Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Mai hoa dịch số

Bài tổng quan

Tượng của Càn, Khôn, Chấn, Tốn: tính cách, con người và vật dụng

Bói Dịch - Mai hoa dịch số02/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Tượng của Càn, Khôn, Chấn, Tốn: tính cách, con người và vật dụng

Một chiếc bình giữ nhiệt đóng nắp là quẻ Càn, mở nắp thành quẻ Đoài, úp ngược xuống lại gần với quẻ Cấn. Cùng một món đồ mà đổi bốn dáng, quẻ cũng đổi theo bốn lần. Càn, Khôn, Chấn, Tốn mang những hình ảnh nào trong đời sống, và vì sao hình quẻ lại nói được nhiều đến thế…


Một chiếc bình giữ nhiệt đang đóng nắp có thể là quẻ Càn, mở nắp lại thành quẻ Đoài, nếu bên trong không còn nước thì giống quẻ Chấn, còn úp ngược xuống lại gần với quẻ Cấn. Cùng một vật, bốn hình ảnh khác nhau. Điều ấy cho thấy tượng của quẻ không phải bảng tra cố định, mà là một cách nhìn linh hoạt gắn với hình dạng và trạng thái của sự vật.

Tám tượng là chiếc chìa khóa không thể thiếu

Tên của sáu mươi tư quẻ có thể tra khi cần, nhưng tượng của tám quẻ đơn thì phải quen như tên người thân.

Trong phép đoán dựa vào tượng, tám quẻ đơn giữ vai trò như bảng chữ cái. Ai nắm được tượng cơ bản của chúng thì từ đó mà suy ra được tượng của muôn vật, và khi đã quen thì phần lớn quẻ kép tự dễ hiểu. Có một bài vè ngắn để nhớ tính chất tám quẻ: Càn kiện, Khôn thuận, Chấn động, Tốn nhập, Khảm hãm, Ly lệ, Cấn chỉ, Đoài duyệt, nghĩa là cứng khỏe, nhu thuận, chuyển động, đi vào, sa xuống chỗ hiểm, bám dựa, dừng lại, vui vẻ. Ngoài ra còn có bài vè nhớ hình quẻ, và hình quẻ chính là nơi mọi ý nghĩa bắt đầu.

Thế giới có muôn vàn vật nên không ai đếm hết được những gì một quẻ gợi ra. Bí quyết là nhớ hình dạng hào của từng quẻ cùng tính nết đã nêu, từ đó biết một vật thuộc loại quẻ nào. Phép đọc ấy đúng với câu quen thuộc của người xưa: nhìn vật mà lấy tượng, thấy vật mà thành tượng.

Càn: ba hào dương, trời và người đứng đầu

Khi ba vạch liền chồng lên nhau, ta có hình ảnh sáng nhất và cứng nhất trong tám quẻ.

Càn có số một, thuộc kim, nằm ở phương Tây Bắc, màu trắng. Kinh Dịch nói Càn là trời, là tròn, là vua, là cha, là ngọc, là vàng, là lạnh, là băng, là ngựa tốt, là quả trên cây. Cách lý giải rất mạch lạc. Ba hào dương là thuần dương, cương kiện. Trời vận hành tròn đều không ngừng nên Càn là trời và là tròn. Trời nuôi vạn vật như vua cai quản dân, như cha lo gia đình, nên Càn là vua và là cha. Dương thịnh thì mang sắc đỏ thắm, nên có cả màu ấy. Quả mọc trên cành tròn trịa nên Càn cũng là quả.

Từ đó, phàm vật nào chủ động tiến lên, cương kiện, có quyền uy, hình tròn, thuộc về nam giới, quý giá, cao cấp, cứng rắn thì quy về Càn. Về ý nghĩa, Càn là quyết liệt, tiến bước, quyết đoán, uy nghiêm, ngang bướng, thống soái, cũng là giận dữ, trừng phạt, độc quyền. Về con người, Càn là cấp trên, người có quyền, người giàu có, quan, vua, bậc thánh nhân, quân tử, ông nội, gia trưởng, người nắm quyền quản lý tiền bạc, giám đốc, người đứng đầu, người có tiếng tăm. Tính cách của Càn là cương trực, can đảm, quả quyết, trọng nghĩa khí, nhiều động mà thiếu tình, uy nghiêm, quang minh, tự tôn, chính trực, kiêu ngạo, bá đạo.

Về cơ thể, Càn là đầu, phổi, ruột già, xương cốt. Bệnh của Càn thường ở đầu và mắt, gân xương, phổi, bệnh do lạnh, bệnh cấp tính, bệnh người già. Trên trời là mặt trời, băng giá, mưa đá, tiết lạnh. Về vật dụng, đó là vàng, ngọc, châu báu, đồ cao cấp, tiền bạc, đồng hồ, gương, xe sang, máy bay, vật tròn, quả chín. Về động vật, đó là rồng, ngựa, thiên nga, sư tử, voi. Về nơi chốn, đó là hoàng cung, kinh thành, bảo tàng, danh thắng, cơ quan chính quyền. Càn có lợi vào các thời điểm mang can Canh Tân, chi Thân Dậu, hoặc Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi, và kỵ các thời điểm Bính Đinh Tỵ Ngọ. Phương lợi là Tây Bắc, Tây, Đông Bắc, Tây Nam; màu lợi là trắng và vàng, kỵ đỏ.

Khôn: ba hào âm, đất mẹ chở vạn vật

Ba vạch đứt xếp liền nhau tạo nên một bức tranh êm và rộng, như một cánh đồng đang chờ gieo hạt.

Khôn có số tám, thuộc thổ, ở phương Tây Nam, màu vàng. Người xưa nói Khôn là đất, là mẹ, là vải, là cái nồi, là keo kiệt, là đều đặn, là bò cái có con, là xe lớn, là văn chương, là đông đúc, là chuôi cán, là đất màu đen. Hình ba hào âm là thuần âm, tính nhu thuận, tượng rộng lớn. Muôn vật sinh ra từ đất, con người sinh ra từ mẹ, nên Khôn là đất và là mẹ. Âm thì mềm nên là vải. Âm rỗng chứa được vật nên là cái nồi. Dương lớn âm nhỏ, Khôn là âm nhỏ nên mang nghĩa keo kiệt. Đất chở muôn vật như chiếc xe lớn chở hàng, và âm thì tối nên có màu đen.

Từ đó, phàm điều gì tiêu cực, nhu mì, vuông vức, mềm yếu, chịu đựng, dày dặn, mịt mờ hoặc đứt đoạn đều thuộc Khôn. Về ý nghĩa, Khôn là thận trọng, chính trực, nhẫn nại, phức tạp, keo kiệt, thiếu quyết đoán, bị phong tỏa, chịu đựng, nuôi dưỡng, cung kính, tư tưởng hẹp hòi. Về con người, Khôn là quần chúng, bà nội, mẹ già, mẹ kế, người vợ, phụ nữ, người âm khí thịnh, người trung hậu, người bụng to, nông dân, thợ xây, người hèn kém. Tính cách là ôn hòa nhu thuận, khiêm nhường, tiết kiệm, giữ chữ tín, nhưng cũng dễ keo kiệt, cố chấp, trì trệ, nghi kỵ.

Về cơ thể, Khôn là bụng, da dày, cơ quan tiêu hóa, thịt, vai phải. Bệnh của Khôn nằm ở bụng, ruột, dạ dày, ăn uống đình trệ, phù thũng, mụn ngứa, chóng mặt, bệnh mạn tính, thậm chí ung thư. Trên trời là mây, trời âm u, sương mù, độ ẩm. Về vật dụng, đó là ruộng, hầm, vật hình vuông, vật mềm dẻo, vải vóc, bông, chăn nệm, đồ gốm, vôi, xi măng, gạch, ngũ cốc, thịt bò. Về động vật, đó là bò, ngựa cái, bò sát, côn trùng dưới đất, mèo. Về nơi chốn, đó là thành thị, thôn làng, đồng ruộng, bình nguyên, bãi chăn nuôi, nông trại, nhà cũ, kho lương thực, chợ nông sản. Thời gian có lợi mang can Mậu Kỷ, chi Thìn Tuất Sửu Mùi hoặc Bính Đinh Tỵ Ngọ; kỵ Giáp Ất Dần Mão. Phương lợi là Tây Nam, Đông Bắc, Nam; màu lợi là đỏ và vàng, kỵ màu xanh.

Chấn: một dương nổi lên dưới hai âm

Một nét dương nhỏ bé phía dưới đang đội hai nét âm lên, như mầm cây nhấc tảng đất.

Chấn có số bốn, thuộc mộc, phương Đông, màu xanh biếc. Trong Kinh Dịch, Chấn là sấm, là rồng, là màu huyền hoàng, là đường lớn, là con trai trưởng, là quyết đoán, là trúc xanh non, là lau sậy; với ngựa, là loài hay hí to, chân trắng, chạy nhanh; với trồng trọt, là mầm mới nảy. Hào dương ở dưới, hai hào âm ở trên, biểu thị khí dương vừa bắt đầu sinh ra và vươn lên. Xét theo mùa, Chấn ứng với Lập Xuân, lúc dương khí bắt đầu bốc lên còn âm khí thu lại và chìm xuống. Càn là trời, đỏ; Khôn là đất, đen; hai khí giao nhau thì đỏ đen hòa nhuộm vào nhau thành màu huyền hoàng, vì vậy Chấn mang màu ấy. Dương ở dưới nên có tượng đường lớn, mầm non, khoai củ nằm trong đất.

Về ý nghĩa, Chấn là đi lên, tiến bộ, xuất phát, hưng khởi, mới sinh, chấn động, giận dữ, kinh hãi, tiếng động vang, vội vã, nóng nảy, xung đột, đi lại, ra trận. Về con người, đó là trưởng nam, người đàn ông trưởng thành, nhân viên phục vụ, người chỉ huy, người hay hoạt động. Tính cách là nhiều động ít tình, chăm chỉ, hiếu động, ngay thẳng, nóng tính, hay nổi nóng, dễ lo lắng, quyết liệt, thích khoe khoang. Về cơ thể, Chấn là chân, gan, thần kinh, gân, sườn, vai phải, tóc. Bệnh thường gặp là bệnh ở chân, gan, thần kinh, hoảng sợ, rối loạn thần kinh, các triệu chứng đau nhức.

Thiên tượng của Chấn là sấm, động đất, núi lửa. Động vật là rồng, rắn, các loài chim lớn, ngựa chạy nhanh, ong, hạc. Vật tượng gồm cây cối, trúc, hoa tươi, rau, nhạc cụ, điện thoại, điện báo, các phương tiện đi lại, tên lửa, máy bay, đường lớn, thương, kiếm. Nơi chốn là núi rừng, đất hoang, nhà hướng Đông, chợ rau, đài phát thanh, bưu điện, cửa hàng nhạc cụ, phòng ca múa, rạp xiếc, sân bay, bến xe, doanh trại. Thời gian lợi có can Giáp Ất, chi Dần Mão, hoặc Nhâm Quý Hợi Tý, kỵ Canh Tân Thân Dậu; phương lợi là Đông, Bắc, Đông Nam; màu lợi là xanh biếc và đen, kỵ màu trắng.

Tốn: một âm thâm nhập dưới hai dương

Gió không có hình, nhưng len vào được mọi khe hở, và quẻ Tốn là hình dạng của việc len vào ấy.

Tốn có số năm, thuộc mộc, phương Đông Nam. Kinh Dịch nói Tốn là cây, là gió, là trưởng nữ, là dây thẳng, là thợ, là trắng, là dài, là cao, là tiến lui, là không quyết đoán, là mùi; với người thì ít tóc, trán rộng, mắt nhiều lòng trắng, kinh doanh lợi gấp ba. Hào âm ở dưới, hai hào dương ở trên, nên có xu thế thâm nhập xuống đất, hướng vào trong, biểu thị sự vật nhẹ nhàng len lỏi. Rễ cây luồn vào lòng đất, gió chui qua khe hở, nên Tốn là sự đi vào. Gỗ được dùng làm dây mực để kẻ đường cho thợ nên Tốn là dây thẳng và là thợ. Gió không màu không vị, thổi trên cao, đến đi bất định, nên Tốn có nghĩa cao, trắng, tiến lui, không quyết đoán. Hai hào dương một hào âm, dương nhiều âm ít, nên có tượng ít tóc, trán rộng. Từ hào âm đầu quẻ Càn biến thành, Càn là vàng ngọc, nên kinh doanh có thể lãi gấp ba.

Về ý nghĩa, Tốn là cơ sở bất ổn, ngay thẳng, phân tán, nhẹ nhàng, sạch sẽ, truyền đạt, doanh nghiệp, kinh doanh, giao lưu, tin nhắn, hiệu triệu, bôn ba, bạc tình, khiêm nhường, nghi ngờ, phiền não. Về con người, Tốn là trưởng nữ, góa phụ, tăng ni, đạo nhân, người luyện khí công, thương nhân, giáo sư, bác sĩ, nhân viên kỹ thuật, tác giả, nhà thiết kế, người giao tế, người giỏi văn, người truyền tin đồn. Tính cách là dịu dàng, cẩn thận, giàu trách nhiệm, hay thay đổi, thiếu quyết đoán, ham sạch sẽ, nghi hoặc, hai mặt.

Về cơ thể, Tốn là tóc, thần kinh, khí quản, cánh tay, đùi, thực quản, ruột, vai trái. Bệnh của Tốn là bệnh ở đùi, tay, ruột, trúng gió, cảm mạo, phong thấp, bệnh truyền nhiễm, đau thần kinh tọa, viêm thần kinh, viêm phế quản, hen suyễn. Thiên tượng là gió thổi, các loại gió lớn. Động vật là gà, vịt, ngỗng, các loài chim, côn trùng rừng núi, rắn, bướm, giun đất. Vật tượng gồm gỗ, đồ gỗ, sợi tơ, dây thừng, dây, thư từ, bưu kiện, cột cờ, bút, thuyền buồm, máy bay, hương liệu, thảo dược, nhang. Nơi chốn là rừng trúc, thảo nguyên, đường thẳng và dài, hành lang, chùa chiền, các loại ống dẫn, thông gió, sân bay, bến tàu, hải cảng. Thời gian lợi, phương lợi và màu lợi của Tốn giống Chấn.

Nhớ quẻ bằng hình chứ không bằng cách học vẹt

Một bản liệt kê dài đến đâu cũng chỉ là bản sao của một lý lẽ chung, nên tìm ra lý lẽ ấy thì không cần thuộc lòng từng dòng.

Điều đáng để ý là mỗi tượng được kể ra đều có đường dẫn từ hình quẻ ra ý nghĩa. Thấy ba vạch liền thì nghĩ đến thuần dương: cương, tròn, đứng đầu. Thấy ba vạch đứt thì nghĩ đến thuần âm: mềm, rộng, chứa đựng. Thấy vạch dương dưới hai vạch âm thì nghĩ đến thứ bật dậy từ dưới lên. Thấy vạch âm dưới hai vạch dương thì nghĩ đến thứ lách vào từ dưới. Nắm cách suy này, ta sẽ nhận ra vì sao một chiếc bình có thể thành Càn, Đoài, Chấn hay Cấn tùy trạng thái, và cũng hiểu vì sao đoán quẻ cần mềm dẻo hơn là cần nhớ nhiều.

Với con người, điều này còn cho một tầng ý nghĩa nữa: tính cách, thể chất và nghề nghiệp của một người đều có thể được đọc từ tượng quẻ gắn với họ, giống như cách người ta đọc con người qua ngũ hành và lục thú. Cơ thể cũng vậy, nó hoạt động như một chiếc máy thu và phát thông tin của vũ trụ, nên bệnh ở bộ phận nào thường gắn với quẻ nào. Phần nói về bệnh tật còn được bàn thêm trong bài về quẻ bệnh tật.

Nguồn: Hoàng Giám, Dịch Hồn – Bát Quái Tượng Số Dự Trắc Pháp.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Mai hoa dịch số