Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Quẻ Truân: mây sấm buổi đầu, ngựa dùng dằng và kinh luân

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/20265 phút đọc3 lượt đọc
Quẻ Truân: mây sấm buổi đầu, ngựa dùng dằng và kinh luân

Cưỡi ngựa mà cứ xoay vòng tại chỗ, đuổi hươu vào rừng không có người dẫn đường, khóc đến chảy cả máu: sáu hào của buổi đầu chẳng hề dễ chịu. Nhưng cũng chính trong mây tối ấy, sấm đã bắt đầu động. Vậy người xưa khuyên làm gì trước tiên khi mọi thứ mới nhen...


Sấm động trong mây: lúc muôn vật vừa nảy mầm

Quẻ Truân gồm quẻ Khảm ở trên và quẻ Chấn ở dưới, tượng trưng cho buổi sơ sinh. Lời quẻ viết:

Truân, nguyên hanh lợi trinh, vật dụng hữu du vãng, lợi kiến hầu.

Nghĩa là: lúc mới sinh ra, hết sức hanh thông, lợi ở đức giữ chính bền; đừng vội tiến, nên dựng chư hầu. Chấn là sấm, thuộc dương; Khảm là nước, thuộc âm. Sấm và mưa gặp nhau thì nhuần thấm, muôn vật được lợi, nên có bốn đức nguyên hanh lợi trinh. Chấn dương phát động, Khảm âm làm ẩm, đức Truân lan khắp bốn phương, mọi vật dựng nền từ đây, vì vậy mới nói "lợi kiến hầu". Đây là quẻ đầu tiên của sự giao nhau giữa Càn và Khôn, và Khảm là quẻ thứ nhất do trời sinh, nên có người nói sáu quẻ đều không rời khỏi Khảm.

Thoán truyện giải thêm: dương cứng và âm mềm vừa mới giao nhau nên khó khăn nảy sinh; chuyển động giữa chỗ hiểm, tuy cuối cùng rất hanh thông nhưng phải giữ chính bền. Sấm rền mưa đầy khắp trời là lúc thiên nhiên mới tạo ra muôn vật trong buổi mờ tối; lúc đó bậc vương giả nên dựng chư hầu để trị thiên hạ chứ không thể ngồi yên như lúc vô sự. Tượng truyện cô đọng bằng một câu: mây và sấm là Truân, người quân tử vào lúc này phải ra sức "kinh luân", tức lo việc dựng khuôn khổ, định quy mô cho mọi việc.

Sáu hào của buổi khởi đầu: dùng dằng, đuổi hươu, khóc ra máu

Cưỡi ngựa mà cứ quay đi quay lại, không phải vì ngựa yếu, mà vì con đường phía trước chưa có người dẫn.

Hào sơ cửu: "bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu". Bàn là đá lớn, hoàn là cột lớn, tượng trưng cho việc đắp nền; loanh quanh mà giữ chính thì lợi. Đây là hào đầu của quẻ, là cột trụ đặt nền móng; nền vững mới xây lên cao được. Tượng truyện nói tuy loanh quanh nhưng chí vẫn giữ chính, thân tôn quý mà chịu ở dưới thấp nên được lòng dân.

Hào lục nhị: khốn đốn, như người cưỡi ngựa mà cứ xoay vòng. Người cưỡi ngựa dập dìu tới, nhưng không phải cướp, họ đến cầu hôn. Người con gái giữ chính, không vội lấy chồng, mười năm sau mới kết duyên. Hào âm mềm cưỡi trên dương cứng nên khó đi; đợi đến lúc thích hợp thì mọi việc trở lại bình thường.

Hào lục tam: đuổi hươu mà không có người coi rừng dẫn đường, thì chỉ vào sâu trong rừng chứ không bắt được con nào. Người quân tử thấy cơ sự thì bỏ đi còn hơn; cứ tiếp tục sẽ hối tiếc, rơi vào bế tắc. Tượng truyện nói đó là do lòng tham đuổi theo con mồi. Ở đây Khảm là hiểm nên đường khó đi; hào này nhắc rằng người quân tử phải có cái sáng suốt thấy trước, "quân tử cơ", mới khỏi rơi vào bước hiểm.

Hào lục tứ: cưỡi ngựa còn dùng dằng, nhưng đi cầu hôn thì tốt, không gì là không lợi. Tượng truyện nói biết cầu người hiền ở dưới mà tiến lên là người sáng suốt.

Hào cửu ngũ: ân trạch chưa ban ra được; sửa việc nhỏ thì tốt, làm việc lớn thì xấu. Tượng truyện nói đức trạch chưa tỏa sáng. Từ hào bốn đến hào năm, ngôi vị cao dần, đức Truân tăng lên, có được sự nhuần thấm, cảnh hiểm cuối cùng có thể qua đi và điều lành có thể đến.

Hào thượng lục: cưỡi ngựa dùng dằng, khóc đến nỗi máu và nước mắt đầm đìa. Tượng truyện hỏi: làm sao kéo dài được mãi.

Vì sao việc nào lúc mới bắt đầu cũng gian nan

Mấy điều đáng ghi từ quẻ này. Thứ nhất, theo thứ tự các quẻ trong Dịch, có trời đất rồi muôn vật mới đầy ra, nên có quẻ Truân; Truân tượng trưng buổi sinh ra của vạn vật. Quẻ gồm Chấn dưới Khảm trên: Chấn là dương, chủ sấm động, khích lệ muôn vật; Khảm là nước, thuộc âm, nuôi dưỡng muôn vật. Một dương chấn động dưới nước, trong âm có dương thì mới có muôn vật. Khảm là quẻ trời sinh trước nhất, và nước trong y học cổ truyền ứng với thận, nên giữa Dịch và y có một mối nối.

Thứ hai, đây là quẻ đầu của sự giao hòa Càn Khôn, là hòn đá tảng của các quẻ, nên mới nói "bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu": đức Truân tụ lại, có ý chứa của, tích tài, bắt đầu việc củng cố nền móng. Chỉ khi nền vững mới vươn cao được. Muốn mở được đường sống từ lúc bí, người ta cũng phải bắt đầu từ chỗ đặt nền ấy.

Thứ ba, cương nhu mới giao mà gặp Khảm hiểm, nên vừa có mặt sấm mưa nhuần thấm nuôi sức sống, vừa có mặt mây mù tối tăm. Vì thế sáng nghiệp phải ra tay lo liệu mọi việc, lại cần cái sáng suốt thấy trước. Đó là điều mà nghịch cảnh buổi đầu bao giờ cũng đòi: việc khởi đầu nào cũng khó, sáng nghiệp thì càng khó, nhưng khó mà vẫn có đường đi, miễn giữ chí chính và lo cho nền móng.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện