có xét sự cân bằng tổng hợp của các địa chi trong Tứ trụ. Lưu niên nằm dưới tiền đề cát hung của đại vận, được xét cùng sự sinh khắc chế hóa giữa Tứ trụ và đại vận, và xác định rõ năm nào gặp việc tốt hay việc xấu một cách cụ thể. Mối quan hệ giữa thiên can và địa chi của lưu niên cũng giống mối quan hệ vua tôi giữa thiên can và địa chi của đại vận.

Thiên can của đại vận có ba tác dụng: phải xét đồng thời với mười thần mà các thiên can của Tứ trụ thấu ra, kể cả sự cân bằng tổng hợp của mười thần trong các can tàng; là ranh giới phân chia giữa cát và hung; và là đối tượng sinh khắc của lục thân, tức căn cứ để phán đoán cung nào được lục thân sinh, cung nào bị lục thân khắc. Địa chi của đại vận cũng có ba vai trò: cùng tham gia sự cân bằng tổng hợp về hình, xung, khắc, hợp, hội, hại của các địa chi trong Tứ trụ; cùng tham gia sự cân bằng giữa thiên can đại vận và các can chi của Tứ trụ, tức phù trợ hay áp chế dụng thần; và dựa vào hình, hợp, xung, hội, hại để phán đoán cát hung của cung mệnh được sinh hay bị khắc.

Cát hung của tuế vận: đại vận làm gốc, lưu niên làm ngọn

Đại vận hoặc cát, hoặc hung, hoặc bình thường, trước hết phải lấy hỉ kị của dụng thần làm thước đo, rồi mới căn cứ quan hệ hình, xung, khắc, hợp của đại vận với Tứ trụ để điều chỉnh. Sau điều chỉnh, xu thế lớn của vận thường không đổi, chỉ có mức độ cát hung tăng hay giảm. Lưu niên nằm trong phạm vi xu thế ấy và có khuynh hướng luân hồi khá rõ. Có thể tóm gọn như sau:

  • Đại vận tốt, lưu niên tốt: vận rất tốt.
  • Đại vận tốt, lưu niên xấu: tốt nhiều, xấu ít.
  • Đại vận tốt, lưu niên thường: tốt vừa.
  • Đại vận thường, lưu niên tốt: tốt ít.
  • Đại vận thường, lưu niên xấu: xấu ít.
  • Đại vận thường, lưu niên thường: vận bình thường.
  • Đại vận xấu, lưu niên tốt: tốt ít, xấu nhiều.
  • Đại vận xấu, lưu niên xấu: xấu nhiều.
  • Đại vận xấu, lưu niên thường: xấu vừa.

Hành vận có lúc gặp vận dụng thần hoặc vận hỉ của dụng thần, có lúc gặp vận kị thần hoặc vận sinh trợ cho kị thần. Nếu tuế vận xung vào nguyên cục của Tứ trụ, cái xấu ấy chỉ cần mệnh cục có cứu là không còn xấu nữa. Khi xung mất hoặc hợp chặt kị thần trong nguyên cục thì ngược lại thành tốt, vận xấu cũng có thể chuyển nguy thành an. Khi dụng thần hoặc hỉ thần của dụng thần trong mệnh cục bị xung mất hoặc hợp chặt thì hỉ thần, dụng thần thành vô dụng nên biến xấu, và vận tốt cũng có thể chuyển phúc thành họa. Mệnh cục Tứ trụ xung khắc đại vận, lưu niên là xấu; trụ năm, trụ ngày bị phạm như vậy thì vô cùng xấu. Việc xấu sẽ ứng nghiệm vào tháng mà kị thần vượng tướng của lưu niên xung khắc.

Khi hành vận tốt mà lưu niên và đại vận không mâu thuẫn, tức không trợ giúp cũng không làm tổn hại nhau thì đó là vận tốt. Đại vận bình thường mà được lưu niên trợ giúp cũng là vận tốt. Lưu niên nhiều quá thì không tốt, vì làm giảm độ tốt của vận, biến vận tốt thành tốt nhiều xấu ít. Vận tốt mà tổ hợp lưu niên, đại vận, Tứ trụ không lợi cho dụng thần thì vận ấy nửa tốt nửa xấu. Nếu hành vận có hỉ dụng thần mà bị một thần nào đó của mệnh cục hợp chặt, xung mất, hoặc chế ngự chặt, chuyển thành sinh trợ cho kị thần hay giảm độ tốt của vận, thì vận cát trở thành vận bình thường. Như dụng thần là tài có thể chế áp ấn; quan là thần áp chế thân của vận tốt, nhưng quan sinh ấn là giúp cho hung thần, nên vận tốt chuyển thành bình thường, nghĩa là trong tốt có xấu, độ tốt bị giảm nhưng vẫn còn được cứu. Nếu nhật vượng mà tài quan nhẹ, gặp vận thực thương, thì thực thương sinh tài tuy là hỉ vận nhưng lực không lớn, nên chỉ xem là vận bình thường.

Nếu gặp kị thần của tài vận mà bị một thần nào đó của mệnh cục hợp chặt, xung mất hoặc chế ngự chặt thì trở thành sinh lợi cho dụng thần, tức có cứu, và vận xấu biến thành vận bình thường. Ví dụ trụ ngày nhược, tài quan là kị nhưng nhờ có chế, nên tuy hành các vận quan, sát, thực, thương là bại vận mà không đến nỗi bại nữa.

Gặp lưu niên của đại vận tốt thì dù mệnh cục Tứ trụ không tốt, tình cảnh vẫn sáng sủa; lưu niên đại vận tốt mà mệnh cục cũng tốt thì đương nhiên là vải gấm còn thêu hoa. Lưu niên đại vận xấu, đại vận lại xung khắc với lưu niên thì năm ấy rất xấu; nếu mệnh cục không tự cứu được thì việc không tốt thường ứng vào mười thần làm chủ trong Tứ trụ, hoặc ứng vào cung bị lục thân khắc, hoặc ứng vào tháng có ngũ hành bị khắc.

Hợp, xung và những điều kị trong tuế vận

Trong hợp có ngũ hợp của thiên can, lục hợp của địa chi, tam hợp cục, bán hợp cục và bán hội cục. Có hợp trong nguyên cục, hợp của mệnh cục với đại vận, hợp của mệnh cục với lưu niên, hợp của đại vận với lưu niên; lại có các tổ hợp thiên hợp và địa hợp. Tứ trụ gặp được cả hai thì cả cuộc đời thuận lợi, đại vận gặp được thì vận đó thuận lợi, lưu niên gặp được thì năm đó thuận lợi. Như thế gọi là một hợp một. Nếu gặp hai hợp một thì thường chủ về giữa quan hệ nam nữ có người khác xen vào. Tóm lại, sự hợp giữa hai người trở lên chỉ làm tăng thêm hợp lực; khi sự hợp ấy hóa thành dụng thần hoặc sinh lợi cho dụng thần thì tốt, nếu hóa thành kị thần hoặc sinh trợ kị thần thì xấu. Đối với tuế vận cũng thế.

Khi bàn bán hợp cục hoặc bán hội cục của các địa chi trong nguyên cục, đại vận hay lưu niên, đều lấy ngũ hành là hỉ hay kị của dụng thần để xác định tốt hay xấu. Khi trong Tứ trụ, đại vận, lưu niên có các chữ trùng hợp nhau thì đều xem là các hội cục ấy được tăng thêm lực.

Khi bàn chung mệnh cục, đại vận, lưu niên, thái tuế, cần nhớ rằng trong hợp có xung, có hình hại sinh khắc. Lấy Tứ trụ kết hợp với đại vận, lưu niên xem như sáu trụ, rồi xét sự sinh hợp xung khắc giữa các can chi của chúng. Khi xung khắc hình hại của các hợp cục, hội cục mà gặp sự khắc chế thì tác dụng của mười thần yếu đi nhưng không phải hoàn toàn mất hết. Khi hành đến các năm hoặc các vận ấy, các mười thần đó lại xuất hiện và ứng nghiệm vào các tháng năm vượng; gặp vận vượng thì sự ứng nghiệm càng rõ hơn, gặp vận suy mà năm vượng thì cũng không đến nỗi ảnh hưởng nhiều. Nếu đại vận có thể sinh dụng thần hoặc giúp đỡ dụng thần, hoặc áp chế, làm hao tổn, làm xì hơi kị thần thì đại vận đó không đến nỗi xấu nhiều, sự xấu ứng nghiệm vào ngày tháng mà năm đó sinh cho kị thần hoặc gặp kị thần. Nói như thế là đại vận tốt, lưu niên xấu thì tốt nhiều xấu ít.

Về xung, có can xung với can, chi xung với chi; có vừa xung vừa khắc, cũng có chỉ xung mà không khắc. Lực xung của hỉ dụng thần lớn khi hỉ thần trong mệnh cục nhờ được lệnh mà có lực, và dụng thần trong tuế vận nhờ gặp vận hoặc lưu niên mà vượng; những trường hợp ấy đều tốt. Ngược lại nếu lực của kị thần vượng tướng thì sự xung là điều xấu. Các địa chi tương xung như sửu xung mùi, thìn xung tuất, là thổ xung thổ, bản khí của thổ nhờ được kích động mà càng vượng; nếu thổ là hỉ thần thì càng tốt. Ví dụ trong mệnh có mùi là tài kho, nhờ vận sửu xung nên tài kho bị xung khai, lúc ấy nguồn của cải đến ùn ùn. Ngược lại nếu thổ là kị thần thì càng xấu. Ví dụ trong mệnh cục có thìn là mộ kho của lao tù, kị gặp vận tuất đến xung, vì khi cửa kho bị xung khai thì bản thân sẽ rơi vào tù ngục.

Phàm xung, kị nhất là các tổ hợp ba xung một hoặc một xung ba, giữa mệnh cục với đại vận, mệnh cục với lưu niên thái tuế, hay mệnh cục với tuế vận. Người ta kị nhất tứ xung trong tổ hợp giữa mệnh cục và tuế vận, như tý, ngọ, mão, dậu; hoặc dần, thân, tị, hợi; hoặc thìn, tuất, sửu, mùi, vì sự xung khắc của chúng rất xấu. Phương vị đối xung là khu vực cấm kỵ.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc