Bài tổng quan
Bắc Đẩu thất tinh đả kiếp: cướp khí tương lai qua bốn vị trí
Một ngôi nhà đang ở vận này mà dám vay trước khí của hai vận sau, nghe như chuyện đánh cướp giữa ban ngày. Vậy mà người xưa dặn rằng chỉ cần hai cung giữa bàn hợp nhau thành mười là khí của ba vận nối liền. Nhưng vì sao cuộc Tý Ngọ của vận Năm lại được coi là kỳ diệu hơn cả…
Mục lục · 6 phần
- 01Biết ba quẻ phụ mẫu chưa đủ, còn phải biết đánh cướp khí của bảy sao
- 02Hai cung Khảm Ly là nơi thật sự đả kiếp
- 03Tam ban quái và phụ mẫu tam ban quái khác nhau chỗ nào
- 04Vì sao cuộc Tý Ngọ của vận Năm kỳ diệu đến thế
- 05Hợp với Hà Đồ Lạc Thư và không chỉ giới hạn ở hai cung giữa
- 06Chân đả kiếp, giả đả kiếp và cái cửa Kiền Tốn
Biết ba quẻ phụ mẫu chưa đủ, còn phải biết đánh cướp khí của bảy sao
Thiên Ngọc kinh có một câu mà người học Huyền Không nào cũng gặp:
Biết được ba bạn quái phụ mẫu thì lộ ra đường của chân thần; phép Bắc Đẩu thất tinh đả kiếp cần phải tương hợp với cung Ly.
Họ Tưởng chú rằng bàn mà biết được ba quẻ phụ mẫu đã là lộ chân thần, nhưng phải biết phép "thất tinh đả kiếp" thì phần tinh yếu của tam ban quái mới nhận được tác dụng cao nhất.
Họ Chương giải thẳng: phụ mẫu là phụ mẫu đi qua bốn vị trí; tam ban là ba bạn đi một vòng, từ Khảm đến Tốn, từ Tốn đến Đoài, rồi Đoài lại về Khảm. Bắc đẩu là khí lập cực theo thời gian. Thất tinh là từ hiện tại đếm ngược tới vị trí thứ bảy. Chỗ nào ngũ hành trái với khí lập cực thì dễ phát họa; cần phải hợp nhau để họa biến thành phúc. Thuyết này ít người biết. Bọn Doãn Nhất Thược không hiểu nên đoán xiên, cho rằng chẳng liên quan tới tinh yếu của phép đả kiếp.
Chỉ có họ Ôn mới thấu: sáng tỏ bí quyết Huyền Không tam ban đại quái, đi qua bốn vị trí mà khởi phụ mẫu, nếu lại thông cả lý sinh khắc chế hóa của hình khí sơn thủy thì chẳng phải nhận được tác dụng cao nhất sao. Từ hiện tại đếm tới vị trí thứ bảy: Nhất đếm ngược tới Tứ (Nhất, Cửu, Bát, Thất, Lục, Ngũ, Tứ), Tứ đếm ngược tới Thất (Tứ, Tam, Nhị, Nhất, Cửu, Bát, Thất), đều là vị trí thứ bảy; Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu cũng bày cùng hàng. Ly với Kiền Chấn, Khảm với Tốn Đoài, thảy đều có tam ban quái tới là Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu.
Ngũ hành chỗ này trái với khí lập cực thì dễ phát họa. Ví như thượng nguyên vận 1, ngũ hành Huyền Không của lập cực há có thể tương hợp với ngũ hành Huyền Không của lập cực ở trung nguyên vận 4 và hạ nguyên vận 7. Nguyên vận đã trái nhau thì hình khí hóa phát họa; muốn chuyển thành phát phúc thì vị trí sơn hướng chỗ nào cũng phải hợp nhau mới cát. Thuyết này do họ Chương làm sáng tỏ.
Hai cung Khảm Ly là nơi thật sự đả kiếp
Tóm lại, cái thật sự có năng lực đả kiếp là hai cung Khảm Ly. Kinh nói "cung Ly cần tương hợp" chính là chỉ điều này. Lấy Tý Quý của cung Khảm và Ngọ Đinh của cung Ly mà xét: phi tinh sơn hướng ở vận 5 thì đáo sơn đáo hướng, ở vận 1 và vận 9 thì đả kiếp. Còn Nhâm Bính (sơn Nhâm hướng Bính) và Bính Nhâm (sơn Bính hướng Nhâm) thì ở vận 5 là thượng sơn hạ thủy, ở vận 1 và vận 9 chỉ có Nhị Nhất đáo sơn hướng nên không thể luận là khí của tương lai, vì phạm phản ngâm phục ngâm.
Phi tinh của các vận 2, 8, 3, 7, 4, 6 đều một vận bay thuận, một vận bay nghịch; thuận thì từ Ly tới Khảm, nghịch thì từ Khảm tới Ly. Đó đúng là loại khí lưu chuyển có thể từ vận hiện tại mà cướp khí của tương lai. Như Tý Ngọ trên bàn phi tinh vận 1 (sơn Tý hướng Ngọ), hoặc Ngọ Tý trên bàn phi tinh vận 1 (sơn Ngọ hướng Tý), đều có hai chữ đáo sơn hoặc đáo hướng, nên hai chữ ấy là khí của tương lai được cướp để dùng trong vận 1. Vận 2 thì Nhâm Bính hay Bính Nhâm, Tý Ngọ hay Ngọ Tý, Quý Đinh hay Đinh Quý đều có ba chữ đáo sơn hoặc đáo hướng; ba chữ ấy là khí của tương lai được cướp để dùng trong vận 2. Các vận khác cứ theo thế mà suy.
Phải để ý khoảng cách bốn vị trí nơi cướp khí tương lai thông thoáng hay bế tắc. Cho nên phải dựa vào cách cuộc Loan Đầu mà vận dụng Lý Khí; hơi sai là dễ sinh tai họa. Hai loại nhà ở của người sống và người mất (dương trạch và âm trạch) theo hướng nam bắc có rất nhiều vật do tạo hóa bổ trợ, huyền diệu lại thêm huyền diệu, khó mà lường hết. Sơn hướng do tạo hóa (núi non đẹp, sông nước hữu tình) cũng có thể đem áp dụng phép đả kiếp, chỉ có điều công hiệu không lớn bằng hai cung Khảm Ly.
Tắc Tiên nhận xét: câu "cướp khí của tương lai" ở đây là chủ ý của Thẩm công khi nói về vận, và là lời đáp cho Tào Thu Tuyền hỏi nguồn gốc việc cướp khí tương lai. Thượng nguyên cướp khí của trung nguyên, trung nguyên cướp khí của hạ nguyên; ý nghĩa của việc đi qua bốn vị trí là để lại cho người sau một chuẩn mực đẹp.
Tam ban quái và phụ mẫu tam ban quái khác nhau chỗ nào
Viên Hương Khê đã đọc nhiều năm về thất tinh đả kiếp, nay nhiều nghi vấn được gỡ, nhưng còn hai điều: một là tam ban quái với phụ mẫu tam ban quái có khác nhau không, hai là bắc đẩu đả kiếp thực căn cứ vào lẽ gì?
Đáp: hai loại ấy khác nhau. Phụ mẫu tam ban quái là Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu. Ví như vận 1, Nhất vào trung cung thì Nhị Ngũ Bát nằm ở ba phương Kiền, Ly, Chấn; Tam Lục Cửu nằm ở ba phương Đoài, Khảm, Tốn; Nhất ở giữa. Cấn Khôn là cửa sinh tử nên Tứ Thất ắt phải nằm ở Cấn Khôn. Cách nói thông thường "trải qua bốn vị trí mà khởi phụ mẫu" tức là đi qua bốn vị trí để khởi phụ mẫu của tam ban quái. Còn tam ban quái là Nhất Nhị Tam, Nhị Tam Tứ, Tam Tứ Ngũ, Tứ Ngũ Lục, Ngũ Lục Thất, Lục Thất Bát, Thất Bát Cửu, Bát Cửu Nhất; các tam ban quái này thích dụng với hai thần linh và chính, rõ ràng có khác.
Còn bắc đẩu đả kiếp thì đầu mối đã lộ trong Dịch Vĩ, tóm lại là chỗ Ly Cửu Khảm Nhất hợp thành mười trong hậu thiên bát quái (vận 5 hợp thập). Các vận 1, 2, 3, 4 tuy không đối đãi hợp thập, nhưng khi biến hóa thì trung cung với Khảm nhất định hợp số sinh số thành:
- Nhất vào trung cung, cung Khảm là Lục: Nhất Lục cùng họ.
- Nhị vào trung cung, cung Khảm là Thất: Nhị Thất đồng đạo.
- Tam vào trung cung, cung Khảm là Bát: Tam Bát là bạn bè.
- Tứ vào trung cung, cung Khảm là Cửu: Tứ Cửu là bằng hữu.
Với các vận 6, 7, 8, 9, số trung cung nhất định hợp với số sinh thành của cung Ly: Lục vào trung cung, cung Ly là Nhất (Nhất Lục); Thất vào trung cung, cung Ly là Nhị (Nhị Thất); Bát vào trung cung, cung Ly là Tam (Tam Bát); Cửu vào trung cung, cung Ly là Tứ (Tứ Cửu). Dịch học gọi đây là "tham ngũ", lấy số biến hóa thông nhau mà thành văn vẻ của trời đất, định tượng của thiên hạ. Ai ngộ được điều này sẽ biết cách nghiên cứu phong thủy Huyền Không. Từ đó suy ra, phi tinh sơn hướng trong vận 5 thành một cách cuộc kỳ diệu không thể nghĩ bàn.
Vì sao cuộc Tý Ngọ của vận Năm kỳ diệu đến thế
Hương Khê lão nhân hỏi tiếp vì sao lại kỳ diệu như vậy. Câu đáp: "Bắc đẩu đả kiếp" được họ Tưởng xem là thừa tiếp tác dụng cao nhất; lý của nó không ngoài hai chữ sinh thành, sinh là nhân, thành là quả. Phàm muốn thành cuộc "bắc đẩu đả kiếp" thì phi tinh sơn hướng và thiên bàn phải nhất quán một khí; như thế gọi là hiểu lý hai chữ nhân quả. Trung cung (trung cung Lạc Thư là Ngũ) đột kích Khảm mà được Nhất, đều nằm giữa số sinh và số thành cộng thành mười. Các ví dụ vận 1 sơn Tý hướng Ngọ, vận 2 sơn Nhâm hướng Bính, vận 3 sơn Tý hướng Ngọ, vận 4 sơn Nhâm hướng Bính đều cho kết quả ấy. Vận 4 (trung cung Lạc Thư là Ngũ) đột kích Tốn được Tứ để tới vận 5. Sơn Tý hướng Ngọ tuy không phải là đả kiếp, nhưng vận tinh đáo sơn đáo hướng nên cũng thần diệu không lường được.
Vận 5: Ngũ của phi tinh ở sơn đột kích Khảm, Ngũ đáo tọa, Lục đáo hướng, Nhất Lục là cùng họ; Nhất của trung cung cũng hợp số sinh thành với Lục ở đầu hướng. Ngũ của phi tinh ở hướng đột kích Ly, Ngũ đáo hướng, Tứ đáo tọa, Tứ Cửu là bạn bè; Cửu của trung cung cũng hợp số sinh thành với Tứ ở dưới tọa. Sơn hướng cùng Ngũ ở giữa hợp thành mười; trung cung lại được hai số Nhất và Cửu. Nhờ đó thấy Nhất là số khởi đầu, Cửu là số cuối cùng. Đó là nói đại lược về thất tinh đả kiếp.
Tam ban quái nhất định phải "tham ngũ" sơn hướng. Trong bốn thần, vận 1 thì tam ban quái là Cửu Nhất Nhị; vận 2 là Nhất Nhị Tam; vận 3 là Nhị Tam Tứ; vận 4 là Tam Tứ Ngũ; còn vận 5 thì cả bốn thần đều hợp tam ban quái Tứ Ngũ Lục, thần diệu hơn các vận khác. Ngũ ở đầu hướng đột kích Cửu, Ngũ ở tọa sơn đột kích Nhất; Lục với Tứ giao hợp thành mười. Ngũ với Ngũ vốn đã hợp mười, nay đột kích Nhất hay đột kích Cửu cũng hợp mười. Trung cung cũng hợp mười. Cho nên cuộc Tý Ngọ của vận Năm, học giả đã biết sự kỳ diệu của nó thì những cuộc còn lại cũng như chẻ tre.
Hợp với Hà Đồ Lạc Thư và không chỉ giới hạn ở hai cung giữa
Hồ Bá An hỏi: nói cho cùng, phép bắc đẩu đả kiếp có hợp lý Hà Lạc không? Đáp: rất hợp. Nói "bắc đẩu đả kiếp" không chỉ là ba cung ở giữa Khảm và Ly, mà là mọi chỗ hợp số sinh thành, như hai cung Kiền Chấn hợp thành tam ban quái. Ví dụ hiện giờ vận 2 sơn Nhâm hướng Bính dùng đả kiếp được:
- Phi tinh Nhị của thiên bàn vào trung cung gặp Thất của cung Khảm: Nhị Thất đồng đạo.
- Phi tinh Lục ở hướng vào trung cung, Nhất đáo Khảm: Nhất Lục cùng họ (nghĩa là phi tinh Nhất ở hướng hợp số sinh thành với Lục của thiên bàn ở phương Ly).
- Phi tinh Thất ở sơn vào trung cung, Nhị đáo Ly: Nhị Thất đồng đạo (phi tinh Nhị ở hướng hợp số sinh thành với Thất của thiên bàn ở phương Khảm).
- Cung Kiền là Ngũ, cung Chấn là Bát, cùng với Nhị của phi tinh ở hướng hợp thành tam ban quái Nhị Ngũ Bát.
Tóm lại: lập cực là Nhất, cung Khảm là Lục thì Nhất Lục đồng tông; lập cực là Nhị, cung Khảm là Thất thì Nhị Thất đồng đạo; lập cực là Tam, cung Khảm là Bát thì Tam Bát là bạn bè; lập cực là Tứ, cung Khảm là Cửu thì Tứ Cửu là bằng hữu. Lục, Thất, Bát, Cửu vào trung cung thì cung Ly là Nhất, Nhị, Tam, Tứ, đều hợp số sinh thành. Phi tinh sơn hướng cũng sinh thành hợp mười, tức âm dương hòa hợp, cương nhu giúp nhau, dù chẳng đáo sơn đáo hướng cũng không sao.
Có người hỏi phép này có phải chỉ dùng hai cung Khảm Ly không. Đáp bằng ví dụ vận 1, sơn Tý hướng Ngọ: phi tinh ở sơn bay thuận, Nhị tới sơn, Nhị là Mùi, tức khí của tương lai. Phi tinh sơn hướng ở cung Kiền là Tứ Thất, ở cung Chấn là Thất Tứ, ở cung Ly là Nhất Nhất, hợp thành tam ban quái Nhất Tứ Thất; đó chính là ý nghĩa của việc đi qua bốn vị trí, cho nên Quý Đinh, Thìn Tuất, Canh Giáp cũng dùng được. Còn bảo phi tinh sơn hướng Thìn Tuất Canh Giáp không có Nhị tới thì làm sao cướp được khí tương lai? Thế là không biết ba phương Ly Kiền Chấn đều hợp Nhất Tứ Thất, tức vận của ba nguyên thượng, trung, hạ đã có thể tiếp xúc với chỗ cùng loại bàng thông, vì sao lại không đả kiếp được.
Chân đả kiếp, giả đả kiếp và cái cửa Kiền Tốn
Hàn Côn Nguyên và Tào Thu Tuyền hỏi vì sao đọc chú giải của họ Chương lại không hiểu, dù trước kia nghe thầy giảng đã rõ. Thẩm Trúc Nhưng đáp: họ Chương chú thông suốt rõ ràng, chỉ có điều ông không nói rõ khẩu quyết nên người ta sinh nghi. Tháng trước ông ở Tô Ngô, nhà hậu nhân của Chương Trọng Sơn, lúc đó cũng còn hoang mang về phép đả kiếp, sau đọc lời giải của ông mới ngộ ra.
Hai cung Kiền Tốn là cửa trời, cửa đất, rất liên quan tới phép đả kiếp. Hai cung Khảm Ly, trừ vận 5, vận nào cũng một thuận một nghịch. Phàm vượng tinh đáo hướng mà phi tinh ở Kiền tương hợp với cung Ly thì là chân đả kiếp. Nếu vượng tinh đáo hướng mà phi tinh ở hướng Tốn tương hợp với cung Khảm thì là giả đả kiếp. Tương hợp tức là các tam ban quái Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu. Các cuộc Bính Nhâm, Nhâm Bính của vận 1 và vận 9 không đả kiếp được, vì Nhất là số khởi đầu, Cửu là số cuối cùng, khí của chúng không tránh khỏi không tinh ròng mà phạm phản ngâm phục ngâm.
Gặp chân đả kiếp thì mộ tự phát phúc, nhìn tổng quát phải xét hình thế ở Kiền (thiên môn) mà định. Giả đả kiếp cũng có lúc dùng được, chỉ cần xét hình thế ở Tốn (địa hộ). Nếu ở vận Ngũ Hoàng vào trung cung, cuộc Tý Ngọ hoặc Ngọ Tý thì đó là thái cực, là hoàng cực, quý báu vô cùng. Ái tinh của nó là Nhị Ngũ Bát, phi tinh của nó là Tam Lục Cửu và Nhất Tứ Thất, khí tràn đầy trong bàn; phi tinh của hai cung Kiền Tốn lại là Nhị Bát, cùng với Ngũ ở trung cung hợp thành Nhị Ngũ Bát. Có cuộc đất như thế thì phải táng ngay cho kịp lúc, tốt không kể xiết.
Nếu được tám sơn hướng Mão Dậu, Dậu Mão, Ất Tân, Tân Ất, Thìn Tuất, Tuất Thìn, Sửu Mùi, Mùi Sửu thì gọi là "tam nguyên bất bại". Tám sơn hướng ấy đều là vượng sơn vượng hướng, họ Tưởng cho rằng nó có tác dụng cao nhất.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
