Bài tổng quan
Lẽ một âm một dương: sinh sinh mãi và điều khó lường
Chỉ tám chữ mà bàn mãi không hết: một âm, một dương gọi là đạo. Từ đó mở ra chuyện sinh rồi lại sinh, chuyện cái khó lường gọi là thần và chuyện Dịch rộng tới đâu…
Một âm một dương, nhịp thở của vạn vật
Có một câu trong Hệ từ chỉ gồm tám chữ mà hậu thế bàn mãi không hết: một âm, một dương gọi là đạo. Nó không nói đạo là một thứ cao siêu đứng ngoài thế giới, mà nói đạo chính là sự thay phiên của hai khí.
Nhất âm nhất dương chi vị đạo.
Theo lời giải thích, đạo là quy luật; âm dương chỉ hai khí âm và dương, là phần "dụng" của thái cực. Hai khí tác động qua lại để hóa sinh muôn vật. Các đức "nguyên, hanh, lợi, trinh" là biểu hiện cụ thể của hai khí ấy. Hào âm và hào dương đan xen nhau thành tám quẻ, rồi sinh ra mọi sự biến đổi tương hỗ ở khắp nơi. Ví dụ rõ nhất là một âm mới nhú gặp năm dương: chỉ một vạch đứt cũng đủ làm đổi cả thế quẻ.
Trời đất và mặt trời mặt trăng là tượng của âm dương, cứng mềm là tính của âm dương. Khí âm dương chuyển vận không ngừng nên bốn mùa luân chuyển, nóng lạnh thay nhau, khí hóa mới thành. Đó là sự khái quát rất cao về quy luật thống nhất và đối lập giữa âm dương. Câu "một âm một dương gọi là đạo" vì thế được coi là một nhận định sâu sắc của học thuyết âm dương trong Dịch, và ảnh hưởng xa đến sự hình thành học thuyết âm dương của y học cổ truyền.
Sinh rồi lại sinh, và cái khó lường gọi là thần
Cái sinh ra không dừng ở một lần, và cái biến đổi không bao giờ chỉ có một đường đi.
Sinh sinh chi vị Dịch.
Hai khí âm dương sinh nhau mãi không thôi, đó gọi là Dịch. Việc hóa sinh của hai khí là gốc của biến dịch: có âm dương biến đổi thì mới có thể tương sinh, không có sinh thì không có dịch, có dịch mới có sinh, nên sinh hóa và biến dịch gắn chặt với nhau. Chữ "sinh" thứ nhất chỉ âm sinh dương, chữ "sinh" thứ hai chỉ dương sinh âm. Cách đọc ấy cho thấy vạn vật nảy nở nhờ hai khí đẩy nhau chứ không nhờ một khí độc diễn. Câu này hô ứng với một lời Hệ từ khác: đức lớn nhất của trời đất là sinh.
Nội kinh có một câu tương tự về quan hệ giữa hóa và biến: vật sinh gọi là hóa, vật đến cực điểm gọi là biến. Hai chữ ấy giải thích vì sao Dịch không chỉ là phép đổi thay: nó còn là phép của sự sinh trưởng.
Âm dương bất trắc chi vị thần.
Trong âm có dương, trong dương có âm, rất khó đoán, như vậy gọi là thần. Sự biến hóa của âm dương sâu xa không thể dò hết; chữ "thần" ở đây chỉ sự kỳ diệu của biến hóa, và cũng mang ý rằng vạn vật trong thiên nhiên không vật nào không do âm dương sinh ra. Nội kinh trong một thiên lớn bàn về kỉ nguyên của trời đất cũng nói: âm dương khó lường thì gọi là thần, và cái dụng của thần không giới hạn thì gọi là thánh. Phần có tính tất nhiên của biến hóa thì có thể lường được; phần không tất nhiên thì cao sâu không thể lường. Dù vậy quy luật của nó vẫn nắm được: chỉ cần hiểu âm dương biến dịch là thông được vạn sự vạn vật. Khi người đời đọc những lời sấm mà lúc đúng lúc sai, đó cũng là chuyện của phần khó lường này.
Cái rộng lớn của Dịch
Càng đi xa, Dịch càng không có biên giới; càng nhìn gần, nó càng tĩnh và ngay thẳng.
Phù Dịch quảng hĩ, đại hĩ! Dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngự, dĩ ngôn hồ nhĩ tắc tĩnh nhi chính, dĩ ngôn hồ thiên địa chi gian tắc bị hĩ.
Đạo Dịch rộng lớn thay: nói về nơi xa thì không có cùng; nói về nơi gần thì tĩnh mà chính; nói về khoảng giữa trời đất thì đạo ấy bao gồm đủ cả. Lời giải thích nhận xét rằng Dịch lý sâu xa, Dịch đạo tinh thâm, Dịch tượng bao la; muôn vật xa gần không loại nào không đủ. Từ trong nhìn ra ngoài hay từ ngoài nhìn vào trong, tất cả đều mênh mông không bờ. Vũ trụ, tự nhiên hay xã hội, không mặt nào không lấy Dịch làm chuẩn. Chu Dịch là cái nôi của văn hóa Trung Hoa, tinh và sâu, và triết học, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên đều có thể truy nguồn ở đó. Như bao la những bức bích họa trong hang đá, một nền văn hóa lớn thường hội tụ từ nhiều dòng về một chỗ.
Phù Càn, kỳ tĩnh dã chuyên, kỳ động dã trực, thị dĩ đại sinh yên; phù Khôn, kỳ tĩnh dã hấp, kỳ động dã tịch, thị dĩ quảng sinh yên. Quảng đại phối thiên địa, biến thông phối tứ thời, âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt, dị giản chi thiện phối chí đức.
Càn lúc tĩnh thì chuyên nhất, lúc động thì tiến thẳng, nên sức sinh ra của nó lớn. Khôn lúc tĩnh thì thu lại, lúc động thì mở ra, nên sức sinh ra của nó rộng. Đạo Dịch rộng lớn nên sánh được với trời đất; biến thông nên sánh được với bốn mùa; có lẽ âm dương nên sánh được với mặt trời, mặt trăng; có cái hay là dễ và giản nên sánh với đức cao nhất. Bốn cặp so sánh ấy xếp theo cấp độ từ lớn đến gần.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
