Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Ngũ Hoàng, vận khắc long và lẽ táng phải đúng thời

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202612 phút đọc0 lượt đọc
Ngũ Hoàng, vận khắc long và lẽ táng phải đúng thời

Ở vận một, Ngũ Hoàng ngồi ngay phương Ly, và phương ấy lại là chỗ đặt linh thần. Hướng đẹp, vượng tinh đúng chỗ, vậy mà mạch đất chạy tới huyệt vẫn có thể khiến con cháu tuyệt tự. Cùng một huyệt, người này táng thì ra vương hầu, người kia táng thì ra đạo tặc…


Hai mươi bốn cuộc có Ngũ Hoàng ngự ở ngôi linh thần

Ngũ Hoàng của thiên bàn là nơi đặt linh thần. Trong tam nguyên cửu vận, trừ ngôi lập cực của vận 5, có tất cả hai mươi bốn cuộc như vậy. Vận 1 là Bính, Ngọ, Đinh. Vận 2 là Sửu, Cấn, Dần. Vận 3 là Canh, Dậu, Tân. Vận 4 là Tuất, Kiền, Hợi. Vận 6 là Thìn, Tốn, Tỵ. Vận 7 là Giáp, Mão, Ất. Vận 8 là Mùi, Khôn, Thân. Vận 9 là Nhâm, Tý, Quý.

Chương Trọng Sơn xếp những cuộc này vào phép "Ngũ lý sơn". Theo họ Chương, trong cung ấy lấy chữ thuộc âm làm chính hướng và không lập kiêm hướng. Chẳng hạn vận 1 lấy sơn Tý hướng Ngọ hoặc sơn Quý hướng Đinh: Nhất nhập trung cung bay thuận thì Ngũ tới Ly, nên Ngọ âm là chính hướng; ta vẫn lấy Ngũ nhập trung cung đi nghịch để vượng tinh Nhất tới hướng. Các vận và các hướng còn lại làm tương tự. Ông dẫn lời kinh Bảo Chiếu:

Chữ ở trước đầu chạy tới Ngũ lý sơn, gặp lúc khách chủ giao nhau.

Đó là cách họ Chương coi Ngũ như nguồn gốc của chính hướng. Nhưng nếu rơi vào vận 5 thì lấy gì mà dùng? Chính ông cũng nói rằng dùng kỳ Cấn, kỳ Khôn chỉ là phép cứng nhắc. Ở vận 1, Nhất nhập trung cung, tám phương phối với số sinh thành thì chỉ thiếu mỗi Khảm Nhất, cho nên vận 1 lấy Ngũ làm kỳ Khảm; các vận khác cũng không khó suy ra. Huyền quan của vận 5 cũng không ngoài trường hợp phi tinh của sơn và hướng khuyết một chữ, phải lấy kỳ ở Ngũ mà dùng. Từ đó thấy Ngũ Hoàng không có chính vị riêng, mà phải chia theo lẽ của kỳ trong hai mươi bốn sơn.

Ngũ của vận bàn và âm dương của hướng

Ngũ của vận bàn liên hệ rất lớn đến việc ra vào, nhất là với âm dương của hướng. Hướng âm đi nghịch thì vượng tinh đáo hướng. Nếu toàn bàn cùng địa quái hợp thành mười thì tuy gọi là phản ngâm, ngay lúc đương thời vẫn phát vượng.

Có một điều không thể bỏ qua: hướng dương đi thuận thì vượng tinh lên sơn, và nếu chữ nào cũng giống địa quái thì phạm cách toàn bàn phục ngâm. Vì vậy sơn và hướng cùng bày trong một bàn là điều phải cân nhắc. Mười hai cuộc hướng âm của vận 5, đáo sơn đáo hướng, cuộc nào cũng có Ngũ, nhưng Ngũ phi tinh ở đây là vượng tinh đương lệnh, không phải loại Ngũ đã nói ở trên. Hướng tinh Ngũ Hoàng nhập trung cung được gọi là hoàng cực ngự ở chính vị, chí đại chí tôn, có gặp tù cũng chẳng kể là tù. Còn nếu nó bay ra ngoài cung thì thành Liêm Trinh, bất kể sinh hay khắc, nó đến đâu là hung đến đó, cho nên chỉ nên tĩnh, không nên động. Nếu Ngũ là sao Mậu Kỷ đại sát thì dù thể và dụng đều đúng phép, hễ nó đến chỗ ngả ba nước thì e sinh nhiều chuyện; nếu lại có phi tinh lưu niên thần cùng đến, thì phải lo bệnh tật làm tổn thương người. Ngạn ngữ có câu nói về nơi này là "đến chỗ nào cũng chẳng lưu tình", hung họa là điều chắc chắn.

Linh thần của ba vận đầu

Bạch Hạc Minh giải thích rằng tam nguyên cửu vận lấy phương có Ngũ Hoàng của thiên bàn làm phương linh thần. Vận 1, phương Ly gồm ba sơn Bính, Ngọ, Đinh là nơi Ngũ Hoàng chiếm giữ, cũng là phương linh thần. Vận 2, phương Cấn gồm ba sơn Sửu, Cấn, Dần là nơi Ngũ Hoàng ngự. Vận 3, phương Đoài gồm ba sơn Canh, Dậu, Tân là nơi Ngũ Hoàng ngự. Các vận còn lại làm theo đó.

Mượn Ngũ Hoàng để kiêm ra khỏi cung

Có một ngoại lệ hiếm hoi khiến hướng xuất quái vẫn đứng được, nhưng nó đòi một điều kiện khắt khe và mang theo cái giá nếu làm sai.

Khi lập hướng ra khỏi quái, nếu chữ đầu hướng nhập trung cung và vòng Ngũ Hoàng luân chuyển đúng lúc lâm vào phương kiêm thì hướng ấy có thể dùng. Ví dụ cuộc vận Nhất Bạch, tọa Hợi, hướng Tỵ kiêm Nhâm Bính: vận tinh Nhất nhập trung cung, Cửu tới hướng, Cửu là Đinh âm đi nghịch nên Cửu vẫn nhập trung cung và Nhất đáo hướng; Ngũ Hoàng bày tới vị trí Ly thì hướng Tỵ kiêm Bính dùng được.

Nhưng ở phía sơn của cuộc này phải dùng sao thế. Tuy tránh được lỗi hạ thủy, song thiên bàn Nhị tới sơn, Nhị là Thân đương, Thân lấy Nhất nhập trung cung, bày tại sơn Nhị thì Nhất, vốn là lệnh tinh của thiên tâm chính vận, không được đáo sơn mà phải vào trung cung. Đó gọi là sao Đinh nhập tù. Hơn nữa đi thuận thì từng chữ đều giống vận tinh, cũng gọi là toàn bàn phục ngâm. Vì vậy cuộc này chỉ đưa ra để làm tư liệu đối chứng, người hiểu việc không bao giờ chọn. Hàm nghĩa của tá trợ không phải là bỏ Ngũ làm kỳ vượng, nhưng Ngũ cũng khác với việc Ngũ không bị tù. Xuất cung mà không biến thì quái khí đã tạp, chỉ nên dựa vào cuộc đất mà lập; nếu mượn Ngũ để gượng ép thì phải cảnh giác.

Ghi chú dưới hình: vận 1 tọa Hợi hướng Tỵ kiêm Nhâm Bính vốn là hướng xuất quái, luận hung. Nhưng phương Bính của cuộc này có Ngũ Hoàng bày tới, mà Ngũ Hoàng là sao hoàng cực, trong trường hợp ấy mới dùng được xuất quái kiêm hướng. Nếu phương Bính không có Ngũ Hoàng thì không thể kiêm, kiêm là phạm hướng xuất quái.

Cả pháp Huyền Không chỉ cần thông một quẻ

Kinh Bảo Chiếu viết:

Bí quyết thiên cơ huyền diệu vốn không giống nhau, trong tám quẻ chỉ cần thông một quẻ.

Huyền Không đem bát quái phối với cửu cung, nhưng khi vận dụng chỉ cần chú trọng một quẻ: chữ của thiên tâm chính vận nhập trung cung, cũng là quẻ mà vượng tinh của bản vận đáo hướng. Cứ theo chỗ được âm dương, rồi xét sự lưu chuyển của chín sao: Kiền, Khôn, Cấn, Tốn đóng ở vị trí nào, Ất, Tân, Đinh, Quý rơi vào cung nào, Giáp, Canh, Nhâm, Bính đứng ở đất nào, dò theo đó thì biết được sự được mất của núi và nước, xét được sự suy vượng của tám cung, đoán cát hung họa phúc như thần.

Bạch Hạc Minh nói rõ rằng hai chữ "nhất quái" trong câu kinh là quẻ của đương vận, cũng chính là chính thần. Vận 1 thông quẻ Khảm, Khảm là sao Nhất Bạch Tham Lang. Vận 2 thông quẻ Khôn, Khôn là sao Nhị Hắc Cự Môn. Vận 3 thông quẻ Chấn, Chấn là sao Tam Bích Lộc Tồn. Các vận còn lại cứ theo đó suy ra.

Vận khắc long, long khắc vận: cuộc tốt vẫn có thể hỏng ở mạch đất

Hướng đẹp, vượng tinh đúng chỗ, vậy mà con cháu vẫn tuyệt tự; nguyên do nằm ở thế núi chạy tới huyệt.

Lập được cuộc vượng sơn vượng hướng vốn là đại cát, nhưng còn phải quan sát đoạn long mạch sát huyệt có bị "khắc" hay "tiết" không. Vận khắc long gọi là khắc, long khắc vận gọi là tiết. Gặp khắc thì tuyệt tự, gặp tiết thì suy bại. Đó là bí quyết sinh khắc chế hóa.

Lấy ví dụ vận Cửu Tử, lập sơn Ngọ hướng Tý. Vượng tinh đáo hướng thì ai bảo là không cát? Nhưng nếu long mạch theo phương Đoài nhập thủ, vận tinh ở sơn là Tứ, Tứ là Tốn thuộc dương. Tứ nhập trung cung đi thuận thì Lục tới Đoài; Lục là Kiền kim, nghĩa là vận hỏa khắc kim long. Long mạch ấy chủ tuyệt tự. Gặp loại "long lai" như vậy thì nên lập Ngọ Tý kiêm hướng, còn ở sơn thì dùng sao thế: Tứ của vận bàn biến thành Vũ Khúc, Lục đương dụng nhập trung cung đi thuận, Kiền kim của Đoài biến thành Cấn thổ. Như vậy không những tránh được cái khắc, mà còn được diệu dụng vận hỏa sinh long thổ, chủ khí vận con cháu rất thịnh. Đó là phép xu cát tỵ hung của Huyền Không. Một ví dụ khác: vận Cửu gặp Nhất Bạch long thì là long khắc vận. Các trường hợp còn lại suy theo.

Năm quan hệ giữa vận và mạch

Bạch Hạc Minh nhắc rằng khi tọa sơn lập hướng, ngoài việc cho lý khí khớp với hoàn cảnh Loan Đầu để thu sơn xuất sát, còn phải xem quan hệ ngũ hành sinh khắc giữa thế núi đến và thời vận.

  • Vận khắc long: chủ tổn đinh.
  • Long khắc vận: chủ phân tán đinh.
  • Vận sinh long: chủ vượng đinh.
  • Long sinh vận: chủ phân tán đinh.
  • Long và vận cùng hành: chủ vượng đinh.

Ở ví dụ vận 9 sơn Ngọ hướng Tý, nhìn hình đồ thì vượng tinh đáo hướng nên là cuộc cát. Nhưng nếu thế núi đến từ phương Đoài, tức đi từ Đoài sang Chấn, thì sơn tinh phương Đoài là Lục, Lục là Kiền kim, tức "lai long" là kim long. Vận 9 thuộc hỏa, phạm hỏa vận khắc kim long: táng ở đó thì tổn đinh, ở nhà thì khắc đinh. Nếu thế núi đến từ phương Ngọ, sơn tinh ở Ngọ là Bát, Bát là Cấn thổ, tức long thổ; vận 9 hỏa sinh long thổ nên táng thì vượng đinh, ở nhà thì thêm đinh. Nếu thế núi đến từ phương Khôn, sơn tinh ở Khôn là Nhất, Nhất là Khảm thủy, tức thủy long; thủy long khắc hỏa vận làm long hao khí, nên người suy nhược. Bởi vậy khi tọa sơn lập hướng cũng phải để ý tới mối quan hệ giữa long và vận.

Đất bằng, mạch lệch và lối lập hướng một trong một ngoài

Mạch đến đã không thuần thì hướng phải gỡ lại cho thuần, nhưng gỡ bằng cách nào mà không phải bỏ cả cuộc đất?

Kinh Bảo Chiếu có câu:

Chữ Tý ra khỏi mạch thì tự tìm Tý, chớ chỉ người ta sai lầm đi tìm ở Sửu và Nhâm.

Từ đó thấy mạch đến thuần thanh là tốt nhất. Không chỉ riêng việc ra khỏi quẻ là điều cấm kỵ, mà trong một cung cũng không nên có cảnh Nhâm thuộc dương, Tý thuộc âm đứng chung. Sơn huyệt đã gặp cảnh ấy thì nên cứu cái lệch bằng cách lập một hướng thuần thanh. Còn nếu cuộc đất có tọa và triều nghiêng lệch, quẻ hướng không chính, thì chỉ được lập một quẻ nội hướng thuần thanh, ngoại hướng vẫn lập theo lối xuất quái để khớp với đường cuộc. Ngạn ngữ ví điều này như câu "trong nhà cất một đấu vàng ròng, ngoài thì bịt miệng thiên hạ".

Ngoại hướng dùng lối thay thế cũng như thừa lúc đương lệnh mà hợp vận. Ở vùng đất bằng thì lấy nước làm chứng cho long mạch và lấy nước để hạn định khí. Nước tụ với núi vòng mà chẳng phải cốt nhục một nhà thì không quý; chỉ cần lập hướng đón long, để nước chầu hữu tình, là có thể nhận được tam cát ngũ cát. Nhưng cũng cần tâm sáng mắt tinh để hợp Loan Đầu với Lý Khí làm một.

Bạch Hạc Minh tóm lại: lập hướng không nên phạm hướng ra khỏi quái và lỗi âm dương khác nhau, chỉ nên thanh thuần. Ngoài ra còn phải phối hợp hỗ tương giữa hình thế Loan Đầu và Lý Khí.

Huyệt đã chân vẫn phải táng đúng thời

Định huyệt lập hướng quý ở chỗ hình dừng khí tụ, đúng cuộc chính huyệt; đó là điều không thể đổi. Nhưng nếu muốn cuộc đất thật đẹp mà không biết dùng đúng lúc thì cũng vô ích, có khi còn sinh họa; dù phát nhất thời, về sau cũng điên đảo. Tưởng Đỗ Lăng nói: cùng một huyệt ấy, ta táng thì ra vương hầu, người khác táng thì ra đạo tặc. Ý của lời ấy rõ ràng chỉ việc cát hung họa phúc gắn với chỗ thiên tâm được hay mất. Nếu chỉ nhìn hình thế lớn nhỏ để cân phúc dày hay mỏng thì sai.

Thật ra long chân huyệt vốn đã có sơn hướng tự nhiên của nó, không nên cố tước bỏ cái sẵn có mà gượng lập vượng hướng, cũng không nên bỏ qua thời gian của nguyên vận mà dựng quẻ, kẻo phạm lỗi đất tốt mà táng hung. Như Trình Tử nói, chưa đúng thời thì chưa táng là hay nhất. Đạo Địa Lý phải xem hình thế và khí thế trọng như nhau, không được lệch về thể hay về dụng. Long chân huyệt là căn cơ cố định của cái cây phát phúc; còn lập hướng nạp khí mới là chủ tế của việc đón thần vào huyệt, là bộ máy chấp chưởng việc chiêu nhiếp dương thần. Cho nên táng không đúng thời thì tinh suy vận đổi, và việc nó biến thành hung thật khó lường.

Bạch Hạc Minh giải thích: cho dù Loan Đầu đẹp đến đâu cũng phải xác lập tuyến vị của đương vận, nếu không rất dễ sinh hung họa. Loan Đầu ảnh hưởng đến sự thành tựu của hậu nhân, còn việc xác lập tuyến vị là điều quyết định cuộc đất. Khi đương vận không hợp thời thì chẳng những không ra vĩ nhân mà có khi còn phát sinh hung họa. Vì thế Tưởng Đỗ Lăng mới nói: cùng huyệt ấy, ta táng thì ra vương hầu vì đúng vận, người khác táng thì ra đạo tặc vì thất vận.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia