Bài tổng quan
Đặt cửa đúng chỗ, và đường sống mở ra từ bước đường cùng
Một bữa tiệc đón khách, một cái gật đầu của người cha, và cô con gái nhà quan bước lên xe hoa về với gã đình trưởng nghèo. Chẳng ai ngờ cuộc hôn nhân ngẫu nhiên ấy lại đẩy bà đến tận ngai quyền lực. Nhưng con đường đó phải đi qua một nơi mà không ai muốn đến…
Trên sàn diễn chính trị, ai muốn đóng một vai thì trước hết phải bước lên sàn, mà bước vào cửa nào lại là chuyện của phán đoán. Nói cho dân dã thì đó là chuyện đặt cửa, đặt trúng hay trật có thể định đoạt cả một đời. Đây là một bài toán trí tuệ lớn, đòi hỏi tầm nhìn rộng.
Một cuộc hôn nhân ngẫu nhiên đưa người con gái bình thường lên đỉnh quyền lực
Trong lịch sử Trung Hoa có một người đàn bà đóng vai trò rất lớn, mà ở mức độ nào đó có thể nói tất cả bắt đầu từ một cuộc hôn nhân ngẫu nhiên. Bà là Lã Trĩ, sống từ năm 241 đến năm 180 trước Công nguyên, người đất Đơn Phụ, Sơn Đông, hoàng hậu của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Sau khi Lưu Bang mất, bà làm Thái hậu, cầm quyền suốt mười sáu năm, là nữ chúa không đội mũ miện đầu tiên của lịch sử Trung Hoa.
Ở đầu đời Tây Hán, bà giữ vị trí quan trọng, nhưng đời sau khen chê mỗi người một ý. Đánh giá khách quan, thời bà nắm quyền, chính sách nghỉ ngơi dưỡng sức khiến chính trị, kinh tế, văn hóa nhà Hán phát triển vững vàng, đặt nền móng chính trị và vật chất cho Văn Đế và Cảnh Đế sau này. Nhưng phẩm hạnh chính trị của bà lại có bóng tối: đem họ Lã thay cho họ Lưu, không từ thủ đoạn nào để thâu tóm quyền hành, độc ác, gian trá, kéo bè kết cánh, khiến bà đứng vào hàng những nhà mưu lược hiếm có thời xưa.
Bữa tiệc đón khách và lời kén rể của người cha tin vào tướng số
Cha của Lã Trĩ là Lã công, thuộc tầng lớp làm quan ở Đơn Phụ, nên cô gái được sống cuộc đời của tiểu thư nhà quyền quý, lớn lên xinh đẹp như ngọc. Năm 221 trước Công nguyên, vì tránh một gia đình thù địch, Lã công đưa cả nhà rời Đơn Phụ đến vùng giáp huyện Bái, nhờ người bạn thân làm Huyện lệnh. Huyện lệnh nể tình bạn, giữ cả nhà ở lại, còn mở tiệc lớn đón Lã công và mời các thân sĩ, quan chức trong huyện đến chúc mừng. Bữa tiệc ấy dẫn tới cuộc hôn nhân đầy màu sắc truyền kỳ của Lã Trĩ với Lưu Bang.
Cha của Lưu Bang là một nông dân, bản thân ông không ưa việc nhà nông, dựa vào võ nghệ biết múa gậy múa thương, xin được chức Đình trưởng Tứ Thủy con con, thân thiết với Công tào Tiêu Hà, Điển ngục Tào Tham và viên lại Hạ Hầu Anh. Hôm ấy Lưu Bang cũng đến dự tiệc, ngồi mâm đầu, nói cười thoải mái, uống rượu liên tục như xung quanh chẳng có ai.
Tiệc tàn, khách ra về hết, Lã công dùng mắt ra hiệu giữ Lưu Bang ở lại. Khi chỉ còn hai người, ông nói: thuở trẻ tôi từng xem tướng cho nhiều người, chưa thấy ai có tướng phúc như ông; chẳng hay ông đã có gia thất chưa? Lưu Bang đã ba mươi sáu tuổi mà chưa ai ngó đến chuyện hôn nhân của mình, vội đáp nhà nghèo, chưa cưới vợ. Lã công mừng rỡ nói tôi có một cô con gái vẫn ở trong khuê phòng, nếu ông không chê, tôi xin gả. Lưu Bang nghe như việc vui từ trời rơi xuống: không mất một xu mà được ăn bữa tiệc thịnh soạn, lại còn kiếm được vợ. Ông cúi vái nhận lời ngay, định ngày đón dâu rồi hớn hở về.
Người vợ không chịu, nhưng mắt người cha không nhầm
Lã công về nhà báo tin, vợ ông nghe xong giận lắm. Hai vợ chồng có hai con trai là Lã Trạch, Lã Thích Chi và ba con gái là Lã Trường Cú, Lã Trĩ và Lã Tu. Trong ba cô gái chỉ có Lã Trĩ là dung mạo xinh đẹp, mang tướng quý nhân, nên được cưng chiều, không thể tùy tiện gả cho người thường. Việc hứa gả cho Lưu Bang thật vô lý: ông ta hay khoác lác, lại hơn con gái hơn mười tuổi, như đóa hoa đẹp cắm vào bãi phân trâu.
Bà vợ nói: trước đây ông bảo con gái thứ hai phải gả cho quý nhân, Huyện lệnh đến cầu hôn ông cũng không ưng, nay lại vô cớ gả cho Lưu Bang, ông ta có phải quý nhân đâu? Lã công không nổi nóng, vẫn cười ha hả mà giải thích: đàn bà các bà không hiểu lý của nó, cứ yên tâm, mắt tôi không nhầm được. Bà vợ không đổi được ý chồng nên đành bằng lòng.
Ngày tốt đến, Lưu Bang mặc lễ phục tự đi đón dâu. Lã Trĩ trang điểm xong, lên xe hoa theo ông về. Nếu việc Lã công gả con là do ngẫu nhiên, thì cuộc hôn nhân ấy lại làm đổi hẳn vận mệnh của bà: một cô gái bình thường được bước lên sàn chính trị, phô bày tài trí trong những năm thế cục biến đổi.
Cuộc đời lao động rèn tính già dặn, rồi vụ ngồi tù thay chồng
Cô tiểu thư lá ngọc cành vàng phải xuống ruộng cày bừa. Và rồi cánh cửa nhà tù mở ra, dạy cho bà một bài học mà nhà quyền quý nào cũng không dạy được.
Sau khi cưới, vì công việc, Lưu Bang thường phải đi vắng, khiến Lã Trĩ phải đổi hẳn lối sống cũ: cày bừa trồng trọt ở ấp, nuôi cha mẹ già, lo liệu việc nhà. Xét một mặt, đời sống lao động ấy đã luyện cho bà am hiểu sinh kế và làm việc già dặn. Lưu Bang từ nhỏ đã phóng đãng; trước khi cưới Lã Trĩ ông đã có quan hệ với một cô gái họ Tào. Nhưng trong lòng ông, gia thế nhà Lã cao quý, người lại xinh đẹp, nên đương nhiên lấy bà làm vợ chính, còn cô họ Tào làm vợ lẽ. Về sau Lã Trĩ sinh cho Lưu Bang một trai một gái, chính là Hán Huệ Đế Lưu Doanh và trưởng công chúa Lỗ Nguyên; người vợ lẽ cũng sinh một con trai, vốn là con trưởng nhưng vì thuộc dòng thứ nên không được lập.
Năm 210 trước Công nguyên, Lưu Bang kéo được khoảng một trăm người nổi dậy ở núi Mang Đãng. Ngày tháng trôi qua, ông nhớ nhà, nhờ người mang thư cho Lã Trĩ bảo bà lên núi. Nhưng lúc ấy bà đang phải ngồi tù thay chồng ở huyện Bái. Từ khi Lưu Bang dung túng đám tù nhân, kéo thành đội ngũ nổi dậy, tin truyền đến huyện, Huyện lệnh lập tức cho người khám nhà Lưu Bang, Lã Trĩ liên đới nên bị bắt. Bà bốn bề không người thân thích, đành gắng chịu đựng, nhẫn nhục. Mãi sau nhờ Tiêu Hà giúp đỡ mới được tha về nhà.
Trải qua biến cố ấy, Lã Trĩ chín chắn hơn nhiều, đồng thời trong đáy lòng chôn sâu một mối hận không kể hết. Mấy ngày sau, bà đến được núi Mang Đãng gặp Lưu Bang. Lưu Bang rất ngạc nhiên, hỏi ngay trước mặt mọi người: bà là đàn bà, sao biết được hành tung của chúng tôi? Lã Trĩ hiểu ý chồng, biết đó là dịp tốt để dựng uy tín cho ông, bèn nói với vẻ thần bí: thiếp có thể nhận ra khí của thiên tử; thấy nơi nào có khí thiên tử thì đi đến, quả nhiên tìm được chàng.
Lời ấy một truyền mười, mười truyền trăm. Thanh niên khắp huyện Bái đua nhau đến theo Lưu Bang, danh tiếng ông đồn đi khắp nơi. Đến khi Trần Thắng, Ngô Quảng nổi dậy, Lưu Bang đã có vài trăm quân. Tiêu Hà, Tào Tham, Phàn Khoái ở huyện Bái liền mời Lưu Bang về giết Huyện lệnh, cử ông làm Huyện lệnh, ông xưng Bái công, quay lưng với nhà Tần. Trong việc ấy có công của Lã Trĩ: bà bịa ra câu chuyện về thiên mệnh để mở rộng ảnh hưởng cho chồng, chứng tỏ thuở trẻ bà đã biết tùy cơ ứng biến, giỏi mưu toan.
Ba năm trong xe tù của Hạng Vũ
Cuộc giằng co giữa Lưu Bang và Hạng Vũ kéo dài, Lưu Bang để Lã Trĩ ở lại quê nhà cùng cha già và con nhỏ. Trong một trận đánh, trưởng công chúa Lỗ Nguyên dẫn em trai Lưu Doanh lẫn trong dân chạy loạn và gặp lại Lưu Bang. Còn cha của Lưu Bang, Lã Trĩ và thuộc hạ Thẩm Thực Kỳ thì bị Hạng Vũ bắt giữ.
Từ tháng năm năm 205 đến tháng bảy năm 203 trước Công nguyên, Lã Trĩ làm tù nhân trong quân Hạng Vũ suốt ba năm. Hạng Vũ nhốt bà cùng cha chồng trong xe tù, thường đặt ở tiền tuyến. Có lần ông còn đào một cái hố lớn trên trận địa, đặt nồi lớn lên, dọa Lưu Bang lui quân bằng không sẽ đem hai người ra chịu hình phạt nấu sống. Mãi đến khi hai bên ký hòa ước ở Hồng Câu chia đôi thiên hạ, Lã Trĩ và cha chồng mới trở về bên Lưu Bang.
Ba năm tù đầy rèn cho bà không chỉ thêm ngoan cường mà còn học được cách co duỗi, giấu tài. Về sau bà trở thành nhà chính trị lớn hoàn toàn không phải điều ngẫu nhiên.
Đường cùng ép ra trí tuệ: chuyện hai anh em trong nhà lao
Cái chết cận kề có thể làm người ta tê liệt, cũng có thể làm đầu óc sáng lên như chưa từng sáng. Điều khác nhau chỉ là người ấy có chịu ngồi yên trong sợ hãi hay không.
Trong cuộc sống, ai cũng có lúc gặp khó khăn dạng này hoặc dạng khác, có người cả đời nhiều lần đối mặt hiểm nguy đến tính mạng. Tục ngữ nói chín phần chết, một phần sống. Chỉ cần đứng trước cái chết mà giữ được bình tĩnh, không để nỗi sợ cuốn đi, người ta có thể tìm ra đường sống. Trần Nghị bị địch vây, thân thể trọng thương, vẫn để lại những vần thơ thể hiện khí phách xem thường cái chết của một chiến sĩ cách mạng. Đứng trước cái chết, mỗi người đều có thể chọn một cách ứng xử cho mình.
Ngày xưa có hai anh em dính vào một vụ án. Họ rõ ràng oan, nhưng đối diện bọn quan tham thì bất lực. Hai người bị xử tử, giam lại chỉ chờ sáng hôm sau chém đầu giữa đám đông. Mạng sống vô cùng quý báu, mà thời gian còn lại chỉ có một đêm.
Người anh kêu oan, người em lần tay trong bóng tối
Người anh đau khổ, túm chặt cửa nhà lao kêu to oan quá, chúng tôi thật sự không làm điều gì xấu, dù giết chúng tôi cũng là ma chết oan; trên dương gian không kêu được thì xuống âm phủ cũng sẽ đến Diêm vương mà khiếu nại. Người em đứng một bên, không nói gì. Người anh thấy kêu la cũng vô ích, quay sang em: lần này anh em ta hết rồi, sao số phận khổ thế. Anh đưa cho em mẩu bánh duy nhất, bảo em ăn no, chết thì chết, anh còn sống hơn em mấy năm, đừng làm con ma đói.
Người em không ăn, nói anh ơi, bây giờ chưa phải lúc chết, còn mấy canh giờ nữa mới sáng, sao anh cứ nói chết, sao ta không nghĩ cách? Người anh càng tuyệt vọng: cái chết đã rơi xuống đầu, trời sáng là bị chém, còn cách gì mà nghĩ. Anh lại giục em ăn bánh.
Lúc ấy người em đẩy tay anh ra, nhận thấy cạnh mình có một đống rơm, bèn lần theo đống rơm dò dẫm tiến lên. Trong lòng anh nghĩ: chỉ cần còn một phần vạn hy vọng sống thì cũng phải nghĩ cách sống tiếp. Qua đống rơm, anh phán đoán gian nhà lao này rất có thể là một chuồng súc vật; quả nhiên ở phía đống rơm anh sờ thấy phân gia súc.
Anh vừa chau mày đã nảy ra mưu kế, kéo người anh bò lên phía trước. Anh đoán đã là chuồng súc vật thì phải có máng ăn, mà máng ăn thì phần giữa rỗng. Anh nói với người anh: chúng ta có cách rồi. Hai người kéo nhau đi dọn máng ăn, liều mạng cào đất, cuối cùng từ dưới đáy máng đào được một lối thông ra ngoài. Trước khi trời sáng, họ dìu nhau trốn thoát.
Chuyện ấy cho thấy gặp khó khăn lớn đến đâu cũng không nên mặt ủ mày chau. Dù bị cái chết đe dọa cũng đừng tuyệt vọng; còn một tia hy vọng là phải dốc hết sức mà đi tới để giành lấy.
Nguồn: Tư Mã Sơn Nhân, Âm Dương Kinh.
