Bài tổng quan
Cơ thể người là máy thu phát thông tin của vũ trụ
Bạn bè đang nhắc tên một người, vừa dứt lời thì có tiếng gõ cửa, mở ra đúng người ấy. Một học viên giữa lớp học bỗng khóc nức nở không rõ vì sao; sáng hôm sau điện báo từ Thượng Hải báo mẹ ông mất đúng giờ đó. Những chuyện tưởng ngẫu nhiên này là chỗ người xưa bắt đầu xây nên Tứ trụ...
Mục lục · 7 phần
- 01Cơ thể người là một cỗ máy cảm ứng
- 02Nhắc đến Tào Tháo, Tào Tháo đến
- 03Vì sao người học viên bỗng khóc
- 04Can chi là bảng tiêu chí của khí âm dương ngũ hành trong thân
- 05Âm dương, ngũ hành, can chi và bệnh tật
- 06Vận khí: mệnh là cái có sẵn, vận là cái đi qua
- 07Ba trường hợp đoán trúng: người cầm quân, bà họ Lô và nạn nhân bị giết
Cơ thể người là một cỗ máy cảm ứng
Vũ trụ là một hệ thống vô cùng lớn, gồm vô số tinh cầu mà con người đã biết lẫn chưa biết. Trên các tinh cầu ấy, vật sống hay vật chết, chuyển động hay đứng yên, sinh trưởng hay suy vong, tất cả đều vận động theo quy luật của riêng mình, có ý thức hoặc vô ý thức, và phát ra đủ loại thông tin. Vì vậy vũ trụ là một thế giới đầy ắp thông tin; trong số ấy chỉ một phần nhỏ được các môn khoa học hiện đại giải thích, phần còn lại, nhiều hơn rất nhiều, thì chưa giải thích nổi.
Con người là một tiểu thiên thể hữu hạn, cực kỳ phức tạp, vừa đối lập vừa thống nhất. Cũng như vũ trụ, nó chứa rất nhiều thông tin: có cái vốn thuộc về bản thân, có cái từ bên ngoài tác động vào. Cơ thể người vừa phát thông tin vừa thu thông tin, chỉ có điều chức năng ấy chịu sự chi phối và ảnh hưởng của sự vận động đại thiên thể. Tổ tiên đã gom ảnh hưởng của đại thiên thể lên tiểu thiên thể lại thành thuyết cảm ứng giữa người và trời. Có một thời thuyết này bị quy là duy tâm; ngày nay, cùng với tiến bộ của khoa học, nó mới được trả về ngôi nhà khoa học. Cái gọi là cảm ứng giữa người và trời chính là mối quan hệ gốc giữa hai khí âm dương và ngũ hành của trời đất tương sinh, tương khắc, tương chế, tương hóa; là thông tin của vũ trụ tác động lên con người và là cơ thể người cảm ứng với các loại thông tin trong sự vận động của hệ thiên thể. Nói gọn, cát hung họa phúc của một người, cũng như hưng suy của một quốc gia, đều gắn chặt với sự vận động của thiên thể.
Bản thân cơ thể đã là một cỗ máy cảm ứng thông tin, và còn phân công rất nghiêm: da quản đau, ngứa, nóng lạnh, gió hay không gió; mắt quản xa gần, màu sắc, to nhỏ, xấu đẹp; mũi quản mùi thơm thối; miệng quản mùi vị; tai quản âm thanh; tay quản nặng nhẹ. Nhưng mọi thông tin các bộ phận này nhận được đều thuộc loại vĩ mô, bề mặt, sờ được nhìn được, có phạm vi và giới hạn; còn thông tin vi mô, tiềm ẩn, phức tạp, vượt khỏi phạm vi cụ thể thì chúng bất lực.
Để sinh tồn, con người đã bắt chước chính sự cảm ứng ấy mà chế ra công cụ: biết đói rét nên có áo, có cơm; thấy cái quá xa quá nhỏ thì làm kính viễn vọng; cần gửi tin gấp đi xa thì làm điện báo, điện thoại. Những công cụ ấy tuy tiên tiến nhưng không vạn năng. Còn dùng Bát quái thì không tốn tiền, cách xa nghìn dặm vẫn đoán được rất nhanh. Cho nên mấy nghìn năm trước, tổ tiên đã dùng Bát quái để đoán thông tin, rồi dùng thiên can, địa chi và phép sắp Tứ trụ để đoán tin lành dữ cho từng người, với độ chuẩn cao và nền tảng khoa học sâu xa mà ngày nay vẫn chưa giải thích nổi.
Nhắc đến Tào Tháo, Tào Tháo đến
Cơ thể người là một máy lưu trữ thông tin, vừa phát vừa thu. Vạn vật vận động theo quy luật vốn có của mình; người là động vật cao cấp, khi phát và thu thông tin không những tuân thủ quy luật ấy nghiêm ngặt mà còn có mật mã riêng. Cũng như máy thu phát vô tuyến, vệ tinh thông tin, mỗi thứ có sóng, tín hiệu và tần số riêng.
Chuyện thường gặp trong đời: bạn bè ngồi với nhau, một người vô tình nhắc đến ai đó, vừa nói xong thì có tiếng gõ cửa, mở cửa ra đúng là người vừa được nhắc. Ai cũng reo lên: thiêng thật! Câu cửa miệng nhắc đến Tào Tháo thì Tào Tháo đến được rút ra từ chính những lần như vậy. Nhưng rất ít người đi tìm lý do.
Thực chất đó là kết quả của việc một người phát thông tin và một người khác thu được. Khi anh ta đến gần cửa, gần nơi làm việc đến một khoảng cách nào đó, đại não của anh ta phát ra thông tin, có ý thức hoặc vô ý thức, hướng vào mục tiêu anh ta cần đến. Thông tin ấy được một người trong nhóm bạn đang ngồi, thường là người có quan hệ mật thiết hoặc trường khí liên thông với anh ta, nhận được, nên bất giác nhắc đến tên anh.
Thầy Thiệu Vĩ Hoa kể rằng ông từng tưởng câu nói ấy chỉ có ở Trung Quốc, nhưng ở Xinh-ga-po và Thái Lan người ta cũng nói như vậy; và chính ở Xinh-ga-po, ngay lúc ông Mã vừa giới thiệu người bạn Indonesia tên Trần, một phút sau tiếng gõ cửa vang lên, mở ra đúng là ông Trần.
Vì sao người học viên bỗng khóc
Vũ trụ là trường điện từ, trường sinh vật và trường phản ứng; cơ thể người cũng vậy. Khoa học hiện đại đã chứng minh con người có trường điện từ, trường sinh vật, tia và sóng hồng ngoại. Việc phát và thu thông tin của thân thể dựa vào những trường vật chất ấy làm môi giới. Khoa học chưa kiểm nghiệm được trọn quá trình, nhưng việc phát thu ấy tồn tại khách quan, ngoài ý muốn của ta.
Lúc mười giờ đêm ngày hai mươi bốn tháng chín năm 1989, trong lớp học Kỳ môn độn giáp ở Tây An, một học viên họ Lăng, hơn bốn mươi tuổi, bỗng khóc rất thương tâm. Các bạn cùng phòng ai cũng kinh ngạc, hỏi han xem có chuyện buồn gì. Ông không nói, chỉ khóc to. Ông Hoàng Bình, hiệu trưởng Trường khí công Bảo Lâm ở Quảng Châu, cũng là học viên, đến an ủi, hỏi có việc gì cần giúp. Ông Lăng đáp: tôi chẳng có việc gì cả, chỉ thấy muốn khóc. Không ai hiểu, ngay chính ông cũng không biết nguyên do. Rồi mọi người bỏ qua.
Mười giờ sáng hôm sau, ông nhận được điện báo từ gia đình ở Thượng Hải: mẹ ông đã mất lúc mười giờ tối hôm trước, yêu cầu ông về gấp lo tang. Lúc ấy mọi người mới tỉnh ra: giờ ông khóc chính là lúc bà mẹ qua đời, phát thông tin cho con. Đại não ông tiếp thu thông tin ấy, đau khổ quá nên phản ứng thành hành vi khóc thảm thiết.
Nhiều tờ báo trong và ngoài nước đã đăng những tin cùng loại: người thân ở rất xa gặp chuyện lành dữ, người ở đây linh cảm được, kẻ khóc, người cười, người đau một bộ phận cơ thể bất thường.
Can chi là bảng tiêu chí của khí âm dương ngũ hành trong thân
Muốn biết sức khỏe tốt hay xấu thì dùng y học; nhưng mệnh vận tốt hay xấu, những thông tin về cát hung họa phúc, thì phải dùng Tứ trụ hay Bát quái. Dù dùng phương pháp nào, cũng phải gắn chặt với nguyên lý âm dương biến hóa, với quy tắc ngũ hành sinh khắc chế hóa, với tổ hợp sắp xếp của thiên can địa chi.
Khí âm dương ngũ hành là thứ vật chất vô cùng tinh vi, nói chung nhìn không thấy, sờ không được, cũng chưa có cách đo. Ngay cả việc khí ấy phân bố, kết cấu, sắp xếp ra sao trong cơ thể, các ngũ hành sinh khắc thế nào và ảnh hưởng ra sao tới sự sinh trưởng của con người thì khoa học hiện đại cũng chưa biết được, nên người ta không thể đề phòng tai nạn, hướng về điều tốt tránh điều xấu. Tổ tiên đã giải quyết khó khăn ấy bằng cách phát minh ra thiên can, địa chi làm tiêu chí cụ thể cho các loại thông tin âm dương ngũ hành trên cơ thể. Nhờ vậy dễ biết sự phân bố, kết cấu, tổ hợp của khí âm dương ngũ hành trong thân, thời điểm ngũ hành sinh khắc, và ảnh hưởng của chúng tới mệnh vận.
Sự sắp xếp thiên can địa chi của giờ, ngày, tháng, năm sinh là một tổ hợp rất nghiêm ngặt. Thông tin về mệnh vận của một người hiện ra thành hình thức khống chế trình tự vận khí, ẩn trong can chi, rồi theo các tiêu chí trong đồ thị khống chế mà chuyển dời từng bước, từng giai đoạn, có trật tự. Cho nên người ta tới lúc nào có thể xảy ra việc gì, nên đi theo vận nào, đều có nhiều khả năng diễn ra như thế. Một đời không có quan vận, không có tài vận, khi nào phát tài, khi nào kết hôn, khi nào có việc lành dữ, trong can chi đều có tiêu chí. Vì vậy chỉ cần học và nghiên cứu Tứ trụ là có thể hiểu mệnh vận của mình một cách rõ ràng và làm chủ hành động của mình.
Sự sắp xếp can chi, âm dương, ngũ hành lúc sinh vừa là khí âm dương ngũ hành của thân thể, vừa là tiêu chí thông tin về thời gian và phương vị không gian; vừa là cơ thể khỏe hay yếu, vừa là tiêu chí mệnh vận tốt hay xấu. Nói tóm lại, mọi loại thông tin trong cuộc đời đều chứa sẵn trong can chi lúc ra đời. Can chi của giờ sinh không chỉ là thời gian biểu của đời người mà còn là hồ sơ chứa những tiết mục đầy kịch tính và phong phú.
Âm dương, ngũ hành, can chi và bệnh tật
Học thuyết âm dương ngũ hành và thiên can địa chi tương truyền do Đổng Trọng Thư đời Hán sáng tạo rồi đưa vào mệnh lý học. Cách nói ấy chưa đủ để tin hẳn, nhưng Đổng Trọng Thư có công rất lớn trong sự phát triển lĩnh vực này. Có thể xét ảnh hưởng của chúng đến con người từ hai mặt: bệnh tật và vận khí.
Âm dương, ngũ hành là những danh từ triết học trừu tượng; muốn diễn đạt rõ tác dụng của chúng và quan hệ với cơ thể thì phải dùng đến can chi, vì can chi thể hiện chính xác thuộc tính âm dương ngũ hành, và các thuộc tính ấy lại là tiêu chí cụ thể của thông tin thân thể. Hai khí âm dương trong thân cân bằng nhau: dương phát triển trội thì âm tất bị tổn thương, ngược lại âm trội thì dương bị tổn thương, rồi sinh bệnh, thậm chí tử vong. Y thư xưa có câu âm thắng thì dương bệnh, dương thắng thì âm bệnh; cho nên trăm bệnh đều do khí mà sinh. Về ngũ hành, y thư viết rằng ngũ hành quyết định sống chết, thành bại, là khí của lục phủ ngũ tạng. Từ rất xưa, y học đã dựa vào âm dương ngũ hành, can chi để sắp xếp các khí quan, bộ vị, để chẩn đoán và chữa trị.
Can chi phối với tạng phủ dựa trên sự vượng của bốn mùa và tuế vận từng năm, nhờ đó biết thời gian nào có dịch bệnh gì. Theo y thư xưa: năm mộc thái quá thì phong thấp lưu hành, tỳ thổ lâm bệnh; năm hỏa thái quá thì nhiệt cao, phổi thuộc kim bị bệnh; năm thổ mạnh quá thì thận thuộc thủy bị bệnh; năm kim mạnh quá thì gan thuộc mộc bị bệnh; năm thủy mạnh quá thì tâm thuộc hỏa bị bệnh. Bệnh gan, chẳng hạn, khỏi vào mùa hạ, nặng thêm vào mùa thu, lại khởi vào mùa xuân; theo ngày thì khỏi ở Bính Đinh, nặng ở Canh Tân, rồi khởi lại ở Giáp Ất. Tạng phủ có thuộc tính âm dương ngũ hành phù hợp với can chi, mà kim mộc thủy hỏa thổ lại vượng suy theo bốn mùa. Cho nên mộc vượng quá thì tỳ vị bị khắc; nói cách khác, giờ sinh của một người mà mộc nhiều hoặc mộc vượng, thổ suy, thì tỳ vị người ấy nhất định có bệnh. Nắm được quan hệ sinh khắc giữa can chi và cơ thể thì biết phòng bệnh hiệu quả, biết bệnh nặng nhẹ, cát hay hung.
Vận khí: mệnh là cái có sẵn, vận là cái đi qua
Học thuyết vận khí là một môn khoa học; Đông y đã nghiên cứu quy luật vận động của thời tiết từ thời rất xa, rồi phát triển thành thiên văn vận khí học, hải dương vận khí học, khí tượng vận khí học, y học vận khí học. Vận khí đối với vạn vật là tồn tại khách quan. Vạn vật có thủy chung, thịnh có hưng suy, con người có cát hung, ấy là do có sự thống nhất trong ngũ vận. Con người ở giữa trời đất, bốn mùa đổi thay, lạnh nóng khác nhau, ai cũng tự biết được. Khoa học vận khí đã được các lĩnh vực khác thừa nhận, thì chuyện con người có vận khí hay không cũng chẳng cần tranh luận: người cũng là một vật trong vạn vật nên cũng bị sự vận động của thiên thể chi phối.
Thế nào là vận, thế nào là khí? Theo thầy Thiệu Vĩ Hoa, vận là hành, khí là hai khí âm dương. Hai khí ấy vận động với hai trạng thái: cân bằng và mất cân bằng. Mất cân bằng thì sự vật mất đi tính quy định về chất, sự thống nhất của mâu thuẫn bị phá, vật này chuyển hóa thành vật khác. Sự cân bằng hay mất cân bằng, sự phá hay sự tồn tại đều phát sinh trong một thời gian và điều kiện nhất định. Trong quá trình ấy, gặp khí tương sinh thì có lợi, gặp khí tương khắc thì có hại; cho nên việc sự vật khi vận hành gặp khí tương sinh hay tương khắc gọi là vận khí. Xuân đến cỏ cây tươi tốt, sang thu khô dần; sự biến hóa của bốn mùa đối với thân thể cũng như vậy. Trời có ngũ hành đóng ở năm phương, sinh ra lạnh, nóng, gió, khô, ẩm; người có năm tạng hóa năm khí, sinh ra mừng, giận, thương nhớ, lo lắng, hoảng sợ.
Việc phối can chi vào năm, tháng, ngày, giờ sinh để dự toán thông tin đã trải qua hai giai đoạn lịch sử. Bắt đầu từ Lý Hư Trung đời Đường, ông phối can chi vào năm, tháng, ngày, giờ sinh để đoán thông tin. Sang đời Tống, Từ Tử Bình phát triển thành tám chữ, gọi là phép tám chữ; sau khi phát minh ra tám chữ thì lại sáng chế cách sắp xếp vận khí của người. Dùng can chi phối với ngày sinh và cách sắp vận khí để đoán tin tức là một phát minh lớn của nhân dân Trung Quốc, có thể đoán cát hung họa phúc cả đời với độ chính xác khá cao. Đó là cách đoán cát hung khá toàn diện, nhưng cũng rất khó nắm vững. Can chi trong giờ sinh không chỉ là tình trạng thân thể, tiêu chí bệnh tật, mà còn là tiêu chí cuộc đời tốt hay xấu; dùng can chi để đoán cũng là dùng nguyên lý âm dương biến hóa, lấy vượng suy, sinh khắc chế hóa của ngũ hành làm quy tắc. Chẳng hạn nhật nguyên là mình; nhật nguyên mộc mà sinh vào năm bị khắc, hoặc trong Tứ trụ kim nhiều, thì đời người không thuận; nhật nguyên mộc mà trong Tứ trụ có thủy nuôi dưỡng, ngũ hành bình hòa, đắc thời đắc địa, thì cuộc sống tất thuận lợi.
Ba trường hợp đoán trúng: người cầm quân, bà họ Lô và nạn nhân bị giết
Một Tứ trụ chỉ có năm sinh
Có hai người bạn mang lễ đến nhờ đoán một Tứ trụ chỉ có can chi của năm Quý Mùi mà không có tháng, ngày, giờ. Trong một vòng sáu mươi năm chỉ có một năm Quý Mùi, sáu trăm năm chỉ có mười năm, sáu nghìn năm chỉ có một trăm năm Quý Mùi. Hỏi là năm Quý Mùi nào, khách bảo: xin đừng hỏi, cứ theo Tứ trụ mà đoán. Đây là lần đầu thầy Thiệu gặp loại Tứ trụ không rõ năm tháng như thế, nên đành gieo quẻ để đoán. Ông nói: đây là người nam, khá cao, dáng đẹp; vợ cũng đẹp, quan hệ vợ chồng tốt; về con, nếu con đầu là trai thì khó thành người, nếu là gái thì lớn lên khá. Khách nói đúng cả, rồi hỏi người này làm nghề gì: nông dân, công nhân, cán bộ, thầy giáo hay nhà kinh doanh. Ông khẳng định: chẳng là nghề nào trong những nghề ấy, là tướng hoặc soái cầm quân đánh trận. Khách nói đúng, nhờ xem tuổi ba mươi chín vận khí ra sao. Ông lập đại vận Tân Hợi, tiểu vận Canh Dần, lưu niên Tân Dậu, trong giờ ám tàng thất sát Canh kim, mà can ngày của Tứ trụ là Giáp mộc. Giáp mộc bị khắc vô sinh nên chắc chắn chết. Ông nói: tuổi ba mươi chín, nửa năm đầu có công, nửa năm sau nhất định gặp tai nạn nặng. Hai vị khách kinh ngạc kêu lên: hoàn toàn đúng! Đây là Tứ trụ của anh hùng Nhạc Phi.
Bà họ Lô và hướng tây bắc
Tháng mười hai năm 1986, thầy Thiệu đoán vận cho bà Lô. Căn cứ Tứ trụ, sắp đại vận, tiểu vận, lưu niên, ông đoán năm 1987 bà gặp nạn rất nặng, nhất là vào nửa năm đầu, đặc biệt tháng ba, tháng tư dương lịch không nên đi công tác về phía tây bắc, và cũng chỉ cho bà cách giải nạn. Bà không làm theo; ngày mười bốn tháng tư năm 1987 bà đi công tác hướng tây bắc, trên đường về bị tai nạn ô tô mà chết, đúng vào tháng ba âm lịch.
Tứ trụ của bà: sinh giờ Quý Mão, ngày Đinh Dậu, tháng Mậu Thìn, năm Giáp Thìn (mồng bảy tháng ba năm 1964). Đại vận Bính Dần, từ mười lăm đến hai mươi bốn tuổi, gặp đất tử. Tiểu vận Kỷ Mão, Dậu kim xung khắc Thái tuế Mão mộc. Lưu niên Đinh Mão: Mão mộc là Thái tuế, rất nghiêm trọng, không thể phạm. Lý do đoán năm 1987 có tai nạn rất nặng: một, nhật nguyên Đinh Dậu và giờ sinh Quý Mão đúng là thiên khắc địa xung, chi ngày là Dậu kim xung khắc Thái tuế Mão, xung khắc Thái tuế là điềm đại hung. Hai, tiểu vận là Kỷ Mão, lưu niên Thái tuế là Đinh Mão, giờ là Quý Mão, trong Tứ trụ lại có Dậu kim, thành một Dậu xung ba Mão, hay ba Mão xung một Dậu, là điềm đại hung. Ba, lý do đoán tháng ba, tháng tư dương lịch không nên đi tây bắc: thời gian ấy đúng tháng ba âm lịch; trong Tứ trụ của bà năm là Giáp Thìn, tháng là Mậu Thìn tức có hai Thìn thổ; tháng ba năm 1987 là Giáp Thìn, còn phương tây bắc là Tuất, thành thế ba Thìn xung một Tuất, cũng là điềm đại hung. Bốn, đại vận gặp đất tử là điềm hung. Kết quả ứng nghiệm đúng như vậy.
Một án mạng năm 1988
Tháng hai năm 1989, khi giảng bài ở Quảng Châu, thầy Thiệu gặp một vụ án giết người. Để tìm nguyên nhân người bị hại chết vào năm 1988, ông ghi lại Tứ trụ, lập đại vận, tiểu vận để nghiên cứu. Nạn nhân sinh giờ Nhâm Dần, ngày Nhâm Ngọ, tháng Kỷ Dậu, năm Nhâm Thìn (mười lăm tháng tám năm 1952). Đại vận Quý Sửu là đất suy; tiểu vận Canh Thìn, Thìn là kho nước, là đất mộ; năm hạn Mậu Thìn, Thìn cũng là kho nước, là đất mộ. Một, trong Tứ trụ Thìn, Dậu, Ngọ là tự mình phạt mình. Hai, trong Tứ trụ có ba Nhâm là kiếp, tài ngang hòa, vì của cải hoặc vì đàn bà mà bị họa kiếp sát; thực tế là vì của mà chết. Ba, can ngày là Nhâm thủy sợ thổ khắc; đại vận, tiểu vận, lưu niên là ba thổ chồng lên mà khắc, có khắc mà không có sinh. Bốn, Tứ trụ chỉ có một Thìn thổ ở năm, gặp tiểu vận và lưu niên có hai Thìn thổ nữa, lại có ba Nhâm thủy, vừa đủ làm thành ba Thìn thổ khắc ba Nhâm thủy, ba mộ thu về tám Nhâm, cho nên là nạn chết người.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
