Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Tam sát vì sao có thật, và song sơn, nạp giáp, Kỳ Môn bị đọc lệch

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202611 phút đọc0 lượt đọc
Tam sát vì sao có thật, và song sơn, nạp giáp, Kỳ Môn bị đọc lệch

Một người từng học Tam Hợp hơn mười năm kể lại điều ông thấy khi bỏ nó: cái gọi là tam sát hóa ra có một gốc rất rõ, chỉ là chưa ai chịu nói ra. Từ gốc ấy, ông lần lại cách người ta hiểu sai song sơn, nạp giáp và chín cung Kỳ Môn. Vậy tam sát thật sự là gì?


Tam Hợp bắt đầu từ Hoài Nam Tử và cái lý thật của tam sát

Cổ Bộ Vi nói với Thẩm Trúc Nhưng rằng mình vốn rất xem thường thuyết Tam Hợp, nhưng thấy khá nhiều người theo, nên nghĩ thuyết này hẳn phải có nghĩa lý nào đó, xin thầy giảng cho tường tận.

Ông đáp: thuyết Tam Hợp xuất hiện trong Hoài Nam Tử, đã xưa lắm. Đầu mối tinh vi nhất của thuyết Hoài Nam chẳng qua là dùng lời "tam sát", ngoài ra đều vô dụng. Chính ông từng học theo phái Tam Hợp hơn mười năm, năm tháng chồng chất, kể ra còn nhiều hơn thời gian học Huyền Không; đến nay mới biết thuyết này không có lý lẽ làm chỗ dựa, thật đáng tiếc. Ngay cả thuyết "tam sát", phần liên quan nhiều nhất với môn kham dư, cũng chỉ gói trong bốn câu:

Thân Tý Thìn niên tam sát tại nam; Tỵ Dậu Sửu niên tam sát tại đông; Dần Ngọ Tuất niên tam sát tại bắc; Hợi Mão Mùi niên tam sát tại tây.

Nghĩa là năm Thân Tý Thìn thì tam sát ở phương nam, năm Tỵ Dậu Sửu ở phương đông, năm Dần Ngọ Tuất ở phương bắc, năm Hợi Mão Mùi ở phương tây. Người Tam Hợp giải: Thân Tý Thìn hợp cuộc thủy, thủy khắc hỏa nên sát ở nam; Tỵ Dậu Sửu hợp cuộc kim, kim khắc mộc nên sát ở đông; Dần Ngọ Tuất hợp cuộc hỏa, thủy hỏa tương khắc nên sát ở bắc; Hợi Mão Mùi hợp cuộc mộc, kim mộc tương khắc nên sát ở tây. Họ chỉ áp dụng hợp cuộc, theo ông là một sự lầm lẫn quá lớn.

Hồ Bá An nhắc rằng trong thời theo Tam Hợp, tiên sinh đã hết sức bác Huyền Không, nhưng vẫn thường nói với ông rằng phép Tam Hợp xem mộ phần phần nhiều bất lợi, người nhà của những ngôi mộ táng theo cách ấy đều tuyệt tự, dường như phép này không đáng tin. Về sau theo Huyền Không mới biết thuyết Tam Hợp vô dụng. Thuyết ngụy kéo dài mấy ngàn năm, nay tiên sinh một lời xóa sạch, thật thích thú.

Hàn Côn Nguyên hỏi: trước đây tôi nghe thuyết Tam Hợp liên quan nhiều tới phương vị của "sát" và họ cho đó là bí quyết quan trọng. Nói cho cùng "sát" là gì, phạm vào thì gặp họa gì?

Ông đáp: theo lý của Dịch, điều mà thế tục gọi là "sát" tức là khí. Khí sinh ở quẻ, nên không rõ những điều gắn với Mậu Kỷ thì không rõ sự tiêu trưởng của âm dương; không biết sự vận hành của Kiền Khôn Cấn Tốn thì không hiểu sự biến hóa của âm dương. "Sát" là khí nên vô hình vô chất, cùng tồn tại với cát tinh trong trời đất. Con người phạm vào cơ vận hành của nó thì ứng theo mà chịu ảnh hưởng. Căn do của nó ở tam hợp. Các tam hợp ấy đều xoay quanh tứ duy, nguồn gốc phát sinh từ sự tương sinh với phương vị cách đó tám vị trí. Rồi ông giải từng nhóm:

  • Năm tháng Thân Tý Thìn thì sát ở phương nam. Thân là dương, dương đi thuận, trong Thân tàng Canh Nhâm; cách tám vị trí là đến Nhâm, dương thủy của cung Khảm. Thìn là âm, âm đi nghịch, trong Thìn tàng Ất Quý; cách tám vị trí là đến Quý, âm thủy của cung Khảm, tương hợp với Tý. Đó là hợp cuộc thủy Thân Tý Thìn: toàn bộ khí tụ ở Khảm, lại âm dương tương chiến nên cực lớn cực cương, xâm phạm cung đối là Ly mà sinh sát. Không chạm tới hai bên trái phải của Ly nhưng hai cung Tốn Khôn cũng bị khống chế, nên năm tháng Thân Tý Thìn thì sát ở ba phương Tỵ Ngọ Mùi.
  • Năm tháng Dần Ngọ Tuất thì sát ở phương bắc. Dần là dương, trong tàng Giáp Bính; cách tám vị trí đến Bính, dương hỏa của cung Ly. Tuất là âm, trong tàng Tân Đinh; cách tám vị trí đến Đinh, âm hỏa của cung Ly, tương sinh với Ngọ. Đó là hợp cuộc hỏa Dần Ngọ Tuất: khí tụ ở Ly, xâm phạm cung đối là Khảm; hai cung Kiền Cấn cũng bị khống chế, nên sát ở ba phương Hợi Tý Sửu.
  • Năm tháng Tỵ Dậu Sửu thì sát ở phương đông. Tỵ là dương, trong tàng Bính Canh; cách tám vị trí đến Canh, dương kim của cung Đoài. Sửu là âm, trong tàng Quý Tân; cách tám vị trí đến Tân, âm kim của cung Đoài, tương hợp với Dậu. Đó là hợp cuộc kim Tỵ Dậu Sửu: khí tụ ở Đoài, xâm phạm cung đối là Chấn; hai cung Cấn Tốn cũng bị khống chế, nên sát ở ba phương Dần Mão Thìn.
  • Năm tháng Hợi Mão Mùi thì sát ở phương tây. Hợi là dương, trong tàng Nhâm Giáp; cách tám vị trí đến Giáp, dương mộc của cung Chấn. Mùi là âm, trong tàng Đinh Ất; cách tám vị trí đến Ất, âm mộc của cung Chấn, tương hợp với Mão. Đó là hợp cuộc mộc Hợi Mão Mùi: khí tụ ở Chấn, xâm phạm cung đối là Đoài; hai cung Kiền Khôn cũng bị khống chế, nên sát ở ba phương Thân Dậu Tuất.

Ông nói với người nghe rằng huynh chuyên trị thuyết Tam Hợp đã lâu, đáng tiếc những nghĩa lý quan trọng này từ xưa đến nay không ai nói cho biết.

Hàn Côn Nguyên bổ sung: thuyết này bắt nguồn từ "Thiên quan ngũ hành" trong Hán thư; họ Tiêu nêu cao nghĩa lớn của ngũ hành mà không thuyết minh tường tận. Không chỉ người theo Tam Hợp cố chấp, ngay cả người học Huyền Không cũng thờ phụng như phép tắc mà chẳng hiểu. Thật ra Thân Tý Thìn, Tỵ Dậu Sửu, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi chính là khí biến hóa lớn của Khảm, Đoài, Ly, Chấn. Từ đó suy ra, mọi thần sát đều có căn cứ chứ chẳng phải nói suông. Bạch Hạc Minh nói đoạn này thuật về "sát", tức "tam sát"; người đọc thường nghe "tam sát vị", xem kỹ đoạn này sẽ rõ căn do tam sát, và căn do ấy liên quan mật thiết tới lý luận Tam Hợp.

Từ tam sát đi sang các khái niệm khác của Tam Hợp, ta gặp ngay hai chỗ bị đọc lệch: "song sơn" và "nạp giáp".

Song sơn và nạp giáp: hai chỗ bị đọc lệch

Có người hỏi "song sơn" là gì. Ông đáp: người theo Tam Hợp giải sai hai câu

Nhị thập tứ sơn song song khởi, thiểu hữu thời sư thông thử nghĩa.

nghĩa là hai mươi bốn sơn cùng khởi lên từng đôi, ít có thầy địa lý nào thông được nghĩa này. Họ không biết "song song khởi" cũng như "sơn sơn khởi", chẳng qua lấy một chữ để nhập trung cung mà thôi. Họ lại gượng ép ghép trường sinh, đế vượng, mộ vào hai mươi bốn sơn, sai lại thêm sai. Họ chia hai mươi bốn sơn làm mười hai cung rồi gán với địa chi: Quý Sửu Tốn Tỵ theo kim; Cấn Dần Tân Tuất theo hỏa; Ất Thìn Khôn Giáp theo thủy; Đinh Mùi Kiền Hợi theo mộc, gọi là "tòng khí". Chẳng hạn Kiền Hợi chung một cung là mộc trường sinh; Giáp Mão chung một cung là mộc vượng; Đinh Mùi chung một cung là mộc mộ khố; họ lấy Hợi Mão Mùi làm tam hợp, rồi ghép Kiền Giáp Đinh lại với nhau mà gọi là "song sơn". Các trường hợp khác suy tương tự.

Về nạp giáp, ông nói phái Tam Hợp rất coi trọng. Nạp giáp là: Kiền nạp Nhâm và Giáp, Khôn nạp Quý và Ất, Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân, Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ, Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh; can dương nạp quẻ dương, can âm nạp quẻ âm. Như long Nhâm thì Nhâm nạp ở cung Ly (quẻ tiên thiên là Kiền, Kiền nạp Nhâm), nên họ lấy hướng Ngọ, coi là dương tinh ròng, để phối, gọi là Khảm Ly tương giao. Họ không biết âm tinh ròng và dương tinh ròng vốn có sẵn ở nguyên vận, không phải một phép cố định. Bạch Hạc Minh chú rằng "phép cứng nhắc" (bản pháp) chỉ phương pháp cố định.

Có một bàn cờ khác trải ra chín cung, nơi những cái tên như "hưu", "khai", "sinh" cũng đứng cạnh những con số quen thuộc.

Kỳ Môn: chín cung, cửa hưu khai sinh và sáu nghi

Về Kỳ Môn, ông nói đó chính là chín cung, và dùng trong bốc trạch chẳng qua để phân định sơn, hướng và việc nhập trung cung; không cần tìm cục Âm tuần hay Dương tuần. Trong tám cửa của Kỳ Môn, cửa hưu, khai, sinh là cát, giống như phép Tử Bạch lấy Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch là cát: hưu tương ứng Nhất Bạch, khai ứng Lục Bạch, sinh ứng Bát Bạch.

Ngũ Hoàng nhập trung cung thì các số đều bất động, gọi là phục ngâm. Hễ nó nhập trung cung thì tám phương bên ngoài tất phải trống một, phương trống ấy gọi là môn (cửa), thật ra là phương Ngũ Hoàng đến. Ví dụ cung Khảm, cửa hưu ở trung cung thì phương Ly tất phải trống, tức Ly là nơi Ngũ Hoàng đến. Cung Kiền, cửa khai ở trung cung thì phương Tốn tất phải trống, tức Tốn là nơi Ngũ Hoàng đến. Các cung khác suy tương tự. Nếu "tam kỳ" tuyệt thể thì tục cho là Họa Hại, Du Hồn; tục cho là Lục Sát, Phúc Đức; tục cho là Diên Niên; còn bản cung thì tục cho là Phục Vị.

Kỳ Môn chú trọng ở kỳ cung, còn thuyết phối với chòm sao Đại Khuê, tức nhị thập bát tú, thì tuyệt chẳng phải loại chỉ báo gì cả. Như tam kỳ thiên là Ất, Bính, Đinh; theo cách bày sáu mươi Giáp Tý thì trong cung Ất không có Lục Giáp, trong cung Bính không có Lục Ất, trong cung Đinh không có Lục Bính mà thôi. Còn lục nghi, tức Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, lấy cung Khảm khởi Giáp Tý bày thuận thì cung Khảm có "Giáp Tý, Quý Dậu, Nhâm Ngọ, Tân Mão, Canh Tý, Kỷ Dậu, Mậu Ngọ", trong đó Mậu Ngọ là một nghi. Nhị Giáp của cung Khôn là Giáp Tuất, Kỷ Mùi là một nghi. Tam Giáp của cung Chấn là Giáp Thân, Canh Thân là một nghi. Tứ Giáp của cung Tốn là Giáp Ngọ, Tân Dậu là một nghi. Ngũ Giáp của trung cung là Giáp Thìn, Nhâm Tuất là một nghi. Lục Giáp của cung Kiền là Giáp Dần, Quý Hợi là một nghi. Đó là cách bày thứ tự rất phổ thông nhưng thật ra không đúng, vì như vậy ba cung Đoài, Cấn, Ly sẽ không có nghi.

Ông giảng chữ "nghi" ở đây: nếu cung Khảm lấy Giáp Tý làm đầu thì sáu số Quý Dậu, Nhâm Ngọ, Tân Mão, Canh Tý, Kỷ Dậu, Mậu Ngọ cùng sánh với Giáp Tý; chữ "nghi" ấy là chữ "nghi" trong "lưỡng nghi". Vì có sáu lần phối Giáp nên gọi là lục nghi. Các cung Khảm, Khôn, Chấn, Tốn và Kiền, cùng trung cung, mỗi cung bảy thời nên được bốn mươi hai thời; ba cung Đoài, Cấn, Ly mỗi cung sáu thời nên được mười tám thời. Cung Đoài bắt đầu từ Canh Tý, cuối ở Ất Mão; cung Cấn bắt đầu từ Tân Mùi, cuối ở Bính Thìn; cung Ly bắt đầu từ Nhâm Thân, cuối ở Đinh Tỵ; ba chữ Ất, Bính, Đinh ở cuối chính là tam kỳ. Trời có tam kỳ, đất có lục nghi, đó là theo Kỳ Môn Độn Giáp.

Phép bày thứ tự của Kỳ Môn chính là phép bày thứ tự các vận "thiên tâm". Ông từng vẽ chín hình đồ phối với Kỳ Môn mới hiểu rõ cách dùng chín vận; thật ra Kỳ Môn và phép bài sao tuy hai mà một. Tóm lại, bí quyết thành môn và bí quyết thu sơn xuất sát đều quan trọng ở chỗ dùng được; mọi thứ còn lại chẳng qua tùy thời mà tô điểm.

Có người hỏi: danh mục của chín cung quá nhiều, làm sao cho dễ nhớ? Ông đáp bằng một biểu liệt kê kỳ môn, cửu tinh, trực phù cho từng cung. Ông còn nhận xét rằng những người theo học thuyết Âm Dương gia lại phối thêm Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh, Thiên Y, Sinh Khí, Du Hồn, Phúc Đức vào các quẻ theo thứ tự tiên thiên, thật rối rắm.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia