Bài tổng quan
Phòng trưởng phát tú, phòng hai vượng tài, sông xung lưng huyệt
Sau khi hạ táng, nhà anh cả lên đường khoa bảng nhưng túi tiền cứ mỏng, còn người em lại vừa giàu vừa đông con cháu. Một ngôi mộ khác táng từ thời vua Hoằng Trị mà đến nay con cháu vẫn đỗ đạt không dứt. Còn một người buôn bán sống qua ngày, táng xong giàu lên mười vạn nhưng người trong nhà cứ vơi dần…
Mục lục · 5 phần
- 01Mộ họ Trương ở Thường Châu: anh cả đỗ đạt, em hai giàu có
- 02Mộ họ Dương: đỗ đạt liên tiếp từ đời Minh đến nay
- 03Mộ họ Trương ở Liễu Đường Kiều: những năm đầu bất lợi, vận 5–6 đại vượng
- 04Mộ họ Tôn ở Thạch Đường Loan: thủy lớn xung lưng huyệt
- 05Mộ họ Tiền trên núi Tiên Ngư: mỗi lần hai người đỗ, một góa phụ mù mắt
Mộ họ Trương ở Thường Châu: anh cả đỗ đạt, em hai giàu có
Ngôi mộ này lập sơn Quý hướng Đinh vào vận 1. Nước từ phương Khôn uốn lượn chảy tới, tụ ở phương Tốn rồi thoát đi ở phương Cấn.
Chương Trọng Sơn ghi rằng sau khi hạ táng, phòng trưởng sinh người học giỏi, phòng thứ thì đinh tú đều thịnh mà tiền của cũng nhiều, nhờ được sao Phụ nên thành năm điều cát. Khi hỏi chủ nhà, ông ta đáp rằng trước đây của cải tới trăm vạn, nay chỉ còn nửa trăm.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích: ba sao Nhất, Lục, Bát cùng đến ở hướng, lại thấy nước sáng, đúng khớp với sự huyền diệu của ngũ tinh. Phòng trưởng phát tú mà tiền không vượng vì Lục là Kiền, Kiền thuộc con trưởng, Lục lại là sao Quan nên sinh người học hành; nhưng kim sinh Khảm thủy ở hướng là tiết ra, nên của cải không dày. Phòng thứ cả người lẫn của đều đầy đặn vì song Nhất đến hướng mà Khảm là con trai giữa.
Tắc Tiên thì nhìn vào sự ăn khớp giữa hai tầng bàn. Địa bàn ở Khôn là Nhị, thiên bàn là Thất; Nhị với Thất là cùng một đạo. Địa bàn ở Tốn là Tứ, thiên bàn là Cửu; Tứ với Cửu là bạn bè. Thiên bàn và địa bàn ngầm hợp với số sinh thành, nên ở xa có ao đầm đón lấy. Song tinh về hướng, ba phương vị đều có nước tới rồi hội ở Tốn, phối với thành môn, cho nên tài vận không thể không vượng. Chỉ vì Kiền kim sinh Khảm thủy nên phòng trưởng dừng lại ở chuyện học hành. Từ đó thấy rằng người xem không chỉ dựa vào thủy thần của tám phương mà còn cân nhắc cả sinh khắc ở đầu hướng để tăng giảm khi luận.
Bạch Hạc Minh nhấn mạnh việc họ Chương xét phòng nào phát là dựa vào quái lý của cửu tinh, và đó là nội dung cốt lõi của phong thủy Huyền Không. Còn câu “nhất lục bát” của họ Thẩm: ngôi mộ hướng Đinh, hai bên là Tốn và Khôn, được ba sao Nhất, Lục, Bát là tam cát; nói ngũ tinh là vượng khí, sinh khí, tiến khí cộng với tam cát, vì trong tam cát tất có một sao quy vào ba loại khí sinh vượng tiến. Phương Khôn có nước tới, phối bí quyết thành môn, nên chủ về vượng tài.
Mộ họ Dương: đỗ đạt liên tiếp từ đời Minh đến nay
Có ngôi mộ táng từ thời vua Hoằng Trị mà đến nay con cháu vẫn khoa bảng; người đoán phải giải thích vì sao vận tù không làm nó đổ.
Ngôi mộ lập sơn Hợi hướng Tỵ, vào vận 1. Đại long từ phương Khôn tới, vòng qua Canh, Dậu, Tân rồi thẳng về phía Sửu, Cấn, Dần mà đi; mạch theo chỗ eo ở Kiền uốn cong thành tổ để kết huyệt. Phương Kiền có hồ nước, phương Tốn có dòng nước đẹp.
Chương Trọng Sơn nói từ khi táng, rõ ràng đời Minh đến nay liên tục có người đỗ đạt, giàu có mười vạn, người đông thịnh. Lý do là thiên bàn và địa bàn cùng hợp thành cách Nhất Tứ đồng cung; quẻ thiên và quẻ địa cũng khéo hợp cuộc ấy. Thẩm Trúc Nhưng chú: mộ táng vào thời Hoằng Trị nhà Minh, đúng vận Nhất Bạch, thế đất mở rộng, nước sáng tròn, quả là long chân huyệt. Địa bàn là Tứ; thiên bàn ở hướng tới địa bàn là Nhất; quẻ địa là Tứ, còn Nhất của thiên bàn lại tới ở sơn; thêm quẻ ở tọa hạ khi nhập trung cung cũng hợp thập. Vì vậy mà phú quý không dứt.
Tắc Tiên chỉ ra cuộc này ở đầu hướng Nhất gặp Cửu, hợp thiên tâm thập đạo; trung cung được Nhất Cửu, ứng với cuộc thủy hỏa Khảm Ly đi qua giữa trời. Hai sao Nhất tới Tốn, có nước chảy đến phô vẻ đẹp, đúng là long chân huyệt, nên tiền tài, nhân đinh, quý hiển đều tốt. Câu hỏi đặt ra: qua một trăm bốn mươi năm của địa vận thì cuộc ấy nhập tù, sao từ nhà Minh đến nay vẫn phú quý? Ông trả lời: phương Kiền có hồ nước nên sang vận 8 mà như tù không tù.
Bạch Hạc Minh gọi đây là cuộc cung Khảm thất tinh đả kiếp, tù ở vận 8 nhưng tù mà không trụ. Sao Bát ở hướng bày về phương tọa là nơi có hồ; gặp vận tù mà thấy nước thì tù mà không đứng được.
Cách bày sao của Lạc Sỹ Bằng và các chữ cần phân biệt
Phép bày sao của Lạc Sỹ Bằng cho long và thủy như sau. Long Khôn có Nhất Bạch tới Khôn, Lục Bạch tới hồ ở Kiền, Bát Bạch tới hướng Tỵ, vậy sơn và thủy phối âm dương đúng cách. Ở vận Nhất, Nhất Nhị Tam là sao dương còn Lục Thất Bát Cửu là sao âm; long được dương, thủy được âm. Hồ ở Kiền lớn mà lực yếu, nhưng Bát Bạch của thủy và Nhất Bạch của long Khôn vẫn phối được âm dương. Nhất Bạch là sao Khôi, Bát Bạch là sao Phụ, bởi vậy đỗ đạt khoa bảng là hợp lẽ. Cuộc này theo lời họ Chương chỉ lấy cái hay của Nhất Tứ đồng cung.
Để khỏi lẫn: thiên bàn chỉ các sao bay, địa bàn chỉ các phương vị cố định (còn gọi nguyên đán bàn). Hướng bàn hay quẻ thiên chỉ hướng tinh, sơn bàn hay quẻ địa chỉ sơn tinh. Quẻ Tốn theo Lạc Thư là phương Tứ Lục. Sao Nhất bay tới đó, “Huyền Cơ phú” nói Tham Lang vào cung Tốn thì tên tuổi khoa bảng rạng rỡ; “Tứ Bạch phú” nói Nhất Tứ đồng cung là chuẩn cho việc phát đạt khoa cử.
Mộ họ Trương ở Liễu Đường Kiều: những năm đầu bất lợi, vận 5–6 đại vượng
Nước lớn ở một phương có thể là phúc của vận này và là họa của vận khác; câu hỏi là nó đang ở phương nào của cuộc.
Mộ lập sơn Thân hướng Dần, vào vận 1. Phương Cấn có nước lớn phóng ánh sáng; hai phương Kiền và Đoài cũng có nước trong chiếu lấp lánh. Chương Trọng Sơn nói lập hướng Dần những năm đầu bất lợi, đến vận 5, vận 6 thì tài đinh đại vượng, qua vận 7 thì người ít tiền cũng giảm, vì vận không đắc lệnh, sao cũng không đắc lệnh, e rằng sẽ vì chuyện nam nữ dâm loạn.
Thẩm Trúc Nhưng bổ sung: lập huyệt ở vận Nhất, thủy quang ở hướng nhưng lại chủ hung hiểm. Vận 6, vận 7 thì nước ở hai cung Kiền Đoài đại vượng tài đinh. Qua vận 7, hướng tinh nhập trung cung, sao không đắc lệnh (nói sao Thất ở đầu hướng), Nhất Bạch đến hướng; vận không đắc lệnh, đầu hướng là Tứ Thất, chủ đàn bà dâm loạn; khách tinh Nhất Bạch tới hướng, chủ đàn ông phóng đãng. Khí hai bên thông nhau cũng giúp vượng tài đinh bốn chục năm; học giả có thể lấy làm phép tắc.
Tắc Tiên nhắc rằng khi hướng tinh nhập trung cung thì người ít mà tiền thoái, nên luận nước ở hướng là hung sát; đừng nhầm với vượng thủy đương nguyên. Ca này cho thấy khi sao nhập trung cung thì không chú trọng vận tinh mà phải kỵ hướng tinh, và cần phân biệt khí của hai bên.
Bạch Hạc Minh giải thích vì sao những năm đầu bất lợi: hướng tinh của hướng Dần ở vận 1 là Thất Xích, sát khí; thấy nước ấy là sát thủy. Nhất Bạch của vận 1 là sao đương nguyên thuộc thủy, tối kỵ thấy sát thủy Thất Xích. Sang vận 7, phương Cấn thấy nước vốn chủ về vượng tài, nhưng cớ sao lại luận hung? Ông liệt kê ba lẽ: phương Cấn là Bát Bạch sinh khí thì nên thoáng đãng, thấy nước thì luận hung; cát tinh khi ấy nhập tù; còn phương Đoài có sao Thất Xích bày tới, luận là chính thần, nên trống trải bằng phẳng, nếu có nước là phạm chính thần hạ thủy, luận đại hung. Gộp lại, ở vận 7 mộ này hung nhiều cát ít.
Mộ họ Tôn ở Thạch Đường Loan: thủy lớn xung lưng huyệt
Phát nhanh không có nghĩa là phát bền; người xưa nhìn dòng nước bám sau lưng mộ và đoán trước cả sự suy giảm của dòng họ.
Mộ lập sơn Tý hướng Ngọ, vào vận 2. Ba phương Canh, Dậu, Tân có sông lớn, vòng qua Khôn, Ly, Tốn tới phương Chấn thì chảy đi mất. Phương Khảm có sông lớn kèm một nhánh xông vào sau lưng huyệt.
Chương Trọng Sơn nói mộ táng hợp nguyên vận thì lẽ ra phải phát nhanh; nước ở Khảm rất đặc biệt, nhưng hình thế Loan Đầu lại không đẹp, một khi thất nguyên vận thì tài và đinh đều thoái. Chủ nhà kể ông sống bằng nghề mua bán, sau khi táng mộ tổ thì bản thân phát hơn mười vạn, sau lên tới năm sáu chục vạn, có điều người trong nhà ngày càng ít đi.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích phát tài vì vượng tinh của sơn và hướng đều đến phía sau, mà phương Khảm lại có sông lớn, gọi là đảo hồ nên phát rất nhanh. “Thiên Ngọc Kinh” nói cát thần vào trước thì nhà giàu. Còn các dòng nước khác chẳng giúp gì vì chỉ có một dòng đắc nguyên; nhưng nước ở Khảm quá lớn lại còn xung sau lưng nên rốt cuộc không tốt, qua tới vận 6 thì đại bại.
Tắc Tiên chỉ rằng Khảm là cung lệnh tinh đương nguyên chiếm giữ, có nước lớn là cung tốt xung khởi, vô cùng quý. Nhưng phạm long thần hạ thủy nên nhân đinh suy giảm nặng; các cung Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài không thu được khí nước nên chẳng giúp ích; qua vận 6 thì nhập tù mà bại.
Bạch Hạc Minh nói Nhị Hắc ở đây vượng đặc biệt: phương Khảm là chỗ long thần thủy bao bọc thấy nước, mà nước ấy là sông lớn xông tới, thế mạnh nên rất vượng. Vận 3 phương Khôn thấy nước vượng, vận 4 phương Chấn, vận 5 phương Tốn; nhưng thế nước không mạnh bằng ở Khảm, nên tuy vượng tài mà trước sau hưng thịnh không vượt qua vận 2. Sang vận 6, hai sao Lục Bạch và Thất Xích ở ngôi long thần thủy bao bọc không thấy nước, vận tài đương nhiên suy bại.
Mộ họ Tiền trên núi Tiên Ngư: mỗi lần hai người đỗ, một góa phụ mù mắt
Bốn lần chữ Tân Mùi cùng hiện về trong một năm, và người sinh năm Bính Thân bước lên hàn lâm.
Mộ lập sơn Tân hướng Ất kiêm Dậu Mão, vào vận 2. Chương Trọng Sơn nói sau khi táng, tài đinh đều vượng, lại có người khoa bảng, mỗi lần là hai người. Năm Tân Mùi có một người học vấn cao thuộc mệnh Bính Thân. Nhưng cuộc đất này cũng ắt sinh ra một góa phụ phát mạnh và bị mù.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích: tài đinh lưỡng vượng vì song tinh đáo hướng và ngoài nước có núi. Phi tinh Nhị từ sơn bay đến hướng gọi là hạ thủy, vốn không cát, nhưng ngoài nước có núi nên thành thượng sơn, hóa ra tốt. Ở vận 5 và vận 6, mỗi vận có hai người đỗ, vì phi tinh hai phương Đoài và Kiền là Ngũ, Lục, hai phương ấy có núi non; vì vậy hai vận này ứng một đôi. Song Nhất đến phương Tốn là chốn nước thoát đi, tức phép thành môn: phương Tốn định vị là Tứ, song Nhất đến thành Nhất Tứ đồng cung, thành môn chính là cửa nước.
Người mệnh Bính Thân vào hàn lâm năm Tân Mùi vì trung cung là Cửu Nhị, hướng cũng là Cửu Nhị; Cửu là Bính, Nhị là Thân. Năm Tân Mùi, Cửu nhập trung cung, Nhị đến sơn, gọi là Thái Tuế lâm sơn. Ở sơn là Thất tức Tân, Thái Tuế là Nhị tức Mùi, Nhị Thất đồng cung chính là Tân Mùi. Hai sao Nhị ở hướng có Thái Tuế chiếu, năm Cửu nhập trung cung, Thất đến hướng cũng là Tân Mùi. Vận bàn có trung cung Nhị Thất, vận Thất nhập trung cung cũng là Tân Mùi. Bốn lần Tân Mùi như thế nên được vào hàn lâm.
Góa phụ mù vì ở hướng có Nhị Cửu: Nhị là góa phụ và là thổ, Cửu là mắt, đất bay vào mắt thành quẻ Minh Di, nên có người mù. Góa phụ lại phát nhất vì ở hướng có nước. Vận 7, phòng nhỏ tuyệt tự vì Thất ở sơn: phi tinh ở hướng tới sơn là Thất tức thượng sơn, Thất Đoài là phòng nhỏ. Thượng sơn tuy hung, nếu có sông nước thì vô hại. Đến vận 9, hướng tinh nhập trung cung, ắt thoái tài tổn đinh lại kèm hỏa hoạn; phàm Tam Tứ đến hướng thì đoán là hỏa tai. Câu cổ nói Thất Cửu hợp nhau đều chỉ hỏa hoạn, lại nói hỏa khắc kim kèm hóa mộc thì phải lo hỏa hoạn mà tài sản tiêu tan. Nhưng khoa bảng vẫn không dứt vì thành môn của địa bàn là Tứ, hai sao Nhất cùng đến Tốn, được cái hay của Tứ Nhất đồng cung.
Tắc Tiên gọi đây là cuộc Ly cung đả kiếp: phi tinh từ hướng đến sơn mà nhập trung cung là tù, nên qua vận 7 phòng nhỏ tuyệt tự, tù thật sự. Nhưng vì đất này là long chân huyệt, phương thành môn lại ngầm hợp Tứ Nhất đồng cung, nên gặp Thái Tuế động chiếu thì tuy nhập tù vẫn ứng khoa bảng. Riêng qua vận 9, địa vận chấm dứt, khách tinh Thất đến hướng, số hỏa của tiên thiên và hậu thiên cùng tụ ở Chấn nên thoái tài, tổn đinh, kèm hỏa hoạn. Đây là cuộc tọa không triều mãn. Phòng nhỏ tuyệt tự ở vận 7 vì ở phương Cấn long thần sơn hạ thủy, chủ tổn đinh, mà Cấn là phòng nhỏ.
Bạch Hạc Minh nhắc phép dùng cửu tinh để đoán năm sinh là lấy cửu tinh phối với thiên can và địa chi.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
