Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nho Gia

Bài tổng quan

Đào huyệt bằng đồng, vật tùy táng, bia mộ và lịch sao trời

Đạo Học - Nho Gia14/10/202617 phút đọc1 lượt đọc
Đào huyệt bằng đồng, vật tùy táng, bia mộ và lịch sao trời

Khi công cụ chỉ là đá, gỗ và xương, huyệt mộ hẹp và nông, vừa đủ một thân người; còn lăng Tần Thủy Hoàng về sau chiếm diện tích gấp một nghìn một trăm lần ngôi mộ lớn nhất đời Thương. Giữa hai đầu ấy, người ta còn phải nghĩ cách để con cháu ba, năm đời sau vẫn nhận ra mộ tổ. Có nơi cắm tre, có nơi đặt đá, có nơi dựng cờ phan, rồi cuối cùng là tấm bia khắc chữ…


Cái cuốc quyết định cỡ ngôi mộ

Trình độ khoa học kỹ thuật là một trong những điều kiện lớn chế ước tập tục mai táng, hiểu theo nghĩa rộng gồm cả sức sản xuất, văn hóa và khoa học. Người xưa gần như không vạch ranh giới rõ giữa khoa học và tôn giáo: có môn khoa học cổ ngày nay thành tôn giáo, có tôn giáo cổ lại phát triển thành khoa học. Việc cai trị, dựng nền kinh tế, mở mang khoa học thời ấy đều phải mượn sức và sự thúc đẩy của tôn giáo. Mai táng là sản phẩm văn hóa của tôn giáo, nhìn từ góc độ khoa học cũng có thể coi là kết quả của một quá trình nghiên cứu.

Đào huyệt, làm táng cụ đều cần công cụ sản xuất, và ở một mức nào đó công cụ quyết định chủng loại, hình dáng của huyệt mộ lẫn táng cụ. Thời đá cũ và đá mới, người ta chỉ có đồ bằng đá, gỗ, xương, mai rùa để đào, năng suất thấp, huyệt vì thế hẹp và nông, thường chỉ đủ cho một thi thể và ít vật tùy táng. Sang thời đồng xanh, xẻng đồng, cuốc đồng làm năng suất tăng lên nhiều lần, huyệt mộ hầu hết sâu hơn, to hơn. Lăng mộ các vua Thương rộng 330 mét vuông, cộng thêm đường rãnh mộ là 1.800 mét vuông, quy mô chưa từng có. Nhưng đặt cạnh lăng hoàng đế thời đồ sắt thì không thể sánh: bên ngoài lăng Tần Thủy Hoàng dài 2.173 mét theo hướng Nam Bắc, rộng 924 mét theo hướng Đông Tây, chiếm diện tích gấp 1.100 lần ngôi mộ lớn nhất đời Thương. Sự mở rộng ấy trước hết đến từ quyền lực và thế lực thống trị lớn lên, nên điều động được nhiều sức lao động, nhưng năng suất làm việc vẫn gắn với việc cải tiến công cụ và sự tiến bộ của giao thông vận tải.

Miền nam Trung Quốc thời cổ từng thịnh hành nhai táng, mộ khoét vào vách núi, quan tài treo trên vách. Muốn vậy cần công cụ đào cứng, đàn hồi tốt mà giá lại thấp. Đồng đỏ mềm, thêm thiếc vào thì rất cứng nhưng giá khá đắt. Vì thế các nhai mộ thời đồng xanh gần như đều tận dụng hang động tự nhiên trên sườn núi. Đến khi công cụ đào bằng sắt phổ biến, người ta mới chú ý đào bới nhai mộ. Sau thời Hán, người Hán phổ biến xây mộ gạch: đời Hán chuộng gạch rỗng ruột, vẽ hình như mộ gạch; Đông Hán và Ngụy Tấn Nam Bắc triều lưu hành mộ gạch lớn; từ sau thời Đường chuộng mộ gạch hoa văn nhỏ. Tất cả dựng trên nền kỹ thuật nung gạch đã nhuần nhuyễn và phổ biến. Mộ của một số dân tộc thiểu số thời ấy rất ít xây bằng gạch, đó là do nguyên nhân văn hóa chứ không gắn chặt với kỹ thuật nung gạch.

Trung Quốc từ thời đá mới đã nắm vững kỹ thuật nung gốm, nên giữa thời đá mới mới có tiểu sành dùng chôn trẻ nhỏ chết yểu. Tiểu sành giữ thi thể và hài cốt rất tốt, vậy sao không dùng cho người lớn? Cũng là giới hạn của nghề nung: lúc ấy tuy nung được những chum chứa nước khá lớn, giá thành lại đắt nên khó dùng rộng rãi. Phải đến khi bốc mộ cải táng hoặc hỏa thiêu rồi thu tàn tro, xương cốt vào, tiểu sành mới đủ nhỏ để dùng. Từ thời Hán đã có quan tài gốm cỡ lớn, nhưng nung khó, giá đắt nên chỉ nhà giàu có quyền quý dùng được.

Gỗ thì ngược lại. Từ giữa thời đá mới, con người chỉ có rìu đá để chặt, bổ cây, năng suất thấp, những tấm gỗ làm ra lại không đẹp, nên chưa ai dùng quan tài gỗ như đời sau. Trong văn hóa Ngưỡng Thiều rất hiếm táng cụ bằng gỗ, nếu có cũng chỉ là những miếng gỗ dài ngắn, rộng hẹp khác nhau. Cuối thời đá mới, ở văn hóa Tề Gia đã thấy vài công cụ bằng đồng đỏ, đồng thời có quan tài gỗ hình thuyền độc mộc; hai điều ấy rõ ràng có liên hệ nội tại với nhau. Nó cũng cho thấy công cụ như bào, cưa ra đời khá muộn: làm quan tài thuyền độc mộc chỉ cần rìu và đục.

Đồ chôn theo cho thấy tay nghề của cả một thời

Huyệt đã đào xong, thứ nằm trong huyệt còn kể được nhiều hơn nữa.

Vật tùy táng là một phần cấu thành văn hóa mộ táng và là dấu hiệu quan trọng cho thân phận, đẳng cấp của chủ mộ. Phần lớn văn vật khảo cổ Trung Quốc đào ra từ các ngôi mộ, thường được giữ khá tốt, nhiều món tinh xảo, như tấm gương soi sự phát triển của năng lực sản xuất.

Mộ thời đá cũ chỉ chôn theo vài món đá thô và đồ trang sức đơn giản. Mộ đá mới bắt đầu có đồ đá mài, chế tác, đồ gốm, xương cốt gia cầm gia súc; có bình gốm còn đựng lương thực, và trên hài cốt thấy dấu vết áo quần. Vậy là người thời ấy không chỉ biết mài chế đá mà còn chăn nuôi, trồng lương thực, nung gốm và dệt vải.

Đến thời đồng, nét đặc trưng là vật chôn theo đều bằng đồng đen. Suy đoán, nghiên cứu và mô phỏng cách làm những món đồng lớn và phức tạp ấy giúp hiểu phương pháp luyện và trình độ kỹ thuật thời đó. Trước đây người ta cho rằng sức sản xuất của các dân tộc cổ rất thấp, nhưng đồ đồng đen đào ra từ mộ ở nhiều nơi trên thế giới đem lại cái nhìn mới: các dân tộc cổ từng có kỹ thuật luyện đồng khá cao, giàu nét riêng của từng vùng. Từ cuối Xuân Thu về sau, đồ sắt trong mộ ngày càng nhiều. Qua đó biết nghề luyện sắt ở Trung Quốc đi qua hai chặng: luyện thỏi sắt ở nhiệt độ thấp, rồi gia công ở nhiệt độ cao để đúc. Nhìn các nông cụ chôn theo cũng đoán được trình độ cày bừa, tưới tiêu, thủy lợi của nông dân thời đó.

Đồ dệt lụa trong mộ cổ phản ánh cụ thể trình độ dệt may xưa. Trên một món đồng đen đào ra từ mộ một phụ nữ dân tộc thiểu số đã thấy dấu vết lụa. Mộ Tây Chu còn tìm được tấm vải thêu. Mảnh vải bông còn sót lại trong mộ khoảng giữa thời Tam Quốc có sáu loại hoa văn và hình vẽ khác nhau. Sau thời Hán, tư liệu về vải lụa nhiều vô kể: ở các mộ Hán tại đồi Mã Vương, Trường Sa, núi Phượng Hoàng, Giang Lăng, Mãn Thành, Hà Bắc, người ta thấy rất nhiều đồ dệt lụa có hoa văn, một màu hay nhiều màu, nhuộm màu thêu hoa.

Từ sau Đông Hán, trong mộ thường thấy đồ sứ. Đông Hán phổ biến sứ xanh và sứ đen; đầu Ngụy Tấn Nam Bắc triều chủ yếu vẫn hai loại ấy, đến cuối thời kỳ mới thêm sứ men vàng và vài món sứ trắng. Đường, Tống là lúc đồ sành sứ phát triển mạnh nhất, nhiều món đậm phong cách địa phương. Từ thời Nguyên, gốm than hoa trở thành đồ chôn theo phổ biến. Vật tùy táng bị trình độ sản xuất chế ước nên mang dấu thời đại rất rõ; kết hợp với các tư liệu khác thì có thể xác định niên đại ngôi mộ.

Chữ khắc trong mộ và tấm bia giữ tên người nằm dưới

Có tay nghề rồi, con người bắt đầu để lại lời nhắn ngay trên những món đồ chôn theo.

Chữ viết, thiên văn, lịch pháp đều là dấu hiệu và sản phẩm văn hóa của một giai đoạn tiến bộ xã hội, một trình độ phát triển khoa học nhất định, và sự ra đời của chúng ảnh hưởng rất lớn đến phong tục mai táng truyền thống.

Từ Thương, Chu đến Hán, người ta hay chôn theo đồ đồng đen hoặc đồ đồng có hoa văn khắc chữ, phần nhiều ghi họ tên, dòng tộc, chức vị của chủ mộ. Những dòng ấy lúc bấy giờ vừa khoe địa vị, quyền thế của chủ mộ, vừa biểu lộ lòng hiếu thuận của con cháu. Đến Chiến Quốc, Tần, Hán, trong mộ có cả những cuốn sách đóng sơ sài: có cuốn ghi họ tên, phổ hệ, chuyện lúc sống và chức vị của chủ mộ, có cuốn chép sự kiện lịch sử, việc đại sự quốc gia, có cuốn sao chép từ sách khác. Từ sau Xuân Thu, mộ còn hay chôn theo ấn chương cá nhân, được giữ gìn cẩn thận nên cho tư liệu trực tiếp để đoán niên đại ngôi mộ. Đồ gốm sứ chôn theo thời Hán thường khắc chữ liên quan đến quan lại và thời đại, là tài liệu quý để tìm hiểu công thương nghiệp đời Hán. Trong mộ tử tù ở lăng Tần Thủy Hoàng, trên thi thể có những tấm ngói lớn khắc chìm địa danh, tính chất phục dịch, tội danh, tên tuổi. Còn ấn tránh tà và văn trấn mộ lưu hành thời Đông Hán thì phản ánh chính xác ảnh hưởng của tôn giáo lên tập tục chôn cất. Lúc ấy trong mộ còn có loại "di thư" liệt kê rõ chủng loại, tên gọi, số lượng, giá cả của vật tùy táng, nói rõ chức năng và ý nguyện của một đám tang lớn.

Ảnh hưởng của chữ viết đối với mai táng nằm ở bia mộ, mà chức năng chính của bia là giúp nhận ra mộ. Dưới sự chi phối của quan niệm linh hồn và lòng sùng bái tổ tiên, người ta coi việc tảo mộ tổ tiên là việc trọng đại. Ngôi mộ trong thời gian ngắn còn nhận ra, nhưng dần dần đến ba, năm đời sau, nhất là qua chiến loạn, di cư, con cháu khó nhận đúng mộ tổ. Nhầm mộ sinh ra rắc rối khó gỡ. Làm sao giải quyết? Mỗi dân tộc tìm ra cách riêng.

Ở Trung Nguyên, Quan Trung, mộ vốn không đắp đất. Giới thống trị đời Thương, Chu thường dựng đình trên mộ, nhờ vậy cũng giải quyết luôn dấu hiệu nhận mộ; nhưng người nghèo tiền bạc có hạn, dựng đình quá tốn nên khó phổ biến. Thời Tây Chu có thói quen trồng cây trên mộ, phối hợp loại cây, số lượng với tước vị; nhưng trong các mộ lớn của quý tộc, nhiều người cùng tước vị, thời gian càng dài càng khó phân biệt. Vì thế lại thịnh hành tục cắm cờ phan lên mộ. Cờ phan còn gọi là "minh tinh", "đan tinh", trên đó thường ghi ngày tháng, họ tên một người nào đó, rất tiện nhận mộ; chỉ tiếc bền ngắn, một hai năm là hỏng.

Để nhận ra mộ, vùng Trung Nguyên khoảng thời Xuân Thu đã học kinh nghiệm một số vùng phía Nam, đắp chóp mộ: chóp mộ nổi lên như một cái gò, qua thời gian dài vẫn nhận ra được. Người Thục thời Tiên Tần chuộng đặt hòn đá lớn trước mộ; đây cũng là dấu hiệu hay, chỉ có điều trong các mộ lớn thì ngôi nào phía trước cũng có tảng đá lớn nên lâu ngày vẫn dễ nhầm. Người Tái Hạ, dân tộc Cao Sơn ở Đài Loan, chôn người xuống đất rồi đặt một tảng đá lên trên; người thường thì cắm các đoạn tre làm rào và xếp đá xung quanh. Thời gian dài hơn nữa thì những cách ấy cũng khó giúp nhận đúng mộ. Người Độc Long cắm tre trúc theo số con cái, trên đỉnh ống trúc găm nhiều mẩu gỗ, các dấu hiệu nói rõ giới tính, tuổi và những việc người ấy làm lúc sống; đáng tiếc là những vật dựng ấy chỉ bền chừng mười năm.

Những ví dụ ấy cho thấy muốn nhận đúng mộ qua thời gian dài thì phải kết hợp chữ viết với chất liệu đá. Ghi chữ lên đồ kim loại như đồng, sắt thì mộ rất dễ bị đào phá, không giữ được lâu. Các mộ Đông Hán ở Tứ Xuyên thường khắc ngày tháng năm, và những dòng ấy có thể là dấu mốc cho sự ra đời của bia mộ. Không lâu sau bia mộ xuất hiện; tư liệu khảo cổ cho thấy bia mộ thường giữ được mấy trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm, về cơ bản đã giải quyết vấn đề nhận mộ sau thời gian dài.

Đến thời Tây Tấn, trong giới quan lại quý tộc xuất hiện mộ chí, ghi lại chuyện lúc sống của người nằm trong mộ. Lúc đầu nhiều cái giống hình bia mộ, về sau thành hình vuông. Mộ chí dùng để giới thiệu người chết với âm gian, địa phủ, tương đương một cuốn sách về cuộc đời họ. Chôn mộ chí theo phản ánh nỗi lo của chủ mộ và người thân: sợ các quan dưới âm phủ không hiểu tình hình, hoặc sơ suất mà nhầm một địa chủ thành thảo dân, nhầm ác quan với người nghèo. Mộ chí xuất hiện gắn với việc coi trọng dòng dõi. Dưới hình thức định luận địa vị người chết, vì tin linh hồn tồn tại mãi, nó khuyên người ta biết trung thành, hiếu nghĩa, làm việc thiện, tích đức, là một trong những cách giữ luân lý đạo đức phong kiến. Nhờ chức năng xã hội thiết thực ấy mà nó thành truyền thống để các xã hội phong kiến kế thừa và phát triển.

Số tư liệu chữ viết đào ra từ mộ cổ rất lớn, là kho báu để tìm hiểu văn hóa xã hội và nghệ thuật thư pháp thời xưa. Nhiều ngôi mộ không đoán được thời đại, chỉ cần dựa vào hình thức, nội dung và cấu trúc thư pháp của chữ trong mộ là có thể đoán niên đại khá chính xác.

Sao trời và lịch pháp định giờ đưa người xuống đất

Chữ viết nhắn cho người đời sau, còn bầu trời thì quyết định lúc nào đưa người xuống mộ.

Sự ra đời và phát triển của thiên văn cũng là một dấu mốc lớn của trình độ khoa học. Người xưa cho rằng sao trời gắn với thông tin đời người: mỗi vì sao đại diện cho một người nơi thế gian, sao lặn thì người tương ứng sắp chết. Trong chữ Hán cổ, "sao đổi ngôi" cũng là một cách nói về cái chết. Tả truyện đời Xuân Thu gọi cái chết của một số đại tướng là "đại mệnh vẫn trụy"; Tam quốc chí, phần Thục chí, gắn cái chết của Gia Cát Lượng với hình ảnh sao rơi; Thủy hử lấy ba mươi sáu sao Thiên Cang, bảy mươi hai sao Địa Sát ứng với một trăm linh tám anh hùng Lương Sơn Bạc, sao đổi ngôi cũng là ngày các vị ấy mất.

Chữ "đế" nghĩa gốc là thượng đế, thượng thiên. Người Ân gọi tổ tiên là "đế", như Đế Ất, Đế Tân, cho thấy họ tin hồn sau khi chết bay lên trời chứ không xuống đất. Người Thục xưa lấy năm màu xanh, đỏ, trắng, đen, vàng làm tên nhà thờ tổ tiên, tượng trưng cho năm phương Đông, Tây, Nam, Bắc và chính giữa. Từ Tây Hán, trong mộ thường thấy bốn tượng Thanh long phía Đông, Huyền vũ phía Bắc, Bạch hổ phía Tây, Chu tước phía Nam, mỗi tượng đại diện cho thất tinh của một phía. Từ Đông Hán, nhiều người tin sao Bắc đẩu trên trời quản tuổi thọ con người, người chết thì hồn quay về Bắc đẩu; "hồn về Bắc đẩu", "Cơ Vĩ quy thiên" cũng thành những cách nói đồng nghĩa với chết. Mộ cổ Trung Quốc thường có hình ảnh thiên văn, cho thấy người xưa hiểu tinh tượng đến mức nào.

Lịch pháp có hai loại. Lịch nguyên thủy là những hiểu biết và tích lũy sơ khai của xã hội thị tộc về thiên văn, tinh tượng và thời tiết đổi thay, chủ yếu truyền miệng. Lịch khoa học là phép tính tương đối chính xác có được nhờ quan sát tích lũy lâu dài về thiên văn, vòng quay bốn mùa, chênh lệch ngày giờ; có chữ viết thì mới ghi lại thành hệ thống, và thường do chính quyền ban bố. Cả hai đều ảnh hưởng lớn đến tang táng, trong đó lịch khoa học ảnh hưởng nhất.

Từ xã hội thị tộc, việc chôn cất đã gắn trực tiếp hoặc gián tiếp với lịch pháp. Thành viên chết đi phải chọn lúc nhập táng, lúc cử hành nghi thức; thị tộc có tục bốc mộ thì chôn vài năm rồi chọn ngày tháng thích hợp để lấy xương; hằng năm vào mùa nào tổ chức chôn chung, vào mùa nào cùng cầu khấn cho người chết đều phải tính thời gian. Ở Trung Quốc xưa, cả chuỗi việc từ cáo tang, phát tang đến làm giỗ, tảo mộ, thờ cúng đều lấy phép tính thời gian làm cơ sở; như tảo mộ và tết Thanh minh hằng năm, cúng tổ tiên vào giữa tháng Bảy, đều dựa vào lịch pháp.

Từ cuối Đông Hán, quan niệm ngày hoàng đạo, ngày tốt lành cũng ảnh hưởng đến chôn cất. Đạo gia gọi sáu vì sao Thanh long, Minh đường, Kim quỹ, Thiên đức, Ngọc đường, Tư mệnh là lục thần, sáu vị thần may mắn; ngày nào thuộc lục thần thì là ngày hoàng đạo. Khi có người chết, lúc nào động thổ đào huyệt, phát tang, chôn cất đều do đạo sĩ, thầy pháp theo sách vở mà chọn. Quan niệm này lan sang nhiều dân tộc thiểu số. Cách chôn cũng do sách định: vào mùa khác thì áp dụng phương pháp khác, như người Di thời Thanh, chịu ảnh hưởng của văn hóa Tạng, Khương, Hán nên dùng đủ thủy táng, hỏa táng, thổ táng, thiên táng. Có dân tộc thời cận hiện đại thì lúc khâm niệm, phát tang, nhập táng đều phải mời thầy Thủy thư dựa vào Thủy thư để chọn ngày; nếu ngày tháng không hợp thì quan tài phải chờ ngày tốt, chờ mấy ngày, thậm chí mấy tháng mới được chôn. Người Thổ Chú ở Cam Túc cho đến thời Dân quốc vẫn rất chuộng hỏa táng, nhưng ngày hỏa táng phải là ngày đẹp. Trên bia mộ, mộ chí, điêu khắc, hội họa, gạch mộ qua các thời đều có ngày, tháng, năm, giúp xác định chính xác thời đại ngôi mộ.

Vài ngày lễ truyền thống gắn rất chặt với nghi lễ chôn cất. Hàn thực, trước Thanh minh một hai ngày: tương truyền đời Xuân Thu, ngày Giới Tử Thôi bị lửa thiêu chết, Tấn Văn Công đau đớn vô cùng, để tưởng nhớ ông đã chọn ngày ấy làm ngày cấm lửa, chỉ ăn đồ lạnh. Tục này truyền đến đời sau nhưng mỗi vùng gắn cho nó một hàm nghĩa khác, như nhớ người con hiếu chết cháy, thờ thần lửa; có nơi Hàn thực diễn ra một ngày, có nơi kéo dài ba ngày. Thanh minh là một trong hai mươi bốn tiết khí, tục truyền vào ngày này người ta đi thắp hương tảo mộ. Trung nguyên, tức rằm tháng Bảy âm lịch, còn gọi là Quỷ tiết: theo quan niệm thời cổ, hôm ấy âm gian mở cửa cho linh hồn người chết về thăm người thân, nên đó là ngày giỗ tổ truyền thống của người Hán.

Chữ viết, thiên văn, lịch pháp hòa với tín ngưỡng nguyên thủy liên quan đến mai táng rồi dần đổi thay, làm hoạt động chôn cất thêm nhiều màu sắc văn hóa. Chúng cũng đẩy một số lượng lớn người không biết chữ, không hiểu thiên văn, lịch pháp ra khỏi vị trí làm chủ nghi lễ, và đem lại thuận lợi cho thầy pháp, đạo sĩ, tăng lữ trong việc chủ trì. Ở một mức nào đó, chúng đã nâng việc mai táng lên một tầng cao mới.

Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nho Gia