Bài tổng quan
Chú, mật ngữ, chân ngôn và ba chữ Án A Hồng
Có thứ tiếng chỉ Phật với Phật mới hiểu, và có thứ tiếng người thường niệm mỗi ngày: sáu chữ Án ma ni bát mê hồng. Chữ A được gọi là mẹ của vạn chú, chữ Hồng gom nguyện lực để phá chướng ngại. Vì sao vài âm ngắn ngủi lại được coi là hóa thân của chư Phật...
Ba tầng của một lời chú: chú, mật ngữ, chân ngôn
Phật chú chia làm ba loại là chú, mật ngữ và chân ngôn. Đó là một lối tu độc đáo của đạo Phật, và riêng mật ngữ là cách tu chủ yếu của Mật giáo, thuộc loại hoạt động tâm lý tầng cao của Phật học. Chỉ người tinh thông Phật học mới biết được ý nghĩa thật của nó.
"Chú" chỉ phép "cấm chú" của nhà Phật. Dù Hiển giáo (Đại thừa, Tiểu thừa) hay Mật giáo đều có chú ngữ, nguồn gốc rất xa, từ đạo Bà La Môn ở Ấn Độ. Đạo Phật chia thành Hiển giáo và Mật giáo; Hiển giáo là Đại thừa và Tiểu thừa, lấy tứ đế và mười hai nhân duyên của mười hai bộ kinh trong Tam tạng làm giáo nghĩa; Mật giáo là hai bộ Kim – Thai, tức Đại Nhật kinh và Kim cương đỉnh kinh. Chú ngữ là cách tu chính của Mật giáo, kết hợp với kết ấn và tâm mật, chỉ truyền cho người đã qua lễ quán đỉnh, không truyền cho người ngoài.
Chú, tức đà la ni
"Chú", tiếng Phạn là đà la ni (dharani), ý là "tổng trì". Chữ "trì" có hai nghĩa: giữ điều thiện không để mất, giữ điều ác không để sinh. Kinh Duy Ma nói: tổng trì là giữ điều thiện không mất, giữ điều ác không sinh, không để rò rỉ chỗ nào. Vì vậy chú có hai tác dụng huyền diệu: "năng trì" là giữ cho điều thiện không tan mất, và "năng già" là ngăn che điều ác. Bộ luận về trí độ nói: đà la ni dịch là "năng trì" hoặc "năng già"; năng trì là gom học các pháp lành, giữ cho không tan không mất, như chiếc bình lành đựng nước, nước không rỉ; năng già là khi tâm ác, căn bất thiện sắp nảy, thì ngăn lại không cho sinh; muốn làm điều tội ác thì giữ cho không làm được. Ấy gọi là đà la ni.
Đà la ni có bốn loại. Văn đà la ni giúp đời đời không mất Phật pháp. Nghĩa đà la ni giúp ghi nhớ mãi nghĩa của các pháp. Chú đà la ni là mật chú phát ra dựa trên thiền định, linh nghiệm khôn lường, tổng giữ mà không mất. Nhẫn đà la ni là hiểu được các pháp, an trụ trong thực tướng, giữ lấy sự nhẫn. Trong bốn loại, chú đà la ni huyền bí nhất, có thể tiêu tai trừ hại, là lời bí mật phát ra từ thiền định của Bồ đề. Có kinh nói: nương thiền mà khởi được thuật chú, vì chúng sinh trừ tai họa, thần nghiệm bậc nhất, gọi là chú đà la ni. Cả Hiển giáo lẫn Mật giáo đều dùng loại này; Đạo giáo Trung Quốc cũng có phép chú riêng gọi là "cấm chú pháp", thần thông rộng lớn, có thể trừ hại, tránh tai, ban phúc. Gom lại, công dụng của đà la ni có hai: "năng khởi", giúp điều thiện, hiển lộ uy lực; và "năng già", ngăn che, giúp tránh làm điều ác.
Mật ngữ và chân ngôn
Mật ngữ là thứ tiếng mà người thường, cả bên Hiển giáo cũng không biết. Có bộ sách nói: mật ngữ là điều phàm phu và hai thừa không biết nổi, nên gọi là mật ngữ. Đó còn là những lời mang mật ý, phần khó nhất của Như Lai; Mật giáo dùng mật ngữ để giảng giáo pháp, người chưa làm lễ quán đỉnh nghe không hiểu. Như Đại Nhật Như Lai trong hai bộ giáo pháp Kim – Thai dùng mật ngữ truyền nội bộ, không dạy người chưa quán đỉnh. Bởi thế kinh là nói rõ về trí tuệ, còn chú là nói ngầm về trí tuệ.
Khẩu mật của Mật giáo còn gọi là chân ngôn, là mật ngữ trong ba mật mà Như Lai thuyết giáo, cũng gọi là Chân ngôn bí tạng. Chữ "chân ngôn" mang ý "chân thật, không hư dối": lời nói chân thật của đức Như Lai, không hư vọng. Tiếng Phạn là "mạn đát la" (mantra), cũng thuộc mật ngữ, là phép gia trì của Mật giáo. Một bản sớ giải của Đại Nhật kinh viết: chân ngôn là tiếng Phạn "mạn đát la", tức tiếng chân thật, như thật, không dối, không khác. Có bộ luận cũ dịch là "chú", nhưng không phải bản dịch đúng. Chân ngôn chia làm năm loại, theo người nói: Như Lai nói, Bồ tát Kim cương nói, hai thừa nói, chư thiên nói, địa cư thiên nói. Tông phái nhà Phật dùng chân ngôn bí ngữ để thuyết giáo gọi là Chân ngôn tông. Sở dĩ "chú" còn gọi là chân ngôn vì đó là tiếng nói của tâm, xuất phát từ chân tâm.
Các loại chú theo cách tu và theo cách dùng
Cũng một chữ "chú" mà có chú để phá ma, có chú để soi sáng, có chú để diệt tà tâm. Phân loại cho rõ mới biết mỗi thứ dùng vào việc gì.
Theo góc độ tu trì, lấy Tâm kinh Bát nhã làm chuẩn, có các loại chú sau:
- Đại thần chú: đà la ni chứa thần lực lớn, khiến người thọ trì phá được mọi ma chướng.
- Đại minh chú: có "minh lực" vô song, chiếu phá mê muội của chúng sinh; thần lực này diệt mê muội và chướng ngại.
- Đại bi chú: thần chú diệt tà tâm, dứt vọng dục, là tên khác của Thiên thủ đà la ni. Kinh Thiên thủ nói ai xưng tụng đại bi chú thì lửa tham dục tắt, tà tâm trừ. Đại bi chú ghi trong kinh Thiên thủ là tâm chú của Quán Thế Âm Bồ tát nghìn mắt nghìn tay, rộng lớn viên dung không ngại, do Già Phạn Đạt Ma đời Đường dịch, khiến người thọ trì thành quả Phật.
- Vô thượng chú: mang thâm ý cao nhất của đạo Phật, giúp người thọ trì vượt khỏi thế gian, chứng Niết bàn vô thượng.
- Vô đẳng đẳng chú: thuộc loại tuyệt chú; cùng ba chú trên gọi là bốn đại chú của Tâm kinh. "Vô đẳng đẳng" là tôn hiệu đạo Phật không gì sánh. Kinh Duy Ma nói đạo Phật siêu tuyệt không ai ngang hàng, chỉ Phật với Phật mới ngang nhau, nên gọi vô đẳng đẳng.
Một cách chia khác gồm ba loại: tâm chú, hỏa giới chú và từ cứu chú. Tâm chú là chân ngôn trong tâm, cũng gọi nhất tự chú, là pháp thắng diệu trong tim Như Lai. Hỏa giới chú là chân ngôn hỏa giới, "giới" là giới hạn, nghĩa là giữ lấy tâm tính của lửa, không lẫn với vật tướng khác. Từ cứu chú là chân ngôn của Bất Động Minh Vương, một vị tôn trong Mật giáo, gặp mọi ác ma mà không động vì có thần lực của Phật, có chư Phật bao quanh.
Cách chia thứ ba theo chú ngữ của các tôn: đại chú, tiểu chú và nhất tự chú. Chú nhiều chữ nhất gọi đại chú, kế là tiểu chú, rồi tâm chú. Tâm chú cũng là "chú tâm", phần tinh yếu của chú, ngắn nhất trong cả bài. Chẳng hạn kinh Lăng Nghiêm có bốn trăm hai mươi bảy câu chú, tám câu cuối là tâm chú, nghĩa là tổng trì; ngày mười ba tháng bảy hằng năm nhà Thiền ở hội Lăng Nghiêm đều xướng niệm phần tâm chú ấy. Tâm chú của Tâm kinh Bát nhã là bí ngữ cô đọng toàn kinh. Ngoài ra nhiều kinh đều có chú riêng, như kinh A Di Đà có vãng sinh chú, kinh Lăng Nghiêm có Lăng Nghiêm chú (còn gọi Phật đỉnh chú). Còn có cả những bộ kinh chuyên về chú như Tối thánh đăng vương thánh chú kinh, Mật chú viên nhân vãng sinh tập, Hộ mệnh thần chú kinh, Đại quán đỉnh thần chú kinh.
Ba công dụng của Phật chú
Cầu cho mình hoặc cầu cho người; tiêu tai; hàng phục ma. Mỗi công dụng ứng với một lối niệm.
Chú cầu nguyện
Chú cầu nguyện có tác dụng tăng ích, kéo dài tuổi thọ, thành Phật, ban phúc. Chủ yếu người tu dùng tâm niệm thành kính cảm ứng với uy lực tối cao của Phật và Bồ tát để nhận vô lượng công đức, mau vượt "ải phàm thánh" mà chứng quả Phật cao nhất. Đây là lời chúc tối cao của Phật chú, cũng là tâm chú kêu gọi Bồ tát rộng độ chúng sinh, nên còn gọi là nhiếp chiếu chú. Bài chú trong Tâm kinh là biểu tượng thần lực của Phật chú: "Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha", nghĩa là sang đi, sang đi, sang bờ bên kia, chúng sinh cùng sang bờ bên kia, mau thành đạo giác ngộ vô thượng. Trong ấy có tâm bi sâu của Phật và Bồ tát phổ độ, cầu cho chúng sinh thoát phiền não, rời bể khổ, bước lên bờ giác.
Người tu thành kính, dốc lòng niệm mười vạn lần sẽ cộng hưởng với Phật mà được giúp thoát khổ. Loại chú này thường thấy bên Hiển giáo, tuy "bí nhưng không dịch" nhưng từ ngữ chỉ là lời cầu nguyện nên cũng gọi đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú hay vô đẳng đẳng chú. Còn có các thần chú phổ độ chúng sinh như Quảng tế chúng sinh thần chú, Đắc sinh Tịnh Độ thần chú. Niệm thầm mười vạn lần "Nam mô A Di Đà Phật" thì được công đức vô lượng. Đại minh chú sáu chữ của Quán Thế Âm "Án ma ni bát mê hồng" cũng có sức cảm triệu lớn như vậy. Chú tăng thọ như "Di Đà trường thọ hợp tu" của Vô thượng Du già, mỗi ngày tụng một nghìn lần sẽ thấy hiệu quả. Phật chú còn nhiều chú cầu phúc: kinh Niết bàn nói đã trao cho các ngươi thần chú để an vui bốn bộ chúng; kinh A Hàm nói chú nguyện có sáu đức, thí chủ thành tựu ba pháp: tín căn, giới, văn thành tựu; vật sắc, vị, hương thành tựu. Chú nguyện là việc lớn của nhà Phật, thường do các bậc đại sư tụng trong pháp hội; nếu nhiều người cùng tụng thì nguồn cảm triệu càng lớn.
Mật giáo, như Tạng Mật, thường dùng chú chữ Phạn: tam tự chú, ngũ tự chú, nhất tự chú... Chẳng hạn "Án", "A", "Hồng": chữ Phạn thường là hóa thân của chư Phật. Nhất tự chú là "mẹ của vạn chú" nên còn gọi chủng tử chú.
Chữ "Án" thuộc đà la ni của Thai Tạng giới Mật giáo, khi gia trì tụng chú này có năm ý: quy mệnh, tức cảm ứng công đức người đã thành Phật, giúp thành Phật quả; cúng dường, tức lòng thành được chư Phật cảm hóa mà nhận cúng dường; trừ ác, tức dùng âm "Án" thành kính đánh thức Phật tính vốn có; nhiếp phục, tụng chú này thì mọi thần ma đều bị hàng phục; tam thân, tức pháp, báo, hóa, cũng dùng khi quán tưởng. Đức Thích Ca chính là quán chữ "Án" trong vầng trăng thanh tịnh mà thành Phật.
Chữ "A" mang nghĩa lớn nhất trong tiếng Phạn. Đại Nhật kinh nói chữ A là gốc của mọi pháp giáo, chủng tử của mọi chữ; Phật giáo cho là "nguồn của muôn chữ", có trăm ý nghĩa. Ba mật của Mật giáo rất trọng chữ "A", xem là "chủng tử của vầng trăng". Khi tu quán tưởng, miệng tụng âm "A", trong tâm tưởng một vầng trăng dâng lên, trong đó có hoa sen trắng tám cánh, trên đó hiện chữ "A" màu vàng lấp lánh. Chữ "A" còn là chủng tử chú, là "mẹ của vạn chú", nên nhà Phật nói tụng âm "A" hay quán chữ "A" có bốn công dụng: dứt tai, tăng ích, hàng phục, nhiếp triệu. Đại Nhật kinh có nói người muốn thấy Phật, muốn cúng dường, muốn phát Bồ đề tâm, muốn cùng các Bồ tát đồng hội, muốn lợi chúng sinh, muốn cầu tất địa, muốn cầu nhất thiết trí, đều nên chuyên tu chữ "A" này. Kinh Kim cương đỉnh nói: cửa chữ A là tất cả pháp vốn vắng lặng. Kinh Đại trang nghiêm nói khi xướng kéo dài chữ A thì phát ra tiếng tự lợi lợi tha. Có thể thấy chữ "A" quan trọng thế nào.
Chữ "Hồng" mang ý nghĩa rất sâu, gồm hết muôn pháp. Đại sư Không Hải của Phật học Nhật Bản có hẳn một tác phẩm riêng nghiên cứu nghĩa chữ "Hồng", cho rằng nó gần với chữ "A". Chữ này hàm nghĩa bốn chữ: thần lực tập trung, Phật lực phá nghiệp chướng.
Đa tự chú chủ yếu là tam tự chú, lục tự chú hoặc chú nhiều chữ hơn, đều là hóa thân của chư Phật. "Tam tự chú" là lấy "Án, A, Hồng" làm thành một bài chú, thầm niệm nhiều lần, đến mười vạn lần thì công đức tự hiện. Trong đó âm "Án" thường nhiều nhất, cảm ứng với thiên thần, tụ Phật lực chư Phật ở đỉnh luân. Kế đến âm "A", cảm ứng với người, khi tụng thì thu nghiệp lực nhân gian, của những người đã và chưa thành Phật, về tâm luân. Cuối cùng âm "Hồng" cảm ứng với đất, tập trung nghiệp lực của địa thần ở vòng dưới cùng. Ba nguồn từ đỉnh luân tới luân dưới cùng đều tụ về tâm luân, dần dần nổi lên vầng trăng sáng, hiện bản tôn, sinh sự cảm triệu với chư Phật bên ngoài.
"Lục tự chú" tức sáu chữ: xuy, hô, hi, ha, hư, tứ. Thường tụng chú này có tác dụng tu trì, ích thọ, khỏe mạnh. Nhà Phật cho rằng nó thông với ngũ tạng; theo một bộ sách về chỉ quán thì "ha" trị gan, "xuy, hô" trị tim, "hư" trị phổi, "hi" trị thận, "hô" trị tỳ. Chú nhiều chữ như chân ngôn chủng tử của Quán Thế Âm Bồ tát, chữ Phạn "A lợi da phạ lộ cát đế thấp phạ la" nghĩa là Thánh Quán Thế Âm, hay Quán Tự Tại Bồ tát. Kinh Pháp hoa chú giải: chúng sinh khổ não, nhất tâm xưng danh, Bồ tát tức thời nghe tiếng ấy mà cứu, nên gọi là Quán Thế Âm. Quán Âm là hóa thân của Di Đà: ở Tịnh Độ là Vô Lượng Thọ Phật, ở thế giới nhiễm trần cứu độ chúng sinh thì là Quán Thế Âm. Chủng tử là "Tát", chân ngôn là "Án A lạc lợi ca sa ha", nghĩa là không nhiễm; Quán Thế Âm gồm Thánh Quán Âm, Thiên Thủ, Mã Đầu, Thập Nhất Diện, Chuẩn Đề, Như Ý Luân. Đây là tiểu chú của Thánh Quán Âm, còn gọi là Liên hoa bộ tâm chú.
Chú tiêu tai
Phép tu chân ngôn gồm bốn loại: tức tai, tăng ích, hàng phục, kính ái. Kinh nói "tức" là dẹp tai họa bất ngờ cho mọi chúng sinh. Tiêu tai chú do Phật nói trong kinh Xí thịnh quang đại uy đức tiêu tai cát tường đà la ni (Bất Không dịch): ai thọ trì đọc tụng đà la ni này sẽ thành tựu tám vạn việc cát tường, diệt tám vạn việc bất cát. Lại như kinh Tiêu trừ nhất thiết tai chướng bảo kế đà la ni, kinh Tiêu trừ nhất thiết thiểm điện chướng nạn tùy cầu như ý đà la ni do Thi Hộ đời Tống dịch, chép việc Phật ở nước Xá Vệ cùng A Nan nói pháp và thần chú, trong đó có chú của Quán Tự Tại. Còn có "điện vũ chú", thần chú cầu mưa tiêu tai. Có cả kinh thần chú trị bệnh như Chú thời khí bệnh kinh (Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch), chú hạ long thần cầu mưa, chép nhiều trong kinh Phật.
Chú hàng phục
Chân ngôn và mật chú cũng có thần lực hàng ma trừ hại. Chẳng hạn chân ngôn "hàng phục tứ ma Kim Cương hí tam muội"; Đại Nhật kinh phẩm tất địa xuất hiện chép việc Thế Tôn Tì Lô Giá Na lại vào định hàng phục bốn ma, nói câu kim cương trí để hàng phục bốn ma, giải phục sáu thứ, đầy đủ nhất thiết trí.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
