Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Bếp, nhà xí, chia phòng, con đường, giếng, tháp và cầu

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202614 phút đọc0 lượt đọc
Bếp, nhà xí, chia phòng, con đường, giếng, tháp và cầu

Một ngôi nhà dựng ở vận này, xây thêm ở vận kia, rồi chia cho con cháu, thì còn lấy bàn sao nào mà đoán? Miệng lò hướng nào cát, nhà xí đặt đâu, đường, giếng, tháp, cầu rơi vào cung nào đều có lời đoán riêng. Đến cả bảng hiệu chói sáng chiếu thẳng vào cửa cũng có tên gọi…


Cửa vượng, hành lang tối và những chỗ khí lạc lối

Cửa ở phương vượng mà nền cửa cao hơn nền nhà

Ngoài phương cửa vượng có nước thì vốn là đại cát. Nhưng nếu nền đất ở cửa lại cao hơn nền nhà thì tuy có vượng thủy vẫn không hút được vượng khí; nền cửa cao hơn nền minh đường bên trong cửa cũng vậy. Còn nếu con đường bên ngoài cao hơn thì luận khác. Bạch Hạc Minh giải thích: con đường là "hư thủy", nước giả chứ không phải nước thật, cho nên cao hơn nền nhà cũng không sao.

Hành lang u ám

Trong nhà có hành lang không thấy ánh nắng mặt trời thì luận là âm khí. Nếu hai sao Nhị Hắc và Ngũ Hoàng bay đến phương ấy thì trong nhà có người tâm thần hoảng loạn; không có hai sao này cũng không tốt. Bạch Hạc Minh nói Nhị Hắc được gọi là bệnh phù, còn Ngũ Hoàng là Liêm Trinh chủ tai ách bệnh tật.

Đặt bếp

Bất kể phương sinh vượng hay suy tử đều có thể làm nhà bếp, nhưng nếu tránh được phương sinh vượng thì nên tránh. Bếp lấy miệng lò làm trọng, còn tọa triều của nhà bếp thì không cần hỏi. Miệng lò hướng Nhất Bạch là thủy hỏa ký tế; hướng Tam Bích, Tứ Lục là mộc sinh hỏa; đều là bếp cát. Miệng lò hướng Bát Bạch là hỏa sinh thổ, trung cát; Cửu Tử cũng luận là thứ cát, nhưng bếp rất sợ hỏa quá thịnh. Miệng lò không nên hướng Lục Bạch và Thất Xích vì hỏa khắc kim. Cũng không nên hướng Nhị Hắc và Ngũ Hoàng, vì Nhị Hắc là bệnh phù, Ngũ Hoàng là ôn dịch.

Như nhà làm ở vận Nhất Bạch, đến vận 8, vận 9 đặt bếp vẫn phải dùng phi tinh ở hướng của vận Nhất Bạch. Riêng phương có phi tinh Cửu Tử thì rất kỵ đặt bếp, vì hỏa quá thịnh, sợ gặp hỏa hoạn. Bạch Hạc Minh tóm lại: điều trọng yếu nhất khi đặt bếp là hướng của miệng lò; kỵ nhất là Nhị Hắc, Ngũ Hoàng, Lục Bạch, Thất Xích, hướng Cửu Tứ cũng không nên, còn các sao khác đều được. Về phi tinh thì lấy phi tinh ở hướng để tính.

Nhà xí

Chỗ ô uế không nên để gần. Ngũ Hoàng gia lâm chủ ôn dịch, Nhị Hắc bay tới cũng là bệnh tật. Nhà xí nên đặt ở phương thoái khí và đặt xa. Bạch Hạc Minh nhắc rằng Nhị Hắc và Ngũ Hoàng kỵ nhất gặp vật ô uế.

Xây thêm, chia phòng và nhiều gia đình chung một mái

Một ngôi nhà được dựng ở vận này, sửa sang ở vận kia, rồi chia cho con cháu, hỏi ngôi sao nào còn là của nó?

Xây thêm vào vận khác

Nhà dựng cùng một vận thì dĩ nhiên lấy căn chính làm chủ. Chẳng hạn vận sau xây thêm một gian ở trước, sau hay bên hông mà không mở cửa khác thì vẫn luận theo vận đầu, không cần bày hai tinh bàn. Còn nếu xây thêm mà mở cửa khác để đi lại thì mới bày hai vận. Vì vận sau xây thêm lại đổi cửa mới nên toàn căn nhà có thể luận theo vận sau.

Bạch Hạc Minh đưa ví dụ: nhà xây ở vận 1 là nhà vận 1; đến vận 2 xây thêm một gian bên trái nhưng cửa lớn vẫn như cũ thì vẫn xem là nhà vận 1. Nếu xây thêm một gian bên trái, thiết kế thêm một cửa ra vào khác, thì gian nhà ấy thuộc vận 2. Còn nếu xây thêm bên trái, dời cửa chính sang gian mới và bít cửa cũ lại không dùng, thì cả căn nhà thành nhà vận 2, tinh bàn lấy vận 2 làm chủ.

Bày sao khi chia phòng

Nhà dựng ở một vận nào đó, đến vận sau mới chia ra hai phòng thì vẫn lấy vận lúc xây ban đầu làm chủ, còn lấy cửa riêng của hai bên làm dụng. Tinh vận định trạch ban đầu không đổi vì việc chia phòng. Sau khi chia phòng có thể lấy tinh khí cục bộ của từng phòng để đoán cát hung; chia phòng trong cùng một vận cũng vậy. Có thể xem thêm trường hợp nhà ở Cối Kê, vận 7, tọa Tý hướng Ngọ kiêm Quý Đinh, trong Trạch Đoán của Chương Trọng Sơn.

Bạch Hạc Minh giải thích: trong một ngôi nhà lớn, nếu có hai gia đình cùng ở thì lấy hai cửa riêng của mình làm chủ, cửa lớn làm thứ. Chuyện bày tinh bàn không đổi vì chia phòng; con cháu trong nhà lớn khi lập gia đình dĩ nhiên mỗi người ở một phòng riêng. Ví dụ nhà vận 1 sơn Tý hướng Ngọ, sang vận 2 chia phòng thì vẫn tính theo tinh bàn của nhà vận 1; mỗi phòng lấy sao ở cung nơi cửa trong và cửa ngoài của phòng ấy.

Nhiều gia đình ở chung, và nhà chia thành nhà riêng

Khi nhiều gia đình cùng ở trong một nhà, lấy cửa riêng của mỗi gia đình làm chủ, lấy đường đi chung của các gia đình làm dụng, xem con đường suy vượng xa gần để biết khí của họ thân hay sơ, được hay mất. Bạch Hạc Minh nói ý nghĩa giống điều trên.

Một tòa nhà chia thành nhiều nhà riêng, mỗi nhà có cửa đi riêng, thì theo cửa riêng mà đoán. Nhưng vẫn bày chung một tinh bàn toàn thể, không đoán thành nhiều tinh bàn riêng cho từng nhà. Bạch Hạc Minh nhận xét: trong một tòa nhà lớn, dù có bao nhiêu gian phòng vẫn luận là một trạch; ruộng đất của một ngôi nhà lớn cũng thế.

Gặp tù mà không tù

Khi hướng tinh nhập trung cung, nếu nhà vào vận 2, 4, 6, 8 thì gặp tù mà không tù. Vì sao? Vì trung cung có minh đường trống trải, có thể luận là nước, hướng tinh nhập vào nước nên tù mà không tù. Nếu nhà vào vận 1, 3, 5, 7 thì trung cung là nhà, nên nhập trung cung là tù. Nhưng nếu ở hướng có nước hở thì cũng là tù mà không tù. Bạch Hạc Minh giải thích: với nhà vào vận 2, 4, 6, 8, thiên tỉnh ở chính giữa là hư thủy cho nên không tù. Còn nhà vào vận 1, 3, 5, 7 thì chính giữa là nhà, trừ khi ở hướng thấy nước, nếu không vẫn tính là vận nhập tù.

Hiệu buôn

Khi xem hiệu buôn, lấy hướng cửa làm chính, kế đến quầy thu ngân, rồi chỗ đặt tượng thần tài. Tất cả đều cần ghép với phương sinh vượng. Nếu cửa cát, quầy hung, thần tài hung thì trong cát có tì vết, chủ về nhiều chuyện bất hòa với bạn bè hoặc gặp trở ngại trong công việc. Khí suy vượng đều thu từ hướng cửa. Bạch Hạc Minh chia phong thủy hiệu buôn làm ba phần quan trọng: cửa phải nạp được vượng khí; quầy thu ngân hoặc máy thu tiền phải ở vị trí cát; tượng thần tài cũng nên đặt trong phương cát.

Cát hung của phương vị nhô cao

Phương cát của nhà mà nhô cao lên, nếu được phi tinh lưu nguyệt bay tới sinh trợ thì càng cát; nếu bị khắc hay bị tiết thì hung. Ngược lại phương hung mà nhô cao, gặp phi tinh lưu nguyệt đến khắc hay tiết thì lại tốt, đến sinh trợ thì hung. Đây là nói về phương vị của long thần ở sơn.

Bạch Hạc Minh nói phương vị long thần ở sơn là chỉ sơn tinh, và nêu hai ví dụ. Ví dụ một: vận 7 tọa Dậu hướng Mão, phương tọa Dậu có núi cao, long thần ở sơn trên tinh bàn là Thất Xích. Phi tinh lưu nguyệt Bát Bạch thổ, Lục Bạch kim, Thất Xích kim bay đến sinh trợ nên luận cát; Cửu Tử hỏa đến khắc hoặc Nhất Bạch thủy đến tiết thì luận hung, vì vượng khí bị tiết giảm. Ví dụ hai: vận 7 tọa Tốn hướng Kiền, phương tọa Tốn có núi cao, long thần ở sơn là Ngũ Hoàng, mà Ngũ Hoàng ở vận 7 là khí suy tử. Phi tinh lưu nguyệt Tam Bích mộc, Tứ Lục mộc, Lục Bạch kim và Thất Xích kim bay tới Tốn thì luận cát, vì sao suy tử bị khắc chế mà đổi thay. Nếu phi tinh lưu nguyệt là Cửu Tử hỏa, Nhị Hắc thổ, Bát Bạch thổ, Ngũ Hoàng thổ bay tới Tốn thì luận hung, vì sao suy tử được nâng đỡ.

Cây, nước, đường, tháp và những vật quanh nhà

Tre trúc che lấp

Phương vượng của dương trạch mà bị cây cối che lấp thì đã không cát, tre trúc thì càng khỏi nghi ngờ; nhưng cũng nên trồng thưa, vì trúc làm thông khí. Các phương suy tử cũng không nên có tre trúc. Bạch Hạc Minh giải thích: phương vượng có trúc mà thưa thì không cản vượng khí. Còn phương hung vì sao cũng không nên? Vì phương hung không nên có thực vật, nếu không sẽ bất lợi cho chủ nhà. Tre trúc là thực vật thuộc âm, gặp quẻ âm thì chủ tâm thần hoảng loạn hoặc bệnh ngầm đeo vào thân.

Phương suy Nhất Bạch

Phương Nhất Bạch là phương suy khí của dương trạch. Nếu có xương mái nhà kế cận xung chiếu thì chủ về bị nước xâm hại mà chết; nếu là đầu thú thì còn nặng hơn. Bạch Hạc Minh nói Nhất Bạch là quẻ Khảm, chủ nước, ở vận 2 và vận 3 là lúc sát tinh rất mạnh; gặp đầu thú, xương mái nhà xung chiếu thì người trong nhà sẽ mang bệnh. Ngày nay phương suy Nhất Bạch bị cột đèn hay bảng hiệu chói sáng chiếu thẳng vào cũng ứng nghiệm như vậy.

Đoán vượng tài, đinh và công danh

Xem tài khí thì căn cứ hướng nước hoặc nước bên cạnh, phương nào vượng thì thêm Thái Tuế để đoán. Xem công danh thì căn cứ hai phương có hướng tinh Nhất Bạch và Tứ Lục, xét nơi có núi hoặc chỗ nước giao hội, lưu thần uốn khúc, thêm Thái Tuế để đoán hợp niên mệnh. Xem đinh khí thì căn cứ phương tọa của nhà và sơn tinh đương vận. Điều này ứng nghiệm như thần.

Bạch Hạc Minh giải thích: núi cai quản nhân đinh, nước cai quản tài lộc, cho nên đoán tài vận phải chú trọng thủy pháp. Sức ảnh hưởng của nước ở phương hướng rất lớn; nước ở các phương bên cạnh, nếu hợp bí quyết thành môn, thì sức ảnh hưởng cũng không nhỏ. Thái Tuế nói ở đây là Thái Tuế phối với hai mươi bốn sơn của địa bàn. Huyền Cơ phú nói đại ý rằng việc đỗ đạt nổi danh là nhờ sao Tham Lang ở cung Tốn. Tham Lang là Nhất Bạch, cung Tốn là Tứ Lục. Nếu phương Nhất Bạch, Tứ Lục có núi hình mộc, thẳng mà không vuông vức, thì sẽ có người thành tựu công danh. Phối Thái Tuế với niên mệnh để suy ra người công danh thành tựu sinh năm nào là phép của âm trạch; còn dương trạch vận dụng khó hơn, vì xã hội ngày nay một nhà có khi ba bốn gia đình, người có học khá nhiều nên khó đoán ứng vào ai. Phép đoán nhân đinh là xét phương vị có núi, cũng phải phối Loan Đầu với sao ở phương tọa để suy.

Khách tinh của năm trùng sao suy tử ở hướng

Khí suy tử của dương trạch đến hướng là chữ nào, gặp phi tinh lưu niên đến hướng cũng đúng chữ ấy thì chủ tổn hại người. Vượng tinh không đến hướng, gặp vượng tinh lưu niên đến hướng cũng riêng chủ phát họa. Âm trạch cũng đoán như vậy. Bạch Hạc Minh nêu hai ví dụ. Một: năm Kỷ Tỵ, Nhị nhập trung cung, sao Lục Bạch đến hướng; phương hướng Lục Bạch của nguyên cuộc ở vận 7 là thoái khí, mà phi tinh lưu niên năm Kỷ Tỵ lại là Lục Bạch thoái khí đến hướng, tức sao thoái khí chồng lên nhau, nên chủ tổn hao người. Hai: năm Tân Mùi, Cửu nhập trung cung, sao Thất Xích đến hướng; phương hướng Tam Bích của nguyên cuộc là khí suy tử, nay vượng tinh lưu niên bay tới (Thất Xích ở vận 7 là vượng tinh) cũng chủ phát tai họa.

Ám thám sa

Phương suy tử bên ngoài nhà có núi cao hoặc xương mái nhà, bên trong nhà lại u tối thì là sa "ám thám". Khi nhà tới vận suy thì chủ về tinh thần hoảng loạn, quẻ âm hay quẻ dương đều là thần sát. Nhưng phải đến giờ, ngày, tháng Thái Tuế gia lâm mới ứng. Bạch Hạc Minh nói: sau ngọn núi mà có một ngọn khác cao hơn nhô lên thì gọi là sa "ám thám" hay sa "thám đầu"; sau một tòa nhà lớn mà nhô lên xương mái của một nhà khác thì cũng gọi như thế.

Khí của con đường

Con đường là cội nguồn để khí vào nhà, thu suy hay vượng đều do nó. Đường cách xa nhà thì ảnh hưởng ít nhưng cũng kỵ xung chiếu; gọi là "xuyên sa", có hung mà không cát, cả hai trạch âm dương đều luận như vậy. Nhà gần đường và đường trong nhà rất quan hệ đến cát hung, nên đường trong nhà nên chọn phi tinh ở hướng là phương sinh vượng, hợp cuộc tam ban thì tốt. Con đường bên ngoài cũng cần luận từng đoạn quanh co, xem nó rơi vào sao quẻ nào. Chỗ uốn khúc là nơi khí đến, chỗ thẳng ngang là nơi khí dừng; phép này liên quan đến sao bày ở phương vị hướng cửa. Thiên Nguyên Ngũ Ca nói: nhà cát mà đường hung thì cũng là lỗi.

Bạch Hạc Minh giải thích: "xuyên sa" tức là "thương sát". Nếu hợp cuộc tam ban quái và phương sinh vượng mà thấy xuyên sa thì lại luận cát, đó là ý "xung chiếu vào cung tốt thì quý giá vô cùng". Ví dụ nhà là hạ quái Kiền Tốn vận 7, cũng là tam ban quái; phương Tốn là vượng tinh, thấy đường thì luận cát. Còn phương Khảm và phương Đoài là đoạn đường thẳng ở hai đầu, tức là nơi khí dừng; gần phương Kiền là đoạn đường uốn khúc, luận là nơi khí tới.

Giếng nước

Giếng là nguồn của thủy quang, khí ngưng tụ rồi bay lên; ở phương sinh vượng của long thần nước bao bọc thì luận là văn bút. Rơi vào phương suy tử khắc sát thì chủ hung họa; âm trạch cũng đoán như vậy. Bạch Hạc Minh nói giếng là nơi của chân thủy, chuyên phụ trách tài vận, lại có hình tượng nổi lên nên khi sinh vượng thì luận về văn bút; sao của nó là Nhất và Tứ.

Tháp

Dáng tháp đẹp gọi là "văn bút". Ở phương có phi tinh Nhất Tứ, Nhất Lục đương vận thì chủ khoa danh đỗ đạt; thất vận cũng chủ về văn tài. Nếu ở phương vị có phi tinh Thất Cửu, Nhị Ngũ thì chủ hung họa; khắc sát cũng đoán như vậy. Âm trạch cũng luận như trên. Bạch Hạc Minh nhận xét: ngày nay tháp điện hay ống khói vốn có thể xem là văn bút, nhưng đáng tiếc ống khói thì phun ra vật ô uế, nên gọi là "hỏa nhiễu văn bút"; ở gần tháp điện cũng luận là hung.

Cầu

Cầu ở phương sinh vượng thì nhận được sự ngầm giúp; rơi vào phương suy tử thì chiêu tai ương. Cầu đá lực lớn, cầu gỗ lực yếu. Hai trạch âm dương đoán giống nhau. Bạch Hạc Minh nói ngày nay các loại cầu vượt dành cho người đi bộ hay cho xe chạy đều được luận là cầu.

Góc chữ điền

Nhà cần hoàn cảnh Loan Đầu bên ngoài ôm lấy một cách hữu tình, kỵ quay lưng hoặc xung chiếu thẳng tới. Hai trạch âm dương luận đoán giống nhau. Có nhà bị góc chữ điền xung chiếu thẳng, có nhà bị góc chữ điền quay lưng, gọi là "suy hối".

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia