Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Cảm ứng trời người và âm dương ẩn trong can chi

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202613 phút đọc3 lượt đọc
Cảm ứng trời người và âm dương ẩn trong can chi

Nàng Mạnh Khương khóc đến đổ cả một đoạn tường thành, và tuyết còn rơi giữa tháng sáu vì một lời kêu oan. Trong khi đó, mười dấu hiệu dùng để đếm ngày hóa ra lại kể câu chuyện của một hạt giống...


Âm dương tương cảm trong Chu Dịch

Hai khí âm dương không đứng riêng một mình mà luôn nghiêng về nhau.

Tác giả nói Chu Dịch đặc biệt nhấn mạnh quan hệ cảm ứng giữa âm và dương, cho rằng khí âm khí dương không tồn tại độc lập mà hỗ trợ nhau. Chu Dịch không chỉ qua cấu trúc quẻ và hào để phản ánh quan hệ đối ứng âm dương mà còn có ảnh hưởng quan trọng đến quan niệm cảm ứng giữa con người và thiên nhiên của đời sau, qua quẻ từ, hào từ và qua phần trình bày sâu về cảm ứng âm dương.

Giữa quẻ nội, tức hạ quái, và quẻ ngoại, tức thượng quái, có một mối liên hệ mật thiết. Hào một với hào bốn, hào hai với hào năm, hào ba với hào trên cùng có quan hệ đối ứng âm dương. Quan hệ ấy không chỉ có giữa các quẻ đơn mà còn giữa bát quái và sáu mươi bốn quẻ. Qua sự biến đổi của các hào, quan hệ đối ứng âm dương xuyên suốt cả sáu mươi bốn quẻ, thể hiện tính phổ biến của sự tương ứng âm dương. Chu Dịch qua âm dương, cương nhu, thủy hỏa, trời đất, nhật nguyệt, nam nữ, núi đầm, gió sấm đã trình bày quy luật phổ biến của cảm ứng. Quẻ Hàm có lời nói cảm là cảm ứng, nhu ở trên mà cương ở dưới, hai khí cảm ứng để cùng nhau. Thoán truyện nói trời đất cảm nhau mà vạn vật hóa sinh. Ở quẻ Bĩ, thoán nói trong âm mà ngoài dương, trong nhu mà ngoài cương.

Chu Dịch còn lấy các hiện tượng thiên nhiên làm luận cứ cho sự tương cảm. Núi và đầm thông khí. Cùng tiếng thì ứng nhau, cùng khí thì tìm nhau, nước chảy chỗ ẩm thấp, lửa gần chỗ khô ráo, theo Hệ từ và Văn ngôn. Theo ông, Chu Dịch không chỉ dùng cảm ứng âm dương để phân tích quan hệ của thế giới tự nhiên mà còn dùng cho quan hệ xã hội.

Thiên địa giao nhi vạn vật thông dã, thượng hạ giao nhi kỳ chí đồng dã.

Thiên địa bất giao nhi vạn vật bất thông dã, thượng hạ bất giao nhi thiên hạ vô bang dã.

Cảm nhi toại thông thiên hạ chi cố.

Ông cũng dẫn Tượng truyện của quẻ Ký Tế và Vị Tế: nước ở trên lửa thì quân tử nghĩ đến hoạn nạn mà phòng ngừa, lửa ở trên nước thì quân tử thận trọng phân biệt vật để đặt đúng chỗ. Từ những điều ấy, ông cho rằng Chu Dịch rất coi trọng quan hệ cảm ứng âm dương và đã phân tích ở nhiều mặt.

Cảm ứng giữa con người và thiên nhiên thời Hán

Từ chỗ nhìn trời để hiểu người, một trào lưu mới đã dần biến trời thành người phán xét.

Tác giả mô tả cảm ứng giữa con người và thiên nhiên là một trào lưu tư tưởng thần bí về quan hệ người và trời ở Trung Quốc, có nguồn gốc lâu đời và phát triển rộng. Ngay từ việc sùng bái thiên nhiên thời cổ đã là quan niệm cảm ứng sớm nhất. Kinh Thi, phần Đại nhã, thiên Sinh dân, chép chuyện nàng Khương Nguyên có thai mà sinh ra Hậu Tắc, người trồng cây kê. Thời cổ, sự ra đời của mỗi vĩ nhân đều có truyền thuyết cảm ứng, hoặc cảm ứng với rồng, hoặc cảm ứng với một loài vật được sùng bái, như Sử ký, phần Ân bản kỷ, chép về tổ tiên nhà Ân. Theo ông, âm dương tương cảm trong Chu Dịch là cơ sở lý luận đặt nền móng cho cảm ứng giữa trời và người.

Lập thiên chi đạo viết âm dữ dương, lập địa chi đạo viết nhu dữ cương, lập nhân chi đạo viết nhân dữ nghĩa.

Ông nhận xét quan điểm cảm ứng giữa con người và thiên nhiên chú trọng ảnh hưởng của trời đối với người mà không chú trọng cảm ứng của người đối với trời, và cho điều đó là tương đối tiến bộ. Ảnh hưởng của trời đối với người là quan điểm duy vật của Dịch truyện, đặt cơ sở lý luận cho quan hệ giữa thiên nhiên và con người. Hoàng đế nội kinh, cuốn sách có ảnh hưởng quan trọng với y học, đã phát triển xuất sắc quan điểm về sự tương ứng giữa con người và trời đất.

Về sau, ông kể nhà âm dương học Trâu Diễn thời Chiến Quốc dùng ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ gán vào biến động xã hội và sự thay đổi triều đại, đưa ra thuyết ngũ đức chung thủy mà ông xếp vào chủ nghĩa duy tâm. Ảnh hưởng của việc nhấn mạnh cảm ứng trời người cũng tác động đến thần học cảm ứng của Đổng Trọng Thư thời Hán. Theo ông, Đổng Trọng Thư đã xuyên tạc quan niệm tương ứng giữa trời và người trong Chu Dịch, mở rộng thuyết ngũ đức chung thủy của Trâu Diễn, và đẩy quan hệ tương ứng ấy đến chỗ duy tâm. Quan điểm của Đổng Trọng Thư là trời có ý chí, trời can thiệp vào việc đời, hành vi của con người cũng cảm ứng được với trời. Từ đó có những lời "thiên khiển", ảnh hưởng sâu sắc đến môn thần học sấm vĩ.

Mục đích của thuyết phù thụy và thuyết khiển cáo của Đổng Trọng Thư, theo tác giả, là bảo vệ nền quân chủ chuyên chế phong kiến và mang lại cho nó tính hợp pháp. Ông cũng nói cảm ứng giữa thiên nhiên và con người cho rằng khí cũng có ý chí, và trời có thể dùng tai họa để ràng buộc, hạn chế quyền vua. Về mặt khách quan, điều ấy có tác dụng tích cực nhất định trong việc hạn chế quyền lực quân chủ, nhưng thực chất vẫn duy trì và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Đặc điểm của cảm ứng thời Hán là mang tính xã hội và chính trị khá mạnh, giao cho trời sứ mệnh là "ý chí", và có ảnh hưởng sâu sắc đến lý học thời Tống, Minh và nhân sinh quan lúc ấy.

Cảm ứng trời người trong văn học và nghệ thuật

Khi tư tưởng ấy rời khỏi triều đình và bước vào truyện kể, nó đổi vai: từ lời răn của vua sang tiếng khóc của người dân.

Ông gọi quan niệm cảm ứng giữa thiên nhiên và con người là một hiện tượng văn hóa thời cổ, thuộc phạm trù thần học, từng dùng hình thức sấm vĩ, phù thụy và thuyết "tai khiển" để tuyên truyền rằng trên trời có ý chí và có thể trừng phạt người dưới, cũng tương tự thuyết nhân quả báo ứng của Phật giáo. Theo ông, quan niệm này là căn cứ triết học mà Đổng Trọng Thư thời Hán dùng để bảo vệ xã hội quân chủ chuyên chế, xuyên tạc quan hệ giữa người và trời, có tác dụng tiêu cực bất lợi đối với đời sau về ý nghĩa chính trị và tư tưởng. Nhưng nó lại có ảnh hưởng nhất định đến văn học, như thuyết nhân quả của đạo Phật làm phong phú kinh Phật, và quan niệm cảm ứng làm tăng sức hút cho văn học nghệ thuật Trung Quốc, tăng thêm khả năng truyền cảm.

Khi quan niệm ấy đi vào văn học nghệ thuật thì lại có tác dụng ngược với lĩnh vực chính trị. Văn học về cảm ứng thường được các nhà văn dùng để tố cáo tội ác xã hội và ca ngợi sự lương thiện của con người, đả kích cái xấu cái ác. Về mặt tư tưởng, nó có tác dụng tích cực nhất định thông qua văn học. Việc ứng dụng cảm ứng trong văn học có nguồn gốc từ lâu, thấm đẫm các tác phẩm nhiều thời đại, trở thành một hiện tượng văn hóa quan trọng, tốt đẹp ngang với thuyết nhân quả của nhà Phật, một bông hoa lạ trong kho văn học nghệ thuật Trung Quốc. Ông kể ra nàng Mạnh Khương khóc đến đổ Trường Thành, tuyết tháng sáu trong vở Đậu Nga oan của Quan Hán Khanh, và Chúc Anh Đài khóc đến nỗi ngôi mộ nứt ra trong Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, đều là những kiệt tác văn học về cảm ứng giữa con người và thiên nhiên.

Can chi mang trong mình chu kỳ âm dương

Mười dấu hiệu và mười hai dấu hiệu, mới nhìn chỉ như bảng đếm ngày, lại ẩn bên trong một vòng sinh trưởng của cây cỏ.

Tác giả mở phần bàn về mối liên hệ giữa âm dương và can chi bằng việc nêu mười thiên can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và mười hai địa chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Can chi có nguồn gốc rất sớm. Theo văn giáp cốt đào được ở vùng nhà Ân cũ có ghi chép về can chi, nên can chi có khởi nguồn từ thời Ân Thương. Ông nói nhà Hạ, từ năm 2033 đến năm 1562 trước công nguyên, đã bắt đầu dùng can chi để ghi ngày. Can chi ghi ngày được vì nó ẩn chứa nguyên lý sinh trưởng của giới tự nhiên với xu thế thịnh suy, như Thuyết văn giải thích, có thể chứng thực sự sinh trưởng của thực vật.

Mười can, theo các sách Hán thư, phần Luật lịch chí, Sử ký, phần Luật thư, và Thuyết văn mà ông dẫn, mô tả một chu kỳ của hạt giống. Giáp là hạt mới nứt vỏ nảy mầm, dương khí bắt đầu nổi lên ở phương đông. Ất là cỏ cây gồng mình đâm lên, âm khí còn nhiều, còn khó khăn chờ hạt trưởng thành. Bính là dương khí đã thịnh, dương đạo rõ rệt. Đinh là vạn vật sinh trưởng rắn chắc. Mậu là vạn vật bắt đầu tươi tốt. Kỷ là vạn vật sau khi hưng thịnh bắt đầu giấu bớt hình mình. Canh là vạn vật bắt đầu thu lại. Tân là vạn vật thành thục, đồng thời chuẩn bị cho một sức sống mới. Nhâm là một sinh mệnh mới bắt đầu thành hình, như mang thai. Quý là nước từ bốn phương chảy vào lòng đất, ví với sức sống mới rất mạnh.

Mười hai chi tiếp tục chu kỳ ấy theo tháng. Dần là tháng giêng, dương khí nổi lên, vạn vật sinh ra, tượng trưng cho hổ. Mão là tháng hai, vạn vật nảy mầm, mở cánh cửa sinh sôi. Thìn là tháng ba, dương khí động, sấm điện, nhà nông vào vụ, vạn vật đều sinh. Tỵ là tháng tư, dương khí đã xuất ra hết, âm khí bắt đầu ẩn nhưng cũng dần nảy sinh. Ngọ là âm dương giao nhau, dương cực âm sinh. Mùi là vạn vật đều thành, chín muồi. Thân là tháng bảy, dương khí bắt đầu yếu, âm khí lớn dần. Dậu là tháng tám, hoa màu đã thu hoạch, rượu đã ủ, mọi thứ kết thúc, nên Thuyết văn nói Mão là cửa xuân, vạn vật ra, Dậu là cửa thu, vạn vật vào. Tuất là vạn vật đều tàn, âm khí đã thịnh. Hợi là âm cực dương sinh, sức sống mới tiềm tàng. Tý là hạt giống bắt đầu nảy mầm, một sinh mệnh mới ra đời. Sửu là tháng chạp, sức sống mới lại bắt đầu.

Từ các giải thích ấy, tác giả kết luận can chi là sự khái quát trừu tượng của con người trước quá trình sinh trưởng của thực vật, và phản ánh quá trình phát triển cùng diệt vong của âm dương trong tự nhiên. Thực chất can chi tượng trưng cho chu kỳ âm dương của giới tự nhiên. Ông nhắc rằng văn giáp cốt nhà Ân, Thương dùng ký hiệu can chi để ghi thời gian, và sách có chép bảng can chi trong văn giáp cốt, ghép mười can với mười hai chi thành sáu mươi cặp, bắt đầu từ Giáp Tý.

Bói toán, tượng số và việc can chi được quy vào âm dương

Cho đến khi người ta cần một thước đo thời gian chính xác cho việc bói, chu kỳ ấy mới được xếp vào khuôn chẵn lẻ.

Theo ông, Trung Quốc thời cổ là thời của bói toán, nên can chi vốn có chức năng ghi thời gian được quy vào việc bói. Sau khi vào hệ thống bói toán, chịu ảnh hưởng của quan niệm Càn Khôn trời đất, mười can được gọi là thiên can, mười hai chi gọi là địa chi. Chịu ảnh hưởng hào âm đứt và hào dương liền trong Kinh Dịch, dựa vào cách phân biệt chẵn lẻ, can chi được chia thành dương can, âm can, dương chi, âm chi. Dương can gồm Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm. Âm can gồm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Dương chi gồm Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Âm chi gồm Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Khi can chi được quy vào quy luật chẵn lẻ của hào âm hào dương trong bát quái, thì từ cơ sở chu kỳ âm dương, can chi lại được gán thêm quy luật chẵn lẻ âm dương. Nhờ đó ưu thế của can chi mới bộc lộ hoàn toàn và được ứng dụng rộng rãi trong các hình thức bói của Dịch. Khi việc bói kết hợp với can chi, vốn có ưu thế ghi thời gian, uy thế của việc bói càng rõ, như hệ thống bói quẻ Dịch, kỳ môn độn giáp, lục nhâm, thái ất.

Ông còn nói đến ảnh hưởng của tượng số. Nhà Hán là thời kỳ quan trọng của việc phát triển khoa học tượng số. Trên cơ sở thuyết quái khí, Mạnh Hỷ và Kinh Phòng đã phát triển tượng số học gồm mười hai quẻ tiêu tức, đồ quái khí của bát quái, đồ phương vị bát quái và cửu cung. Do nhu cầu phát triển tượng số, các nhà Dịch học đưa can chi, vốn có chức năng ghi thời gian, vào bát quái. Kinh Phòng là người đầu tiên đưa can chi vào bát quái, lập nên hệ thống can chi bát quái. Hệ thống Dịch vĩ đời Hán phát triển đầy đủ thuyết nạp giáp bát quái, gồm nạp giáp, nạp chi theo quái khí. Nhờ vậy ý nghĩa về thế giới, không gian, phương hướng và vị trí của bát quái được tăng cường. Sau đó Dịch vĩ tiến thêm một bước, kết hợp Dịch lý với can chi, nhấn mạnh thêm quan niệm phương vị, thời gian và không gian của tượng số bát quái. Thuyết nguyệt thể nạp giáp của Ngụy Bá Dương về sau lại thúc đẩy sự phát triển của tượng số Dịch học.

Ông nói đặc biệt khi quy luật chẵn lẻ âm dương của can chi được ứng dụng vào ngũ vận lục khí, điều đó tạo cơ sở lý luận cho thuyết vận khí học của Đông y, và có ảnh hưởng quan trọng với việc làm sâu thêm lý luận Đông y. Sự phát triển tượng số học trên cơ sở Hán Dịch đã đạt mức độ cao chưa từng thấy, vừa phản ánh ảnh hưởng của Dịch học đến can chi, vừa thể hiện quan hệ mật thiết giữa can chi và Dịch học.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện