Bài tổng quan
Bảng nạp âm và bảng sinh vượng tử tuyệt dùng trong Tứ trụ
Hỏa khắc kim, ai cũng thuộc lòng, vậy mà có thứ kim nằm đáy biển hay vùi trong cát thì lửa chẳng làm gì được, lại có thứ kim chỉ thành lưỡi kiếm nhờ qua lửa luyện. Chỉ cần đổi mệnh nạp âm là câu sinh khắc quen thuộc đã đổi nghĩa. Còn năm 1988 thì cho thấy bảng ấy đọc được cả chuyện lụt, hạn và dịch bệnh...
Hai năm một mệnh
Bảng sáu mươi giáp tý được dùng rất rộng. Khi sắp xếp can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh, người ta đều tra trong bảng này. Trong bảng, ngũ hành chia ra kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, tức là lấy năm sinh trong chu kỳ sáu mươi năm để phân loại mệnh theo năm hành. Hai năm liền nhau là một hành, một mệnh. Người sinh năm kim là mệnh kim, người sinh năm hỏa là mệnh hỏa. Chẳng hạn năm 1924 và năm 1984, hay năm 1925 và 1985, tức năm Ất Sửu, đều là mệnh Hải trung kim, kim đáy biển, nên gọi chung là người mệnh kim. Các mệnh khác cũng gọi như vậy.
Căn cứ vào nguyên tắc nào mà người xưa nạp âm ngũ hành cho từng năm? Các đời trước có bàn đến nhưng không có chỗ dựa rõ ràng và cũng chưa nói minh bạch, nên đến nay vẫn là điều huyền bí khó hiểu. Với giới học thuật Trung Hoa, bảng sáu mươi giáp tý biến hóa vô cùng và vẫn còn là một bí ẩn.
Ba mươi mệnh nạp âm của sáu mươi năm
Sáu mươi năm từ 1924 đến 1983 xếp thành ba mươi mệnh, hai năm cho mỗi mệnh; từ 1984 mọi thứ lại lặp lại từ đầu.
| Năm sinh | Can chi | Mệnh |
|---|---|---|
| 1924, 1925 | Giáp Tý, Ất Sửu | Hải trung kim, kim đáy biển |
| 1926, 1927 | Bính Dần, Đinh Mão | Hỏa trong lò |
| 1928, 1929 | Mậu Thìn, Kỷ Tị | Mộc rừng xanh |
| 1930, 1931 | Canh Ngọ, Tân Mùi | Thổ bên đường |
| 1932, 1933 | Nhâm Thân, Quý Dậu | Kim mũi kiếm |
| 1934, 1935 | Giáp Tuất, Ất Hợi | Hỏa đầu núi |
| 1936, 1937 | Bính Tý, Đinh Sửu | Thủy dưới khe |
| 1938, 1939 | Mậu Dần, Kỷ Mão | Thổ tường thành |
| 1940, 1941 | Canh Thìn, Tân Tị | Kim trong nến |
| 1942, 1943 | Nhâm Ngọ, Quý Mùi | Mộc dương liễu |
| 1944, 1945 | Giáp Thân, Ất Dậu | Thủy trong suối |
| 1946, 1947 | Bính Tuất, Đinh Hợi | Thổ nền nhà |
| 1948, 1949 | Mậu Tý, Kỷ Sửu | Hỏa thu lôi |
| 1950, 1951 | Canh Dần, Tân Mão | Mộc tùng, bách |
| 1952, 1953 | Nhâm Thìn, Quý Tị | Thủy trường lưu |
| 1954, 1955 | Giáp Ngọ, Ất Mùi | Kim trong cát |
| 1956, 1957 | Bính Thân, Đinh Dậu | Hỏa chân núi |
| 1958, 1959 | Mậu Tuất, Kỷ Hợi | Mộc bình địa |
| 1960, 1961 | Canh Tý, Tân Sửu | Thổ trên tường |
| 1962, 1963 | Nhâm Dần, Quý Mão | Kim vàng dát mỏng |
| 1964, 1965 | Giáp Thìn, Ất Tị | Hỏa đèn thờ |
| 1966, 1967 | Bính Ngọ, Đinh Mùi | Thủy thiên hà |
| 1968, 1969 | Mậu Thân, Kỷ Dậu | Thổ ở bãi rộng |
| 1970, 1971 | Canh Tuất, Tân Hợi | Kim ở trâm thoa |
| 1972, 1973 | Nhâm Tý, Quý Sửu | Mộc cây dâu |
| 1974, 1975 | Giáp Dần, Ất Mão | Thủy khe lớn |
| 1976, 1977 | Bính Thìn, Đinh Tị | Thổ trong cát |
| 1978, 1979 | Mậu Ngọ, Kỷ Mùi | Hỏa trên trời |
| 1980, 1981 | Canh Thân, Tân Dậu | Mộc cây lựu |
| 1982, 1983 | Nhâm Tuất, Quý Hợi | Thủy đại hải |
Sinh khắc giữa các mệnh không đơn giản như khắc là xấu
Năm mệnh tồn tại và biến hóa theo quan hệ tương sinh, tương khắc. Riêng với tương khắc phải phân tích cụ thể mới rõ tính chất. Hỏa khắc kim, nhưng Hải trung kim là kim đáy biển, Sa trung kim là kim trong cát, nên hỏa không dễ khắc được. Có kim chẳng những không sợ hỏa mà còn mừng có hỏa, như Kiếm phong kim, nhờ hỏa rèn luyện mới thành sắc bén. Bạch lạp kim là kim trên ngọn nến thì rất dễ bị hỏa khắc. Hải trung kim và Sa trung kim tuy khó bị hỏa khắc nhưng lại sợ lửa của sét, vì lửa sét đánh tận đáy biển, đánh rất sâu vào lòng đất.
Kim khắc được mộc, nhưng mộc dùng làm cột trụ lại mừng có kim làm lõi cho thêm cứng. Kim suy thì không khắc nổi mộc vượng; mộc yếu gặp kim vượng thì mới bất lợi. Nói chung mộc rừng xanh, mộc bình địa không dễ bị kim khắc, nhưng rất sợ Kiếm phong kim vì đó là kim đã thành vũ khí.
Mộc khắc được thổ, nhưng trong Tứ trụ thổ nhiều, thổ vượng mừng có mộc làm tơi đất, nếu không thì không nuôi được mùa màng. Mộc suy thổ vượng thì mộc không khắc nổi thổ; mộc vượng thổ suy thì thổ tất bị mộc khắc. Nói chung thổ trên tường, thổ ở đầm lớn thì không bị mộc khắc, còn thổ dễ bị mộc rừng xanh và mộc bình địa khắc.
Thổ khắc được thủy; thủy nhiều và vượng mừng có thổ bao bọc để tưới cho ruộng đồng, nuôi sống vạn vật, nhưng thổ suy thì khó khắc thủy vượng, và thủy suy thổ vượng thì bị thổ khắc. Thủy vốn sợ thổ khắc, nhưng Thiên hà thủy và Đại hải thủy thì không những không sợ mà thổ thực tế cũng chẳng khắc nổi: Thiên hà thủy ở trên trời còn thổ ở dưới đất, Đại hải thủy to và dũng mãnh, thổ chỉ biết đợi nước rút, đến khi thổ tinh trực ban mới khắc được.
Thủy khắc được hỏa; hỏa nhiều, hỏa vượng mừng có thủy khống chế, hỏa vượng thủy suy thì không sợ thủy khắc, thủy vượng hỏa suy thì bị khắc. Nói chung hỏa trên trời, hỏa sấm sét không dễ bị thủy khắc. Có thể nói hỏa sấm sét chẳng sợ nước, trái lại mưa càng to thì sấm sét càng dữ, đánh được cả xuống đáy biển.
Sinh khắc của âm dương ngũ hành đương nhiên có ảnh hưởng rất lớn, mang tính quyết định đến đời người: sinh nhiều là tốt, khắc nhiều là bất lợi. Trong quan hệ giữa người với người, nhất là quan hệ vợ chồng, năm mệnh tương sinh đương nhiên là tốt. Nếu hai người năm mệnh tương khắc thì phải xem khắc nhiều hay ít, có khắc nổi hay không, ngoài ra còn phải xem tổ hợp Tứ trụ của hai người tương sinh, tương khắc, tương hợp ra sao. Không thể hễ thấy năm mệnh khắc nhau đã cho là xấu; làm thế là xét chưa toàn diện, chưa sâu.
Tính cách của người năm mệnh
Ngũ hành mỗi cái chủ một mặt, đặc điểm khác nhau rất xa. Người mệnh kim thường ăn nói nghĩa khí; trong Tứ trụ kim nhiều, kim vượng thì tính cách cương trực nhưng dễ gãy. Người mệnh hỏa là người lễ nghĩa, đối đãi với người nhã nhặn lễ độ, gặp việc hay nói lý luận; nhưng hỏa nhiều, hỏa vượng thì tính gấp và nóng, dễ làm hỏng việc. Người mệnh thổ trọng chữ tín, một là một, hai là hai, nói đến đâu làm đến đó; nhưng thổ vượng, thổ nhiều thì hay trầm tĩnh, ít năng động, nên hay bỏ lỡ thời cơ. Người mệnh mộc hiền từ lương thiện, độ lượng bao dung; nhưng mộc nhiều, mộc vượng thì tính bất khuất, nhất là người mệnh mộc cây tùng, cây dâu thì thà chết đứng không chịu sống quỳ, hợp với binh nghiệp, làm trinh sát hay nhân viên đặc biệt. Người mệnh thủy trí tuệ, thông minh, ham học; nhưng người mệnh thủy đường đời khúc khuỷu như nước từ núi Côn Lôn chảy ra biển, trải qua muôn vàn gian khổ, và nếu thủy vượng thì tính nóng gắt, hung bạo, dễ gây họa.
Bảng sáu mươi giáp tý đọc được cả thiên tai
Bảng này chẳng những là dấu hiệu thông tin của cơ thể mà còn là dấu hiệu hưng suy của muôn vật, muôn việc trong tự nhiên, cũng như của một đất nước. Có lúc mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mọi mặt đều tốt; có lúc không hạn thì lụt, hoặc động đất, đủ loại thiên tai và sự cố nối nhau, gây họa cho con người, làm hao tổn nhân lực, tài lực của đất nước. Nguyên nhân những chuyện ấy, nhất là thiên tai, đều do âm dương ngũ hành tương sinh tương khắc mà ra.
Lấy năm 1988 làm ví dụ. Năm ấy là năm Mộc rừng xanh, năm mệnh là mộc, còn can chi Mậu Thìn của năm là thổ; mộc khắc thổ, vậy năm mệnh tự mình đã khắc can chi của năm. Cho nên năm 1988 thiên tai nhiều. Thứ nhất là dịch viêm gan loại A ở Thượng Hải. Thượng Hải nằm ở phương đông (bản đồ Bát quái xưa lấy Tây An làm trung tâm), phương đông là mộc, năm mệnh lại là mộc, tháng giêng tháng hai là mùa mộc vượng, Thượng Hải lại sát nước, mộc được nước sinh nên vượng càng thêm vượng; vượng quá là thái quá, ắt có hại. Mộc là gan, nên có dịch bệnh ở gan. Thứ hai là lụt lội nhiều: mộc khắc thổ, thổ bị thương nên không đủ sức khắc thủy, thành nạn lụt. Thứ ba là lương thực thiếu: thổ là người mẹ nuôi vạn vật, năm mệnh mộc tự khắc thổ của Thái Tuế Mậu Thìn, thổ bị thương như mẹ ốm không nuôi nổi con, thủy lại không bị chế, nên mùa màng kém hoặc bị ngập. Năm 1989 vẫn là mộc rừng xanh với can năm khắc thổ, tình hình chưa chuyển tốt, tai họa so với 1988 còn nặng hơn.
Vận khí của một nước cũng như một con người: có lúc tốt lúc xấu, có quy luật nhất định. Theo thời gian thì những năm 1926 đến 1929, 1936 đến 1939, 1946 đến 1949, 1956 đến 1959, 1966 đến 1969, 1976 đến 1979, 1986 đến 1989, Trung Quốc đều có những việc lớn không hay. Chẳng hạn năm 1928 ở Thượng Hải có nạn bắt bớ, giết chóc, đó là tai họa do người gây ra; năm 1988 viêm gan A trầm trọng ở Thượng Hải là dân chịu nạn. Tính chất tai họa tuy khác nhau nhưng vẫn là con người gặp nạn. Theo những điều ghi trong Địa Mẫu Kinh, vận nước tốt xấu cũng có quy luật tuần hoàn; có những tai họa đến kỳ sẽ trở lại, chỉ khác tính chất và mức độ. Vì vậy những năm có số cuối 6, 7, 8, 9 đều là năm không thuận, nhất là năm số 9, thường động binh đao, đổ máu: năm 1929 các tập đoàn quân phiệt tàn sát nhau; 1939 cuộc kháng Nhật triển khai toàn diện; 1949 nội chiến lần thứ ba ác liệt; 1959 xung đột biên giới Trung - Ấn; 1969 xung đột biên giới Trung - Xô chấn động toàn cầu; 1979 chiến sự biên giới phía nam; 1989 cũng là năm không yên.
Căn cứ như thế, nếu đi sâu vào bảng sáu mươi giáp tý, nhất là về tai họa tự nhiên của từng năm, thì có thể đưa ra dự báo: năm lụt thì chuẩn bị phòng lụt, năm hạn thì sửa tốt các đập nước, năm có dịch thì làm tốt phòng bệnh, năm có động đất thì dự báo trước để chuẩn bị. Làm vậy sẽ giảm được rất nhiều tổn thất về người và của. Do đó bảng sáu mươi giáp tý là dấu hiệu thông tin tổng thể của vũ trụ.
Nạp âm sáu mươi giáp tý là kinh nghiệm dự đoán quý báu mà người lao động Trung Hoa tổng kết qua thực tiễn bao đời. Khi đoán theo Tứ trụ, kinh nghiệm này và nguyên tắc này có ý nghĩa vô cùng lớn, tuyệt đối không được xem thường.
Lệnh tháng nắm quyền sinh sát
Khi đoán Tứ trụ, người ta lấy lệnh tháng và lệnh ngày làm tiêu chuẩn để định vượng suy của can chi; đặc biệt lệnh tháng nắm quyền chủ tể sinh sát nên vô cùng quan trọng. Không biết lệnh tháng thì không có cách gì lường được vượng suy của Tứ trụ, tức không thể quyết đoán chính xác thông tin. Chẳng hạn tháng giêng, tháng hai mộc vượng, nhưng nếu kim Canh Thân hay Tân Dậu trong Tứ trụ gặp tử địa thì không lợi. Mùa thu kim vượng, nhưng mộc Giáp Dần, Ất Mão trong Tứ trụ gặp tử địa thì vẫn không tốt.
Bảng sinh, vượng, tử, tuyệt của mười can
Bảng này lấy thời lệnh để suy xem sự vật qua các giai đoạn từ sinh trưởng, hưng vượng, suy, đến bệnh tật mà chết. Đó là quy luật tất yếu của vạn vật. Việc đưa mười thiên can vào dự đoán đã có lịch sử hàng nghìn năm; thực tiễn chứng minh nó là khoa học, vì trong tám chữ sinh có thể dựa vào dấu hiệu vượng suy theo thời lệnh của mười can mà thấy được, lường được tin tức vượng suy của vận mệnh người và muôn việc. Xưa nay chưa ai phủ nhận điều đó; chỉ vì khoa học hiện đại chưa giải thích được nguyên lý huyền diệu của nó nên có người nói liều là duy tâm.
Các từ trong bảng nghĩa như sau. Trường sinh là lúc mới ra đời; mộc dục là đứa trẻ ở giai đoạn tắm rửa; quan đới là đứa trẻ có thể mặc áo đội mũ; lâm quan còn gọi là kiến lộc, và đế vượng là thân vượng, giai đoạn vận khí hưng thịnh. Vật đã vượng thì phải có lúc suy; từ suy đến tuyệt đều là đất bại. Thai và dưỡng đối với vận đều gọi là vận bằng phẳng, vì thai là mang thai, dưỡng là nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Các trạng thái này chính là hành trình của sự vật từ sơ sinh, lớn lên, cường tráng đến suy bại rồi chết, sau đó lại bắt đầu một vòng tuần hoàn mới.
| Trạng thái | Giáp mộc | Bính hỏa | Mậu thổ | Canh kim | Nhâm thủy | Ất mộc | Đinh hỏa | Kỷ thổ | Tân kim | Quý thủy |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Trường sinh | Hợi | Dần | Dần | Tị | Thân | Ngọ | Dậu | Dậu | Tý | Mão |
| Mộc dục | Tý | Mão | Mão | Ngọ | Dậu | Tị | Thân | Thân | Hợi | Dần |
| Quan đới | Sửu | Thìn | Thìn | Mùi | Tuất | Thìn | Mùi | Mùi | Tuất | Sửu |
| Lâm quan | Dần | Tị | Tị | Thân | Hợi | Mão | Ngọ | Ngọ | Dậu | Tý |
| Đế vượng | Mão | Ngọ | Ngọ | Dậu | Tý | Dần | Tị | Tị | Thân | Hợi |
| Suy | Thìn | Mùi | Mùi | Tuất | Sửu | Sửu | Thìn | Thìn | Mùi | Tuất |
| Bệnh | Tị | Thân | Thân | Hợi | Dần | Tý | Mão | Mão | Ngọ | Dậu |
| Tử | Ngọ | Dậu | Dậu | Tý | Mão | Hợi | Dần | Dần | Tị | Thân |
| Mộ | Mùi | Tuất | Tuất | Sửu | Thìn | Tuất | Sửu | Sửu | Thìn | Mùi |
| Tuyệt | Thân | Hợi | Hợi | Dần | Tị | Dậu | Tý | Tý | Mão | Ngọ |
| Thai | Dậu | Tý | Tý | Mão | Ngọ | Thân | Hợi | Hợi | Dần | Tị |
| Dưỡng | Tuất | Sửu | Sửu | Thìn | Mùi | Mùi | Tuất | Tuất | Sửu | Thìn |
Can trong bảng lấy can ngày làm chủ. Chẳng hạn Giáp mộc gặp Hợi là thời kỳ sinh, gặp Tý là mộc dục, gặp Sửu là quan đới, gặp Thìn là suy, gặp Tị là bệnh. Nghĩa là Giáp mộc gặp năm Hợi, hoặc tháng, ngày, giờ Hợi đều là gặp sinh trưởng. Ngược lại Giáp mộc gặp năm Ngọ, hoặc tháng, ngày, giờ Ngọ đều là gặp tử địa. Gặp tử địa không nhất định là chết, phần nhiều chủ về vận khí không thuận hoặc có tai họa. Cho nên người Giáp mộc nếu năm, tháng, ngày, giờ đều gặp Ngọ, hoặc người ấy không biết tổ hợp Tứ trụ của mình, thì nên thận trọng mọi mặt, nếu không nhất định tổn thất.
Trong bảng, từ sinh đến vượng là có lợi, từ suy đến tuyệt là không lợi, còn thai và dưỡng chỉ chung chung. Các địa chi trong bảng dùng để đoán thời gian ứng nghiệm cát hung, nghĩa là biết thời điểm và phương vị xảy ra việc. Ví dụ Giáp đế vượng ở Mão: Mão ở đây là năm, tháng, ngày hay giờ Mão, phương vị là phương đông so với nơi mình sinh ra. Mộc nhập mộ ở Mùi là không tốt: Mùi là năm, tháng, ngày, giờ Mùi, phương tây nam. Việc có lợi thì nên làm vào thời gian và phương có lợi; việc bất lợi thì đừng làm vào thời gian hay ở phương bất lợi, nhờ vậy tránh được tai nạn bất ngờ. Bảng này là dấu hiệu về thông tin và thời gian để hướng về điều tốt, tránh xa điều xấu.
Cách tra: Dần mộc theo Giáp mộc; Mão mộc theo Ất mộc; Thìn, Tuất theo Mậu thổ; Sửu, Mùi theo Kỷ thổ; Tị hỏa theo Đinh hỏa; Ngọ hỏa theo Bính hỏa; Thân kim theo Canh kim; Dậu kim theo Tân kim; Tý thủy theo Nhâm thủy; Hợi thủy theo Quý thủy.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
