Bài tổng quan
Thái Tuế nên tọa, Tam sát nên hướng: hai thần sát ngược nhau
Người tuổi Dần dựng nhà hướng Dần, đến năm Thân thì Thái Tuế đã bước vào nhà. Thái Tuế đóng một phương, Tuế Phá chiếm phương đối diện, Tam sát bắn khí từ phía bên kia sang, và cách tránh của chúng lại trái ngược nhau đến mức chỗ này nên ngồi thì chỗ kia…
Mỗi năm có một phương mang khí lực mạnh hơn mọi phương khác, và đối diện với nó là một phương chịu sức xung phá nặng nề nhất. Người làm nhà phải biết hai phương ấy nằm ở đâu, vì cùng một chỗ đất, chỗ này đặt cửa thì lợi, chỗ kia đặt cửa thì hại, mà đúng sai chỉ cách nhau một ý niệm: nên ngồi hay nên hướng.
Thái Tuế: chủ tế của một năm
Thái Tuế là chủ tế của cả năm, cai quản cát hung trong năm đó. Nó nên ở phương tọa mà không nên ở phương hướng. Tránh nó thì tốt, phạm vào nó thì tai họa lớn mà kéo dài. Năm Tý thì Thái Tuế ở phương Tý, năm Sửu thì ở phương Sửu, cứ thế suy đến năm Hợi thì Thái Tuế ở phương Hợi.
Tuế tinh trên trời, Thái Tuế dưới đất
Theo Bạch Hạc Minh, Thái Tuế còn gọi là Tuế Thần. Người xưa cho rằng trên trời có Tuế tinh, tức Mộc tinh, cũng chính là sao Thanh Long, cứ mười hai năm đi hết một vòng trời nhỏ. Dưới mặt đất có Thái Tuế, tức Thái Âm, đi theo mười hai địa chi, cũng mười hai năm một vòng. Năm Giáp Tý thì Thái Tuế đóng ở cung Tý, năm Ất Sửu thì đóng ở phương Sửu, cứ thế cho đến năm Quý Hợi thì đóng ở phương Hợi.
Phương mà Thái Tuế đóng có lực được tăng mạnh. Năm Giáp Tý, khí trường ở phương Tý cực mạnh; năm Ất Sửu, khí trường ở phương Sửu cực mạnh; năm Quý Hợi, khí trường ở phương Hợi cực mạnh, và tiếp tục như vậy. Nếu ở phương vị khí trường đang mạnh có một động tác như đào móng xây nhà, máy móc chạy, ống khói nhà máy phun khói, thì dòng khí lưu chuyển càng mạnh thêm. Cho nên phương có Thái Tuế nên giữ yên chứ không nên động.
Tuổi sinh xung Thái Tuế
Điều gọi là "niên canh xung Thái Tuế" là khi Thái Tuế của năm đó xung khắc với năm sinh. Chẳng hạn người sinh năm 1938, tức năm Mậu Dần, có niên canh là Dần. Theo mười hai địa chi, Dần xung với Thân, nên gặp năm Thân là năm "niên canh xung Thái Tuế". Người ấy trong năm Thân phải đặc biệt tránh hành động ở hai phương Dần và Thân, nếu không rất dễ gặp trắc trở.
Lại như người sinh năm Dần dựng nhà hướng Dần: gặp năm Thân, Thái Tuế đến Thân, nghĩa là Thái Tuế vào nhà, người tuổi Dần ở ngôi nhà ấy bị xung phạm Thái Tuế, dễ gặp tai họa. Vì vậy người sinh năm Dần không nên lấy chính năm sinh của mình để lập hướng. Theo con giáp, người tuổi Tý không nên mở cửa hay lập hướng nhà theo hướng Tý; người tuổi Sửu không nên mở cửa hay lập hướng nhà theo hướng Sửu, và tương tự với các tuổi khác, vì không nên phạm Thái Tuế.
Thái Tuế trong cách lập sơn hướng của Huyền Không
Đối với phái Huyền Không, khi tọa sơn lập hướng phải đặc biệt chú ý phương Thái Tuế đến. Lấy ví dụ người sinh năm 1936 dựng nhà sơn Tý hướng Ngọ. Thái Tuế của năm đó đóng ở phương Tý, tức là phạm Thái Tuế. Khi ấy thuộc vận 4, sao hướng đóng ở hướng là Tam, là hướng thoái khí; sao sơn ở hướng là Ngũ, phạm "Ngũ Hoàng chính quan sát". Phi tinh lưu niên của năm ấy có Ngũ Hoàng đến hướng, phi tinh lưu niên của năm sau có Ngũ Hoàng đến sơn. Sau khi dựng nhà vào ở, không những gia đình hao tổn nhân đinh mà còn gặp nhiều tai họa.
Phương Thái Tuế đến vốn có khí trường cực mạnh, bản thân nó không phân tốt xấu; chỉ tùy vào việc dùng đã thỏa đáng hay chưa. Dùng đúng phép thì vượng càng thêm vượng, như gấm thêu hoa. Dùng sai phép thì như bị trói tay chân, đã buồn lại càng buồn thêm. Nhà vượng sơn vượng hướng, năm vào ở mà Thái Tuế đang ở phương vượng thì đúng là vượng thêm vượng. Nhà thượng sơn hạ thủy, năm vào ở mà Thái Tuế đang ở phương hướng (hoặc phương sơn) thì xấu càng thêm xấu.
Hai cách dùng Thái Tuế
Thái Tuế được vận dụng theo hai cách: Thái Tuế địa bàn và Thái Tuế phi tinh.
Thái Tuế địa bàn là Thái Tuế hiện trên bàn hậu thiên bát quái, còn gọi là bàn nguyên đán. Trên bàn này có mười hai địa chi; mỗi năm Thái Tuế lần lượt trực ở một địa chi, mười hai năm đi hết một vòng.
Thái Tuế phi tinh thì chỉ phái Huyền Không mới dùng. Chín cung phi tinh lưu niên mỗi năm có một sao bay vào trung cung, tám sao còn lại lần lượt bay vào tám cung, nên sao ở từng cung mỗi năm một khác, chín năm đi hết một vòng. Năm Giáp Tý, Thái Tuế địa bàn ở phương Tý; nếu năm đó Nhất Bạch nhập trung cung thì Thái Tuế cũng theo Nhất Bạch mà trực ở cung giữa. Nếu năm đó Nhất Bạch bay đến phương Cấn thì Thái Tuế cũng theo Nhất Bạch bay đến Cấn; nếu bay đến Chấn thì Thái Tuế cũng đến Chấn. Cứ thế suy ra: Nhất Bạch bay đến đâu, Thái Tuế bay đến đó, đó gọi là Phi Thái Tuế (Thái Tuế bay).
Cũng vậy, năm Ất Sửu, Thái Tuế địa bàn ở phương Sửu; Sửu ứng với số Bát, nên Thái Tuế bay theo Bát mà bài bố vào cung vị của nó. Năm Đinh Mão, Thái Tuế địa bàn ở phương Mão, Mão ứng với Tam, Thái Tuế bay theo Tam. Năm Mậu Thìn, Thái Tuế địa bàn ở phương Thìn, Thìn ứng với Tứ, Thái Tuế bay theo Tứ. Các năm khác cũng suy theo cách ấy.
Như vậy quỹ tích đi của Thái Tuế có hai loại: Thái Tuế địa bàn đi theo vòng tròn, còn Phi Thái Tuế đi theo quỹ tích "lượng thiên xích". Chỉ đến năm Ngũ Hoàng thổ tinh nhập trung cung thì Thái Tuế địa bàn và Phi Thái Tuế mới trùng lên nhau.
Tuế Phá: phương đối diện của Thái Tuế
Nơi dương khí dồn tụ bao giờ cũng có một nơi đối diện gom hết âm khí về mình, hai bên giằng nhau như hai đầu của một sợi dây căng.
Cung đối của Thái Tuế là Tuế Phá. Phương có Thái Tuế bay tới mang khí dương cực mạnh, thì cung đối của nó mang khí âm cực mạnh. Đó là hai cung vị âm dương đối lập, tương khắc tương xung. Dùng đúng phép thì như gấm thêu hoa, dùng sai phép thì như đưa giáo cho giặc.
Bạch Hạc Minh nhắc rằng trên lịch vạn niên thường ghi câu "Nhật trực Tuế Phá, đại sự bất nghi", tức khi Tuế Phá trực ngày nào thì việc lớn không nên làm, khuyên người ta không phạm vào ngày ấy, phương ấy. Nhưng xét ở một phương diện khác, Tuế Phá vẫn có cái hay riêng. Năm Tý, Thái Tuế ở phương Tý thì Tuế Phá ắt ở phương Ngọ. Khi đó, mọi ngày có địa chi là Ngọ như Giáp Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ, Nhâm Ngọ đều là ngày Tuế Phá, khí âm cực mạnh. Phạm vào thì dễ gặp tai họa, nhất là người tuổi Tý.
Tam sát: ba sát khí của bốn phương
Bốn phương mỗi nơi gom một thứ khí, và có những năm khí ấy mạnh đến mức bắn thẳng sang phương đối diện.
Thế nào là tam sát
Tam sát gồm Tuế sát, Kiếp sát và Tai sát. Vì ba sát nằm ở những vị trí cách nhau, nên hai thiên can bị kẹp ở giữa cũng mang sát khí, gọi là "giáp sát" hay "tọa sát". Tam sát có hai loại: "niên tam sát" (tam sát của năm) và "nguyệt tam sát" (tam sát của tháng).
"Sát" là sự tương xung tương khắc của hai cung đối nhau, từ đó sinh ra hung họa. Theo số sinh thành của bát quái tiên thiên, Nhất Lục hợp là thủy, ở phương bắc, nên phương bắc tụ thủy khí. Nhị Thất hợp là hỏa, ở phương nam, nên phương nam tụ hỏa khí. Tam Bát hợp là mộc, ở phương đông, nên phương đông tụ mộc khí. Tứ Cửu hợp là kim, ở phương tây, nên phương tây tụ kim khí. Ngũ Thập hợp là thổ, ở trung ương, nên trung ương tụ thổ khí. Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là năm loại khí. Những khí ở vị trí đối nhau có tính chất trái ngược, nhờ tác dụng của thổ mà tương khắc tương xung, sinh ra hung sát.
Tuy vậy, khí của hai cung đối nhau khắc nhau không phải lúc nào cũng xung ra sát. Chỉ khi vào những năm tháng mà khí ấy thịnh vượng thì mới thành.
Mộc khí ở phương đông: năm Hợi, Mão, Mùi
Mộc khí của phương đông vượng nhất vào năm Mão, vì năm Mão đúng lúc Thái Tuế đến Mão làm mộc khí thêm mạnh. Theo quy luật sinh trưởng của mộc, mộc sinh ở Hợi, vượng ở Mão, ẩn ở Mùi. Sinh ở Hợi, mộc được sinh khí, lại thêm Thái Tuế đến Hợi nên sinh khí rất mạnh. Vượng ở Mão, lại thêm Thái Tuế đến Mão nên vượng khí càng vượng. Ẩn ở Mùi, lại thêm Thái Tuế đến Mùi nên mộ khí của mộc rất thịnh. Hợi, Mão, Mùi hợp thành cục mộc tam hợp; ba năm này, mộc khí tụ ở phương Mão, xung chiếu sang kim khí ở cung đối diện. Kim mộc đấu nhau, xung sát rất mạnh, cho nên các năm Hợi, Mão, Mùi có xung sát ở phương tây.
Thủy khí ở phương bắc: năm Thân, Tý, Thìn
Thủy khí của phương bắc vốn sinh ở Thân; thủy được sinh khí, lại thêm Thái Tuế đến Thân nên sinh khí cực vượng. Thủy vượng ở Tý, thêm Thái Tuế đến Tý nên vượng khí càng thêm vượng. Thủy ẩn ở Thìn, thêm Thái Tuế đến Thìn nên mộ khí của thủy cực thịnh. Thân, Tý, Thìn hợp thành cục thủy tam hợp. Ba năm này, thủy khí tụ ở phương bắc, xung chiếu sang hỏa khí ở cung đối diện; thủy hỏa đấu nhau, xung sát rất mạnh, cho nên các năm Thân, Tý, Thìn hung sát ở phương nam.
Kim khí ở phương tây: năm Tỵ, Dậu, Sửu
Kim khí của phương tây vốn sinh ở Tỵ; thêm Thái Tuế đến Tỵ nên sinh khí rất thịnh. Kim vượng ở Dậu, thêm Thái Tuế đến Dậu nên vượng khí càng vượng. Kim ẩn ở Sửu, thêm Thái Tuế đến Sửu nên mộ khí của kim cực thịnh. Tỵ, Dậu, Sửu hợp thành cục kim tam hợp. Ba năm này, kim khí tụ ở phương Dậu, xung chiếu sang mộc khí ở cung đối diện; kim mộc đấu nhau, xung sát rất mạnh, cho nên các năm Tỵ, Dậu, Sửu hung sát ở phương đông.
Hỏa khí ở phương nam: năm Dần, Ngọ, Tuất
Hỏa khí của phương nam sinh ở Dần; thêm Thái Tuế đến Dần nên sinh khí cực thịnh. Hỏa vượng ở Ngọ, thêm Thái Tuế đến Ngọ nên vượng khí càng vượng. Hỏa ẩn ở Tuất, thêm Thái Tuế đến Tuất nên mộ khí của hỏa cực thịnh. Dần, Ngọ, Tuất hợp thành cục hỏa tam hợp. Ba năm này, hỏa tụ ở phương Ngọ, xung chiếu sang thủy khí ở cung đối diện; hỏa thủy đấu nhau, xung sát rất mạnh, cho nên các năm Dần, Ngọ, Tuất hung sát ở phương bắc.
Nguyệt tam sát theo từng tháng
Sát khí dời chỗ theo tháng thì gọi là "nguyệt tam sát"; nguyên lý tạo sát giống như niên tam sát. Cụ thể:
- Tháng Thân, Tý, Thìn (tháng 7, tháng 11, tháng 3): sát ở ba phương Tỵ, Ngọ, Mùi, tức phương nam.
- Tháng Dần, Ngọ, Tuất (tháng 1, tháng 5, tháng 9): sát ở ba phương Hợi, Tý, Sửu, tức phương bắc.
- Tháng Tỵ, Dậu, Sửu (tháng 4, tháng 8, tháng 12): sát ở ba phương Dần, Mão, Thìn, tức phương đông.
- Tháng Hợi, Mão, Mùi (tháng 10, tháng 2, tháng 6): sát ở ba phương Thân, Dậu, Tuất, tức phương tây.
Thái Tuế ở tọa, Tam sát ở hướng
Thông thường, các phương vị của niên tam sát và nguyệt tam sát đều không nên tọa sơn lập hướng, để khỏi bị khí xung sát gây họa. Nếu hoàn cảnh khách quan buộc phải lập hướng để tu sửa xây dựng, thì phải nắm chắc tính chất kiêng kỵ của Tam sát. Phương thuộc Thái Tuế có thể ở tọa mà không thể ở hướng; phương Tam sát có thể ở hướng mà không thể ở tọa. Hai loại thần sát này trái ngược nhau.
Ví dụ vào các năm Thân, Tý, Thìn (hoặc tháng Thân, Tý, Thìn), làm nhà có thể lấy hướng theo hai trong ba phương đó, và tránh phương Thái Tuế bay đến. Nếu Thái Tuế đến Thân thì có thể chọn hướng ở hai phương Tý hoặc Thìn; nếu Thái Tuế ở Tý, có thể chọn hướng ở Thân hoặc Thìn; nếu Thái Tuế ở Thìn, có thể chọn hướng ở Thân hoặc Tý. Đó gọi là có thể ở hướng.
Vì sao không thể ở tọa? Bởi tai họa của phương Tam sát ắt hướng về cung đối diện; nếu cung đối diện bị khí ấy xung chiếu thẳng vào, tức phạm xung sát, tai họa đến ngay. Ví dụ các năm Thân, Tý, Thìn mà dựng nhà tọa nam hướng bắc, cửa quay thẳng về phương bắc, thủy khí mạnh của phương bắc xung chiếu thẳng xuống phương nam, đúng vào cửa bắc, đó gọi là "tọa sát": tai họa xông vào nhà, nhất là với người có năm sinh thuộc hỏa.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
