Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Tuổi Tỵ Dậu phát, tài tan vì sắc, con thứ đi lính

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202610 phút đọc0 lượt đọc
Tuổi Tỵ Dậu phát, tài tan vì sắc, con thứ đi lính

Cùng một ngôi mộ, người sinh năm Tỵ và năm Dậu làm nên, còn người tuổi Sửu dù tam hợp vẫn đứng ngoài cuộc. Một dòng họ khác giàu lên rồi tan vì chữ sắc; một nhà khác con cả bị thương vì chuyện nam nữ, con thứ bị gọi đi lính rồi mất mạng. Người xưa chỉ cần nhìn một nhịp cầu đá và một dòng nước…


Ngôi mộ sơn Ất hướng Tân: người tuổi Tỵ phát phú, người tuổi Dậu phát tú

Ngôi mộ lập vào vận 2. Nước từ phương Khảm chảy tới rồi thẳng tới Khôn thì thoát đi, và ở hướng cũng có nước. Chương Trọng Sơn nhớ lại việc hạ táng rơi vào tuần Giáp Thân, năm Bính Tuất, lúc Nhị Hắc cầm vận. Lúc ấy là vận của Nhị Hắc, sao Nhị làm chủ sự trong thời gian đó, và cả hai bàn đều đưa Nhị về phía sơn. Song Nhị đến sơn thì phạm cách thủy thần thượng sơn, vốn chủ về hao tài tổn đinh. May là phía sau không có núi chính, lại có sông nước tụ lại, nên điều hung hóa thành cát, như người ta vẫn nói hung có thể chuyển thành cát nhờ cảnh vật bên ngoài. Sau khi táng, gia đạo êm đềm bình thường.

Con cháu về sau vào cuộc tam tiêu Tỵ, Dậu, Sửu: người mạng Tỵ phát về tiền của, người mạng Dậu phát về học vấn. Sang vận Tam Bích, mệnh cuộc là Cửu Tứ, Nhất Cửu cùng tới, mộc và hỏa thông sáng, nên phòng trưởng lập gia đình thì đàn bà nắm quyền; còn phải lo hỏa hoạn vì Tứ Cửu là bạn bè của nhau. Khi Nhất Bạch đến sơn thì phòng trưởng thêm người, phòng thứ có người mạng Dậu phát tài nguyên. Sang vận Tứ Lục thì vận tinh nhập tù, cần đề phòng lời qua tiếng lại, tai họa chốn quan, hao tổn nữ nhân, gia đạo sa sút. Vận Ngũ Hoàng gặp thiên tinh Nhất Bạch tới Khảm thì phòng trưởng có thu có chi, phòng thứ bình thường nhưng thấy nhiều góa phụ. Đến vận Lục Bạch thì đại bại và về sau không còn vận cát.

Vì sao chỉ tuổi Tỵ và tuổi Dậu phát

Tắc Tiên cho rằng hai người tuổi Tỵ, Dậu được đoán dựa vào phi tinh ở hướng của địa bàn. Nhân nguyên long sơn Ất hướng Tân là thuận tử, cùng phụ mẫu có âm dương giống nhau, nên người sinh năm Tỵ và Dậu phát. Tuổi Sửu tuy ở thế tam hợp nhưng âm dương khác biệt nên không phát. Nữ nắm quyền nam, vì trung cung và tọa sơn đều là quẻ âm.

Đến vận Chấn, vượng tinh Tam Bích nhập trung cung nên phòng trưởng thêm người. Năm Kỷ Dậu Nhất Bạch nhập trung cung, vượng tinh Tam Bích đến hướng nên phòng thứ thêm người. Nói chung việc thêm người đều gắn với chuyện vượng tinh giáng xuống. Nhưng khi vào vận suy mà gặp vượng tinh đến sơn, lâm hướng hay ở trung cung thì lại chuyển thành họa hao tổn. Cả hai loại trạch âm dương đều ứng như thế, ấy là lẽ “hư mà không chịu bổ”.

Qua vận 4, địa vận chấm dứt, gia đạo suy bại. Phụ nữ chịu tổn hại vì Tốn là quẻ âm; Lục Thất cùng ở đầu hướng, vận 4 Lục lại đến hướng, quan tinh trùng điệp nên kiêm cả tai họa chốn quan trường và chuyện qua lại thị phi. Vận Ngũ Hoàng, hai cung Khảm Tốn hợp thành Nhất Tứ đồng cung nên ứng chuyện thi cử. Vận 6 đại bại, về sau không còn vận cát vì hướng tinh nhập trung cung, sao không đắc lệnh.

Bạch Hạc Minh làm rõ về tuổi: tra theo đại quái tam nguyên thì Sửu thuộc địa nguyên, Dậu thuộc thiên nguyên, Tỵ thuộc nhân nguyên. Thiên và nhân hai nguyên có âm dương cùng loại nên Tỵ Dậu phát; Sửu thuộc địa nguyên, đem so với âm dương của hai nguyên thiên nhân thì ngược lại, nên không vượng. Còn câu nhân nguyên long sơn Ất hướng Tân thuận tử có nghĩa là quẻ nhân nguyên ở phương vị hướng bay thuận, nên gọi thuận tử.

Mộ họ Tôn sơn Nhâm hướng Bính: tiền nhiều nhưng tan vì chữ dâm

Một dòng nước lớn nằm sai phương không làm giàu cho đúng người, mà đem sự phô trương thành chỗ hỏng.

Ngôi mộ lập vào vận 2. Phía hướng không có nước, chỉ phương Đoài có nước phóng sáng. Chương Trọng Sơn nói những năm đầu tài khí không lớn, về sau vì chữ dâm mà tan tài.

Thẩm Trúc Nhưng giải thích: song Nhị đến hướng, mà hướng không có nước nên tài khí không to. Phương Đoài có hai sao Tứ và có Nhất Cửu; Tứ với Cửu là bạn bè. Song Tứ tức song Tốn, Tốn mộc khắc Nhị thổ ở trung cung, lại khắc cả hai sao Nhị thổ ở hướng. Phương Đoài có nước lớn phóng sáng, Tứ Cửu là âm thần, nên khi thất vận thì vì chữ dâm mà phá tài.

Tắc Tiên nói cuộc này ở hướng không có nước; trong tám phương chỉ Đoài có nước lớn, hiện ra tượng khách đoạt quyền chủ. Đoài là nơi âm thần tụ họp nên đoán liên quan đến nữ sắc. Tốn mộc lại khắc đầu hướng, trung cung là Khôn thổ, nên ngầm lộ ra việc vì sắc mà phá tài. Đây là cách đoán linh hoạt của Huyền Không: phải có đôi mắt nhìn hết tám phương, xét cả sinh khắc giữa các phương vị, đầu hướng và trung cung, bằng không khó suy ra được. Qua vận 4 tài khí thuận lợi vì gọi là Nhất thủy đắc nguyên nên không nhập tù.

Bạch Hạc Minh chỉ ra việc con cháu vì sắc mà phá tài tất sẽ xảy ra ở vận 5, và nêu ba lẽ. Thứ nhất, nước ở Đoài là thủy thoái khí, tức thủy thất vận. Thứ hai, cửu tinh ở Đoài là Tứ; Tứ và Cửu đều là quẻ âm; kinh nói quẻ âm tụ đầy đất thành bầy thì tiền tài rỗng không vì chìm đắm nữ sắc, đó là tượng dâm. Thứ ba, ở vận 5, đầu hướng là Nhị Nhị Lục, lại thêm sao nguyên vận Cửu Tử tới; Cửu hỏa khắc Lục kim, quẻ dương mất khí nên quẻ âm thịnh lên, vì vậy chủ nạn sắc dục.

Mộ họ Chương: thổ nặng chôn kim, góa phụ và kẻ giả tu hành

Một chữ Nhị gấp đôi có thể làm đầy nhà, rồi cũng chính nó làm chủ nhà ra đi sớm.

Ngôi mộ sơn Nhâm hướng Bính cũng lập vào vận 2. Chương Trọng Sơn nói sau táng tài đinh đều vượng, nhưng chủ nhà không thọ, có góa phụ, và có kẻ giả làm tăng ni đến làm hao tài. Thẩm Trúc Nhưng chú: tài đinh vượng vì vượng tinh đáo hướng. Nhưng song Nhị gia vào vận bàn là Lục, thổ nặng thì chôn kim, mà Lục là Kiền, nên chủ nhà không sống thọ. Góa phụ xuất hiện vì Nhị là sao Quả. Khi thất vận mà bị hao tài vì lầm kẻ giả tăng ni, ấy vì Nhị là tượng ni cô.

Tắc Tiên nhắc rằng thổ vốn sinh kim, nhưng thổ quá nặng lại chôn kim; thừa cũng xấu như thiếu, lý ngũ hành quý ở chữ vừa phải. Khôn là lão âm, chủ góa bụa; song Nhị đồng cung thì khi thất nguyên chủ sinh góa phụ.

Bạch Hạc Minh thêm rằng khi thất vận, ngoài việc dễ có góa phụ, song Nhị ở đầu hướng còn là bệnh phù, nên con cháu nhiều bệnh tật, nhất là người nữ.

Mộ họ Thi: hai người vào trường thi và những người mù lòa nối đời

Phía sau là ruộng thấp, trước mặt là cầu bắc ngang con nước; những hình ấy đã đủ để nói chuyện học trò và chuyện mắt tối.

Ngôi mộ sơn Dậu hướng Mão, vận 2. Phía sau mộ là ruộng thấp; nước từ xa tới phương Đoài, chảy theo Kiền, Khảm, Cấn rồi tới Chấn thì mở rộng; tới Tốn có cái cầu, nước đi dưới cầu mà thoát. Chương Trọng Sơn nói sau khi táng, tài đinh phát lớn, có người tài giỏi, vào trường thi có hai người; nhưng đời nào cũng có góa phụ và người mắt lòa.

Thẩm Trúc Nhưng giải thích: tài đinh phát lớn vì song Nhị đáo hướng mà ở hướng có nước. Hai người vào trường thi vì thành môn ở Tốn có song Nhất tới; Nhất Tứ đồng cung vốn chủ khoa bảng, nhưng sức long mạch không mạnh nên chỉ ra tú tài, gọi là trong cái đẹp còn có chỗ chưa đủ. Góa phụ và người lòa xuất hiện vì song Nhị ở hướng gặp Cửu.

Bạch Hạc Minh giải thích vì sao phương Tốn lại thành Nhất Tứ đồng cung dù trên đồ hình chỉ thấy Nhất Bạch mà không thấy Tứ Lục: ấy vì phương Tốn là địa bàn Tứ Lục (nguyên đán bàn), và hướng của cuộc này ghép với thiên tinh nên thành Nhất Tứ đồng cung. Mộ này đặc biệt lợi người tuổi rắn và tuổi rồng, lợi nhất là người sinh năm Nhâm Thìn, kế đến người sinh năm Quý Tỵ, sau cùng mới là những người tuổi rắn và rồng khác.

Mộ họ Bùi: cầu đá xung kích và con trưởng gãy chân vì sắc

Cuộc đất có sao đẹp ở cả sơn lẫn hướng, nhưng một nhịp cầu đá cao nơi xung chiếu vẫn đủ làm đổ trưởng nam.

Ngôi mộ sơn Mùi hướng Sửu, vận 2. Phương Khôn có thành trì; phương Đoài có sông mở rộng, chảy qua Kiền, Khảm, Cấn tới Tốn thì luồn dưới cầu mà đi mất. Chương Trọng Sơn viết: sau táng, con lớn vì chữ sắc mà bị tổn thương, con thứ bị sung vào lính trước rồi sau mất mạng.

Thẩm Trúc Nhưng nhận xét cuộc này vượng tinh đáo sơn đáo hướng, vốn không có chuyện bất lợi. Con trưởng bị thương vì sắc là do phương Thìn có cầu đá cao xung chiếu; phi tinh Lục ở hướng tới Tốn, Lục là bậc cha già (trưởng); Cửu ở sơn cũng tới, Cửu là trung nữ; lão phụ phối với trung nữ là không chính đáng nên chủ dâm bôn. Phương Kiền có nước, Tam của vận bàn tới Kiền, Thất ở sơn lại tới Kiền, đó là tượng Đoài kim làm gãy chân Chấn. Con thứ bị sung lính rồi mất mạng vì phương Đoài mở thành biển hồ; theo phép liên châu, Tam ở hướng tới Đoài là tiến thần thủy, Lục ở sơn cũng tới Đoài, Lục là người võ nên trước bị sung lính, sau dẫn đến mất mạng. Đoài là thiếu nữ nên ứng phòng nhỏ; Tam tới Đoài là tiến thần thủy cùng Đoài Thất hợp thập.

Tắc Tiên tổng hợp hai phương Tốn và Kiền: trưởng tử vì nữ sắc mà bị thương chân; phương Tốn có cầu đá, phương Kiền có nước uốn khúc, nên dùng phép kết hợp linh hoạt thì suy ra ứng nghiệm. Nhưng phương Đoài có Tam, Lục, Tứ đồng cung, tại sao người bị sung lính mất mạng không phải con trưởng mà là con thứ? Ông cho rằng vì phương Tốn có cầu đá cao xung kích, con trưởng đã bị thần sát chiếu nên theo thứ tự đến con thứ; hoặc vì Nhị lâm sơn hướng nên chủ phòng hai. Còn nói địa nguyên long chủ con thứ phát thì ông cho là luận quá thấp, không thể tin.

Bạch Hạc Minh thì nhìn thế này: vận 2, sông ở Đoài là tiến thần thủy, tức sinh khí thủy; sao sinh khí thuộc quẻ Chấn nên vốn chủ con trưởng phát phúc. Nhưng cầu đá cao ở Tốn xung kích nên trưởng nam bị thương, vậy con trưởng không phát được. Còn phòng thứ thì lấy phương Đoài mà luận. Vì mộ phát theo long mạch khác nhau ở từng phòng, nên cách xem phải cân từng phương.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia