Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Mười phần chỉ dùng năm, để năm phần lại cho cháu con

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Mười phần chỉ dùng năm, để năm phần lại cho cháu con

Người khôn ngoan mười phần thường chỉ dám dùng năm, vì phần còn lại phải để cho kẻ đến sau. Cổ nhân dặn điều ấy bằng đủ thứ hình ảnh, từ lời hứa dễ dãi cho đến giọt sương trên lá. Còn người đến hỏi bói về họa phúc thì nhận về một câu trả lời khác hẳn điều mình mong…


Người không tính xa, lời hứa bừa và lòng thương mình

Khổng Tử có một câu ngắn mà nhiều người đã phải trả giá mới hiểu:

Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu.

Người không nghĩ xa thì ắt phải lo gần. Đi liền với nó là hai nhận xét về lời nói:

Khinh nặc giả, tín tất quả.

Diện dự giả, bối tất phi.

Người nhận lời dễ dàng thì ít khi giữ được chữ tín. Người khen trước mặt thì sau lưng thường chê.

Cảnh Hạnh Lục xét lại chữ thương mình, chữ dè sẻn, chữ nhẫn, và cho thấy từng chữ đứng lệch thì thành ra điều gì:

Năng tự ái giả, vị tất năng thành nhân. Tự khi giả, tất võng nhân. Năng tự kiệm giả, vị tất năng chu nhân. Tự nhẫn giả tất hại nhân.

Thử vô tha vi thiện nan, vi ác dị. Phú quý dị ư vi thiện, kỳ vi ác dã diệc bất nan.

Người biết thương bản thân chưa chắc đã giúp cho người khác nên người. Người quen dối chính mình thì ắt giỏi lừa người. Người biết dè sẻn với mình chưa chắc biết cứu giúp ai. Người tàn nhẫn với chính mình thì ắt sẽ hại người. Chẳng có gì lạ, chỉ vì làm lành khó mà làm dữ dễ. Người giàu sang dễ có điều kiện làm lành, nhưng làm ác cũng chẳng khó gì với họ.

Một cơn mưa nhuần vườn ruộng có thể làm khổ người đi đường, một vầng trăng sáng đem bình yên cho nhà lại làm kẻ trộm sợ hãi.

Xuân vũ như cao, hành nhân ố kỳ nê nịnh.

Thu nguyệt dương huy, đạo tặc ố kỳ chiếu giám.

Mưa xuân nhuần thấm như dầu mỡ, nhưng người đi đường ghét bùn lầy. Trăng thu tỏa sáng, nhưng kẻ trộm cướp ghét ánh trăng soi rõ.

Khí tiết, lòng quyết đoán và chí không ai cướp được

Có hạng người lấy cái chết làm nhẹ, và lấy một lời hứa làm nặng hơn cả núi.

Đại trượng phu kiến thiện minh, cố trọng danh tiết ư Thái Sơn. Dụng tâm cương, cố khinh tử sinh ư hồng mao.

Bậc đại trượng phu thấy rõ điều lành nên coi danh tiết nặng hơn núi Thái Sơn. Lòng dùng đến mức cương trực nên coi cái sống cái chết nhẹ hơn lông chim hồng.

Ngoại sự vô đại tiểu, trung dục hữu thiển thâm.

Hữu đoán tắc sinh, vô đoán tắc tử.

Đại trượng phu dĩ đoán vi tiên.

Việc ở ngoài thì không có lớn nhỏ nhất định, lòng muốn ở trong thì có cạn có sâu. Có quyết đoán thì sống, thiếu quyết đoán thì chết. Bậc đại trượng phu lấy quyết đoán làm đầu.

Khổng Tử nói về chuyện cầu giàu theo cách rất thẳng:

Phú nhi khả cầu, tuy chấp tiên chi sĩ ngô diệc vị chi. Như bất khả cầu, tùng ngô sở hiếu.

Giàu mà có thể cầu được thì dù là việc cầm roi đi hầu ta cũng chịu làm. Còn nếu không cầu được thì ta cứ theo điều ta ưa thích.

Thái Công thì nhìn vào lòng người và vào cách trời xoay vần:

Nhân tâm nan mãn, khê hác dị doanh.

Thiên nhược cải thường, bất phong tức vũ.

Nhân nhược cải thường, bất bệnh tắc tử.

Ngòi khe dễ đầy nhưng lòng người khó thỏa. Trời mà đổi nếp thường thì không gió cũng mưa. Người mà đổi hẳn tính thường thì không bệnh cũng chết.

Nước ngay, nhà yên và chuyện biết mà không làm

Một nước, một nhà hay một con người đều có nền móng riêng, và nền móng nào cũng bắt đầu từ chỗ không thấy.

Bài thơ của Trạng nguyên gom bốn chuyện thành hai cặp:

Quốc chính thiên tâm thuận. Quan thanh dân tự an.

Thê hiền phu họa thiểu. Tử hiếu phụ tâm khoan.

Nước ngay thì lòng trời thuận, quan trong sạch thì dân tự yên. Vợ hiền thì chồng ít họa, con hiếu thì lòng cha thư thái.

Khổng Tử có bốn câu chia thành hai cặp tương phản:

Tri nhi bất vi bất như vật tri.

Thân nhi bất tín bất như vật thân.

Lạc chi phương chí, lạc nhi vật kiêu.

Hoạn chi phương chí, tư nhi vật ưu.

Biết mà không làm thì chẳng thà đừng biết. Thân mà không tin nhau thì chẳng thà đừng thân. Niềm vui vừa tới thì cứ vui nhưng đừng kiêu. Nạn vừa tới thì cứ nghĩ cách nhưng đừng lo sợ.

Mạnh Tử so trí tuệ với thế và thời:

Tuy hữu trí tuệ bất như thừa thế, tuy hữu tư cơ bất như đãi thời.

Dẫu có trí tuệ cũng không bằng nắm đúng thế, dẫu có sẵn cuốc bừa cũng không bằng đợi đúng mùa.

Điều mắt thấy còn ngờ, lời sau lưng khó tin

Càng nhìn sâu, người ta càng thấy những gì mình tưởng chắc đều chỉ như giọt sương trên lá.

Kinh mục chi sự, do khủng vị chân. Bối hậu chi ngôn khởi túc thâm tín.

Nhân bất tri kỷ quá, ngưu bất tri lực đại. Bất hận tư gia ma thằng đoản. Chỉ khủng tha nhân cổ tỉnh thâm.

Kiêu hãnh thoát, vô cố báo. Tang lạm mãn thiên hạ. Tội câu phúc bạc nhân.

Nhân tâm tự thiết, quan pháp như lô.

Việc chính mắt thấy còn e chưa đúng, lời nói sau lưng sao đáng tin. Người ta không biết lỗi của mình, cũng như con trâu không biết sức mình lớn. Không giận sợi dây cối xay nhà mình ngắn, chỉ sợ giếng nhà người khác sâu. Có kẻ cầu may mà thoát thân, có người vô tội lại mắc vạ. Của tham ô đầy khắp thiên hạ, kẻ bạc phước phải mang oan. Lòng người như sắt, phép quan như lò.

Kinh Phật dạy một cách nhìn về mọi thứ trên đời:

Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh.

Như lộ diệc như điện. Ưng tác như thị quán.

Mọi pháp hữu vi đều như giấc mộng, như ảo ảnh, như bọt nước, như bóng. Như sương mai, như ánh chớp. Nên quán xét như thế.

Lã thị hương ước đặt ra tám nếp sống chung để cả làng giữ đạo nghĩa:

Đức nghiệp tương khuyến. Quá thất tương quy. Lễ tục tương thành. Hoạn nạn tương tuất.

Mẫn nhân chi hung. Lạc nhân chi thiện. Tế nhân chi cấp. Cứu nhân chi nguy.

Khuyên nhau về đức nghiệp, can ngăn nhau về lỗi lầm. Cùng nhau nên lễ tục, cùng nhau đỡ khi hoạn nạn. Xót thương cái xấu xa của người, vui với việc lành của người. Giúp người lúc gấp, cứu người lúc nguy.

Mười phần chỉ dùng năm, để năm phần lại cho cháu con

Có kho thóc không cạn vì được múc ít, và có kho đầy rồi cũng vơi vì kẻ nào cũng múc hết.

Ngô Chân Nhân có một bài thơ bốn câu mà đời sau nhắc mãi:

Thập phân tinh tinh sử ngũ phân,

Lưu thủ ngũ phân dữ nhi tôn.

Thập phân tinh tinh đô sử tận,

Hậu đại nhi tôn bất nhược nhân.

Mười phần khôn khéo thì chỉ dùng năm phần, giữ lại năm phần cho con cháu. Mười phần khôn khéo mà dùng hết cả, đời sau con cháu còn không bằng người thường.

Một bài kệ trong kinh Phật cho hình ảnh khác:

Nhất phái thanh sơn cảnh sắc u,

Tiền nhân điền địa hậu nhân thu.

Hậu nhân thu đắc mạc hoan hỉ,

Hoàn hữu thu nhân tại hậu đầu.

Một dải núi xanh, cảnh sắc thanh u. Ruộng đất người trước làm, người sau thu hoạch. Nhưng người sau thu được thì chớ vội mừng, phía sau còn có người sẽ thu của mình nữa.

Cảnh Hạnh Lục nhắc hai việc nên dè dặt:

Đại diên yến bất khả lũ tập. Kim thạch văn tự bất khả khinh vi. Giai họa chi đoan.

Tiệc lớn không nên họp luôn, văn tự khắc lên bia lên chuông không được viết ẩu. Cả hai đều là mối của tai họa.

Sự sự bất lai hoàn bất vãng,

Dã vô hoan hỉ, dã vô sầu.

Mọi việc không đến cũng không đi, nên không có mừng cũng không có sầu.

Thiệu Khang Tiết trả lời một người đến xin gieo quẻ hỏi họa phúc bằng cách khác hẳn cách người ta mong:

Hữu nhân lai vấn bốc: Như hà thị họa phúc?

Ngã khuy nhân thị họa. Nhân khuy ngã thị phúc.

Đại hạ thiên gian, dạ ngọa bát xích. Lương điền vạn khoảnh, nhật thực nhị thăng.

Bất hiếu mạc thiêu thiên thúc chỉ, khuy tâm uổng phần vạn lô hương.

Thần minh bản thị chính trực tố. Khởi thụ nhân gian uổng pháp tang.

Có người đến hỏi bói, hỏi thế nào là họa phúc. Mình làm thiệt người ấy là họa, người làm thiệt mình ấy là phúc. Nhà nghìn gian đêm chỉ nằm tám thước, ruộng muôn khoảnh một ngày chỉ ăn hai thưng. Kẻ bất hiếu thì đừng đốt nghìn bó giấy tiền, kẻ khuất tâm thì thắp vạn lò hương cũng uổng. Thần minh vốn do chính trực mà thành, đâu chịu nhận tiền bạc đút lót của người đời để bẻ cong phép.

Say là tại người, mê là tại lòng, và đức là thứ ích cho thân

Cùng một chén rượu, một đóa hoa, có người nhấp xong mà tỉnh, có người chưa nhấp đã say.

Khát thời nhất trích như cam lộ,

Túy hậu thiêm bôi bất khả vô.

Tửu bất túy nhân, nhân tự túy,

Hoa bất mê nhân, nhân tự mê.

Lúc khát thì một giọt nước cũng như cam lộ, say rồi thì thêm chén nữa là thừa. Rượu không làm người say, chính người tự say. Hoa không làm người mê, chính người tự mê.

Nhà Phật có một bài kệ nhắn nhủ người ta trở lại với lòng công:

Công tâm nhược tỉ tư tâm, hà sự bất biện,

Đạo niệm nhược đồng tình niệm, thành Phật đa thời.

Quá hậu phương tri tiền sự thác,

Lão lai phương giác thiếu thời phi.

Nếu lòng công bằng được như lòng riêng tư thì việc nào mà chẳng xong. Nếu nhớ đạo được như nhớ tình thì thành Phật đã lâu rồi. Qua việc rồi mới biết việc trước đã sai, già rồi mới biết thuở trẻ đã lầm.

Dương Hùng chỉ nói một câu về đức:

Tu đức tự ích, trí lực nhật mãn.

Tu đức là tự làm ích cho thân, trí lực cũng nhờ vậy mà ngày càng đầy.

Khổng Tử đặt cạnh nhau hai hạng người, cái đáy của tiểu nhân dễ đầy còn cái chí của quân tử khó thỏa:

Tiểu nhân trí đoản dị doanh. Quân tử kiến thâm nan dật.

Bình phong tuy phá, cốt cách do tồn. Quân tử tuy bần, lễ nghĩa thường tại.

Kẻ tiểu nhân trí vắn nên dễ thấy là đầy, bậc quân tử thấy sâu nên khó mà thỏa. Bức bình phong dù rách thì khung sườn vẫn còn, bậc quân tử dù nghèo thì lễ nghĩa vẫn còn.

Hữu đức giả tất hữu ngôn,

Hữu ngôn giả, bất tất hữu đức.

Người có đức ắt có lời hay, còn người có lời hay chưa chắc đã có đức.

Thuyết Uyển lấy núi và vực làm ví dụ cho người quân tử:

Sơn trí kỳ cao, vân vũ khởi yên.

Thủy trí kỳ thâm, giao long sinh yên.

Quân tử trí kỳ đạo, phúc lộc tồn yên.

Núi cao thì mây mưa nổi lên ở đó. Vực sâu thì giao long sinh ra ở đó. Quân tử dốc lòng cho đạo thì phúc lộc có ở đó.

Kinh Dịch và Tuân Tử bổ sung hai lời răn cho người ở địa vị cao:

Đức vi nhi vị tôn, trí tiểu nhi mưu đại, vô họa giả tiển hĩ.

Vị tôn tắc phòng nguy. Nhiệm trọng tắc phòng phế. Thiện sủng tắc phòng nhục.

Đức mỏng mà ở ngôi cao, trí mọn mà mưu việc lớn, ít ai không mắc họa. Ngôi cao thì phải phòng nguy, nhiệm vụ nặng thì phải phòng bị bãi, được sủng ái thì phải phòng nhục.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện