Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tuân Sảng, dương thăng âm giáng và gốc của quái biến

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/20267 phút đọc3 lượt đọc
Tuân Sảng, dương thăng âm giáng và gốc của quái biến

Hào hai của Càn bước lên ngôi năm của Khôn, hào năm của Khôn bước xuống ngôi hai của Càn, và từ cuộc đổi chỗ ấy hiện ra Ly và Khảm, mặt trời và mặt trăng. Đó là cách Tuân Sảng đọc sự sinh ra của sáu mươi bốn quẻ. Một phép đổi chỗ tưởng nhỏ lại mở cửa cho cả quái biến về sau.


Tuân Sảng, sống từ năm 128 đến năm 190, là nhà kinh học Đông Hán và Dịch học gia nổi tiếng. Ông còn có tên là Tư, tự Từ Minh, người đất Dĩnh Xuyên, nay thuộc Hà Nam, là cháu mười hai đời của Tuân Huống. Từ nhỏ ông đã thông hiểu kinh điển, đọc hết các kinh. Hậu Hán thư chép rằng ông đi sâu nghiền ngẫm kinh thư, ít lo chuyện điếu phúng chúc mừng, và không ứng mệnh khi bị triệu gọi, cho thấy chí dốc sức tự học của ông.

Vua Hoàn đế phong ông chức Lang trung, về sau ông về ẩn cư viết sách; vua Hiến đế cho ông làm Tư Không, rồi ông mất vì bệnh. Học thuật của ông gốc từ Dịch cổ văn của Phí thị, đồng thời có tiếp nhận tượng số. Cùng với Phí Trực và Mã Dung, ông được gọi chung là ba nhà của Dịch cổ văn đời Hán.

Bộ chú còn sót lại trong tay người đời sau

Chu Dịch chú của ông gồm mười một quyển, nay đã mất; các tác phẩm khác như Thượng thư chính truyện, Thi truyện, Xuân thu điều lệ cũng thất lạc. Phần chính của bộ chú Dịch còn được Lý Đỉnh Tộ chép lại trong Chu Dịch tập giải, thêm một quyển Chu Dịch Tuân thị chú trong bộ hai mươi mốt nhà chú Dịch thời Hán Ngụy, và Huệ Đống cũng dẫn giải trong Dịch Hán học. Cả hai là tư liệu quý để nghiên cứu Dịch cổ văn và Dịch Hán.

Dương thăng, âm giáng: phép đổi chỗ hào hai và hào năm

Hai ngôi giữa của hai quẻ lớn nhất trao đổi cho nhau, và từ đó cả bàn cờ sáu mươi bốn quẻ bắt đầu chuyển động.

Tuân Sảng kế thừa và phát triển Dịch cổ văn của Phí thị: lấy truyện giải kinh, chú trọng huấn hỗ khảo chứng. Nhưng ông không dừng ở đó, mà tiếp nhận đầy đủ thuyết quái khí của Mạnh Hỉ và Kinh Phòng rồi phát triển thêm, làm cho lời chú kinh có sinh khí, và sửa tính câu nệ của Dịch Phí Trực. Dịch chú của ông không chỉ chia chương cú mà còn chú trọng giải nghĩa lý, và có sáng tạo riêng là thuyết dương thăng, âm giáng. Nhờ vậy bộ chú vừa nghiêm cẩn như Dịch cổ văn, vừa mang tinh thần đổi mới của kim văn, mà không đi theo đường âm dương tai biến. Có thể xem đó là bộ tập đại thành ưu điểm của cả hai lối.

Ông coi Càn Khôn là cơ sở của sáu mươi bốn quẻ. Khi giải quẻ Ký Tế, ông viết rằng trời đã biến đổi, dương thăng âm giáng, cho nên cái nhỏ thì hanh. Nguyên tắc là: hào hai và hào năm của quẻ Càn và quẻ Khôn đổi chỗ cho nhau, cứng mềm giúp nhau. Hào chín hai của Càn vốn xuất từ Càn nên gọi là dựa vào trời, nhưng đứng ở ngôi sáu năm của Khôn; hào sáu năm của Khôn vốn xuất từ Khôn nên gọi là dựa vào đất, nhưng xuống ở ngôi hai của Càn, nên nói thân cận với dưới. Huệ Đống tóm lại rằng dương đang ở ngôi hai thì thăng lên ngôi năm của Khôn làm vua, âm ở ngôi năm thì giáng xuống ngôi hai của Càn làm tôi. Chỗ này chịu ảnh hưởng tư tưởng tôn ti vua tôi của Nho gia, mà nguyên lý Càn Khôn dương thăng âm giáng vốn từ Chu Dịch mà ra.

Kết quả của phép đổi chỗ ấy: hào sáu năm của Khôn xuống ngôi hai của Càn thì thành quẻ Ly, tức mặt trời; hào chín hai của Càn lên ngôi năm của Khôn thì thành quẻ Khảm, tức mặt trăng. Khi chú quẻ Ly ông viết rằng dương thăng ở ngôi năm, ánh sáng chan hòa, âm lui ở ngôi bốn, tro than rơi xuống. Rồi hào hai, hào năm của Khảm và Ly lại đổi chỗ, thành hai quẻ Ký Tế và Vị Tế, đóng lại phần cuối của Hạ kinh.

Về câu mặt trời chói lợi chuyển vận không ngừng, ông giải rằng Càn bắt đầu từ Khảm và kết thúc ở Ly, Khôn bắt đầu từ Ly và kết thúc ở Khảm, Ly và Khảm là nhà của Càn Khôn, nơi ở của âm dương. Lý luận này dựa theo lời Kinh Phòng rằng Càn Khôn là gốc rễ của âm dương, Khảm Ly là tính mệnh của âm dương. Quái biến của Kinh Phòng và Tuân Sảng đã đặt cơ sở lý luận cho sự tu luyện của đan gia đời sau.

Cánh cửa mở cho tượng số và bói phệ

Một người chuộng nghĩa lý lại để lại cho tượng số một công cụ mới rất tiện tay.

Tuân Sảng dựa vào mối thừa ứng của các hào và sự biến hóa âm dương để đặt nền cho thuyết quái biến của Ngu Phiên. Thuyết dương thăng âm giáng giữa hào hai và hào năm mở rộng cách đọc bát quái, làm cho việc giải Dịch linh hoạt hơn. Về mặt khách quan, nó mở ra một khoảng rộng cho việc bói phệ.

Chú câu muôn vật nhờ nó mà bắt đầu, ông viết rằng sáu mươi bốn quẻ phân ra một vạn một nghìn năm trăm hai mươi sách, tất cả đều sinh ra từ Càn, như muôn vật sinh ra từ trời. Chú câu giúp cho thần minh bằng cách dùng cỏ thi, ông giải rằng sách của hào dương là ba mươi sáu, của hào âm là hai mươi bốn, của hai thiên là một vạn một nghìn năm trăm hai mươi, trên phối với các sao, dưới phụ vào số của vật; cỏ thi sinh ra từ trong hào. Chú câu cùng hợp sáng với mặt trời mặt trăng, ông viết rằng sáu năm của Khôn đến ngôi hai của Càn thành Ly, Ly là mặt trời; chín hai của Càn đến ngôi năm của Khôn thành Khảm, Khảm là mặt trăng. Nghĩa là sau khi hai hào đổi vị thì Càn Khôn biến thành Ly Khảm.

Hào biến, quái biến của Tuân Sảng rất phong phú, và đã đóng góp lớn cho việc ứng dụng linh hoạt trong việc lập quẻ, biến quẻ và giải quẻ lúc bói phệ.

Vị trí giữa hai dòng Dịch cổ văn và kim văn

Đứng giữa hai dòng đối nghịch mà không thuộc hẳn về dòng nào, ông trở thành mối nối.

Sau Mã Dung, Dịch cổ văn càng thịnh còn kim văn càng suy, và Tuân Sảng đóng vai trò quan trọng ở đó. Dịch chú của ông kế thừa phong cách nghĩa lý, lấy truyện giải kinh như Phí Trực và Mã Dung, đồng thời tiếp thu sở trường lấy tượng số giải Dịch của Mạnh Hỉ và Kinh Phòng, nên trở thành tác phẩm tiêu biểu nối tiếp sau Dịch chú của họ Mã trong dòng Dịch chú cổ văn đời Hán.

Ông cũng coi trọng mười hai quẻ tiêu tức trong chú Dịch. Việc sáng lập thuyết dương thăng âm giáng của hào hai, hào năm mở ra con đường quái biến, tức là đặt bước đầu cho thuyết quái biến của Ngu Phiên, làm cho nội dung tượng số của Hán Dịch thêm phong phú, đồng thời tạo điều kiện cho thuật số và bói phệ linh hoạt hơn.

Tuy coi trọng tượng số, ông không theo lối âm dương tai biến, nên Dịch cổ văn không đi vào vết xe của thuyết tiêm vĩ và tai biến đời Hán. Tóm lại, Tuân Sảng đã đẩy mạnh sự phát triển Dịch cổ văn, tượng số và thuật số đời Hán, và là Dịch học gia nổi tiếng có nhiều đóng góp kiệt xuất.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện