Bài tổng quan
Linh bảo tất pháp: khí dịch sinh nhau theo nhịp thăng giáng
Giờ Tý khí sinh nơi thận, giờ Ngọ dịch sinh nơi tim, giờ Dậu dịch đầy nơi phổi: người xưa xếp hơi thở của một ngày vào nhịp của cả năm. Chung Ly Quyền, thầy của Lã Động Tân, dựng nên cả một lối nội đan từ nhịp ấy. Khí và dịch gặp nhau thế nào mà thành đan?
Bộ kinh ba quyển của người thầy Lã Động Tân
Linh bảo tất pháp là một trong những bộ kinh quan trọng của nội đan Đạo gia. Người soạn là một chân nhân đời Đường, tự là Tịch Đạo, hiệu Chính Dương tử, người được kể là thầy của đạo sĩ Lã Động Tân; trong các đoạn bàn công pháp, bộ kinh còn gọi ông bằng họ Chung, tức Chung Ly Quyền. Kinh chia làm ba quyển thượng, trung, hạ, cả thảy mười thiên.
Điểm riêng của nó nằm ở chỗ lấy lý luận “khí dịch tương sinh” để chỉ đạo công pháp nội đan. Cả bộ chia hai phần lớn là “kim dịch hoàn đan” và “ngọc dịch hoàn đan”. Kinh bàn sâu mối quan hệ giữa khí, dịch với bát quái trong dịch lý, nhờ vậy đã hình thành một loại công pháp khá riêng, được giới khí công đời sau rất để ý và coi là căn cứ lý luận cho việc lấy thân người làm lò luyện.
Khí và dịch sinh nhau, như đông chí rồi hạ chí
Hãy tưởng tượng một năm bốn mùa được thu nhỏ vào hai mươi bốn giờ của một ngày, rồi thu nhỏ nữa vào bên trong thân người.
Cơ sở của kinh là lý âm dương thăng giáng: đắc dương thì thăng, trúng âm thì giáng. Trong một năm, sau tiết đông chí, một dương sống lại; khí dương mỗi ngày lên mãi, đến kỳ tam phục thì một âm bắt đầu sinh. Sang hạ chí, âm sinh, rồi lớn dần cho tới đông chí thì một dương lại sinh ra. Âm dương cứ dương thăng âm giáng như vậy, quay vòng không dừng, ứng với nhịp quái khí của trời đất.
Trong thân người, kinh nói khí và dịch cũng sinh nhau như thế:
Tích khí sinh dịch, tích dịch sinh khí.
Khí loãng thì khó sinh dịch, dịch ít thì khó sinh khí. Kinh gắn nhịp ấy vào các giờ trong ngày. Giờ Tý, khí sinh nơi thận; giờ Mão, khí sinh nơi gan, đó là dương thăng vào đúng vị của dương, như tiết xuân phân. Đến giờ Ngọ khí sinh nơi tim, khí đầy thì sinh dịch, như hạ chí khi dương lên cực điểm thì một âm nảy ra. Đến giờ Dậu, dịch thịnh nơi phổi, phổi thuộc âm, khí âm về đúng vị của âm, như thu phân. Rồi giờ Tý trở lại, dịch dầy lại sinh khí, như sau đông chí âm cực mà dương mọc. Cứ thế vòng quanh không hết.
Vì vậy, kinh dạy hơi thở nông sâu của người phải đi cùng thăng giáng âm dương của tự nhiên: lúc khí trời đất đang vượng thì tăng hít giảm thở, lúc khí trời suy thì ngược lại. Giờ Mão dương thịnh nên hít nhiều chính khí của trời đất, thở ra ít nguyên khí của mình, để hai khí gặp nhau, khí đầy thì sinh dịch ở ngũ tạng, dịch đầy lại sinh khí. Đó là lý luận “âm dương tương phối, khí dịch tương sinh” của Chung Ly Quyền.
Kinh còn nối khí dịch với thủy hỏa ở tâm và thận. Giờ Tý thuộc quẻ Khảm, thận sinh khí; giờ Ngọ thuộc quẻ Ly, tâm sinh dịch. Khí từ thận lên có nước trong đó, gặp quẻ Ly thì nhận khí của tâm, đầy lên mà thành dịch; dịch từ tâm xuống có khí trong đó, gặp thận quẻ Khảm thì hòa với thủy của thận, dịch dầy sinh khí. Kinh gọi cái cảnh thủy hỏa, khí dịch của tâm thận gặp nhau mà sinh nhau ấy là “long hổ giao cấu”: cái khí có nước và cái dịch có khí ấy chính là rồng và hổ.
Tụ rồi tán, thủy hỏa theo nhịp của trời
Có lúc phải gom lại, có lúc phải buông ra, và kinh gắn từng việc ấy với từng quẻ.
Trong thiên “Tụ tán thủy hỏa”, kinh nói việc tích tụ hay phát tán chân khí trong thân có quan hệ tương ứng với sự đổi thay của âm dương trong trời đất. Sau đông chí một dương sinh, đến xuân phân âm dương cân bằng, rồi dương mạnh lên, âm tàn dần; đến hạ chí dương cực thì một âm sinh, đến thu phân lại cân bằng, rồi âm mạnh lên, dương dần tàn; đến đông chí âm cực thì một dương lại sinh. Kinh nói nhịp thăng giáng này liên hệ mật thiết đến cơ thể về cả bệnh lý lẫn sinh lý.
Về bệnh lý, kinh ví tâm thận như trời đất, khí dịch như âm dương. Theo hậu thiên bát quái, tiết lập xuân giống quẻ Cấn trong ngày, vào khoảng giờ Sửu đến giờ Dần, khi khí của thận mới truyền xuống bàng quang còn rất yếu, nên dương khí khó lên. Tiết lập đông giống quẻ Càn, vào khoảng giờ Tuất đến giờ Hợi, dịch không nhập vào tâm mà trả về cho thận, ấy là lúc âm thịnh dương suy. Người ta ốm đau chỉ vì âm dương bất hòa, dương yếu âm mạnh thì dễ sinh bệnh.
Về sinh lý, dương sinh thì khí tụ, dương tiêu thì khí tán. Ứng với bát quái: quẻ Khảm là lúc khí âm đến cực điểm mà một dương sinh; đến quẻ Cấn, dương khí còn yếu nhưng là gốc cho sự lớn lên, nên lúc ấy nên bổ dưỡng nguyên khí; đến quẻ Càn, dương khí đã thịnh nhưng dịch khí bắt đầu phân tán, nên phải tích tụ lại. Chung Ly Quyền viết rằng nên bổ dưỡng hay tích tụ nguyên khí đều phải thuận theo sự tụ tán của chân khí trời đất, làm trái thì có hại.
Người xưa ghi lại một cách thể nghiệm: lúc khí dương đang lên, ngồi tĩnh, quên mọi việc, tập trung tư tưởng, thở nhẹ, co duỗi tay chân vài lần, nuốt nước bọt, lấy tay xoa nhẹ đầu mặt, thở sâu cho khí tích suốt đêm thoát ra; làm nhiều lần da dẻ sẽ tươi nhuận, sắc mặt hồng hào. Đó là “tán hỏa”, còn gọi là “tiểu luyện hình”. Lúc dương thu lại thì ngồi lặng trong phòng, thu nguyên khí về, dồn hỏa ở trên và dưới về thận, ba luồng hỏa hòa làm một, vùng rốn ấm lên, khí tích lại sinh dịch; ấy là “tụ hỏa”. Kinh dặn phải kiên trì ít nhất ba trăm ngày mới thấy hiệu quả: da dẻ hồng nhuận, bụng dưới ấm, tiểu ít, người nhẹ, đầu óc sảng khoái, bệnh giảm. Đó là lời ghi của cổ nhân về một lối tĩnh công, không phải phép chữa bệnh, và người đọc ngày nay nên hiểu theo nghĩa ấy.
Ngọc dịch và kim dịch trở về đan điền
Hai chữ “dịch” trong kinh còn được tách thành hai thứ, một thứ trong miệng và một thứ đi vòng qua đỉnh đầu.
Ngọc dịch là nước bọt sinh ra khi khí của thận dâng lên gặp khí của tâm; miệng ngậm lại, hai khí đi qua cổ họng rồi đọng ở khoang miệng mà thành. Đến khi dịch nhiều thì nuốt xuống, gọi là “ngọc dịch hoàn đan”; còn quá trình hai khí dâng lên gọi là “ngọc dịch luyện hình”. Cách làm kinh chép: đưa đầu lưỡi lên hàm ếch cứng, nuốt sạch dịch có sẵn, rồi hạ lưỡi xuống cho dịch tiết ra, chứ không súc miệng rồi nuốt ngay; nếu miệng chưa có dịch thì ngậm miệng, nuốt khí trong khoang miệng, vì khí cũng đã mang theo nước.
Kinh còn nói phải biết chọn thời điểm: trong năm chọn tháng, trong tháng chọn ngày, trong ngày chọn giờ. Ba tháng xuân can khí vượng, tỳ khí nhược, nên chọn ngày có quẻ Ly. Ba tháng hạ tâm khí vượng, phế khí nhược, nên chọn ngày có quẻ Tốn. Ba tháng thu phế khí vượng, can khí nhược, nên chọn ngày có quẻ Cấn. Ba tháng đông thận khí vượng, tâm khí nhược, nên chọn ngày có quẻ Chấn. Bốn mùa tỳ khí thường vượng mà thận khí nhược, nên người luôn lấy việc bồi thận khí làm gốc.
Kim dịch là phế dịch, thứ nước hình thành ở phổi, thuộc kim, do thận khí hợp với tâm khí mà ngưng ở phổi. Kinh mô tả đường đi như sau: nguyên khí từ hạ điền đi lên theo huyệt vĩ lư, vào cung nê hoàn ở não, rồi từ não chuyển xuống trở về hạ điền, ấy là “kim dịch hoàn đan”; sau đó từ hạ điền tỏa khắp thân, ấy là “kim dịch luyện hình”. Thận khí cùng tâm khí bay lên ngưng ở phổi, phổi là cái hoa cái che trên hai khí ấy, rồi dịch của phổi lại truyền xuống hạ điền, sinh ra khí, trở lại đường cũ.
Công pháp cụ thể kinh chép là: sáng sớm mới ngủ dậy, hỏa khí đang lên, ngồi ngay ngắn, tập trung tư tưởng, quên hết việc ngoài, chỉ nghĩ đến luyện đan. Lúc ấy là quẻ Cấn, khí dương dâng lên. Ngả đầu nhẹ ra sau, rồi từ từ cúi trở lại phía trước, đưa đầu lưỡi lên hàm ếch mềm, dịch trong miệng tiết ra thì nuốt ngay, cho dịch trở về hoàng đình, như vậy gọi là kim dịch hoàn đan.
Những công pháp và lý luận ấy, theo lời cổ nhân, là thể nghiệm của Chung Ly Quyền về nội đan, đáng cho người nghiên cứu khí công xem xét và tham khảo. Điều nên giữ lại có lẽ là cái nhìn xuyên suốt: hơi thở, nước bọt, tâm và thận, mùa và giờ, tất cả được xếp vào cùng một nhịp thăng giáng của âm dương.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
