Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tám quẻ, tám tượng: sấm động, gió tán, mưa nhuận, nắng hong

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/20265 phút đọc3 lượt đọc
Tám quẻ, tám tượng: sấm động, gió tán, mưa nhuận, nắng hong

Sau tiếng sấm có gió, sau gió có mưa, sau mưa mặt trời hong khô đất. Người xưa thấy trong chuỗi ấy tám quẻ đang làm việc, mỗi quẻ một phần, và cách đọc chúng chia thành hai lối…


Trời đất đã định vị, núi đầm thông khí

Sau tiếng sấm có gió, sau gió có mưa, sau mưa mặt trời lại hong khô đất. Người xưa nhìn chuỗi hiện tượng ấy và thấy trong đó tám quẻ đang làm việc, mỗi quẻ một phần, không quẻ nào giẫm lên việc của quẻ nào.

Thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thủy hỏa bất tương xạ, bát quái tương thố... Lôi dĩ động chi, phong dĩ tán chi, vũ dĩ nhuận chi, nhật dĩ huyên chi, Cấn dĩ chỉ chi, Đoài dĩ duyệt chi, Càn dĩ quân chi, Khôn dĩ tàng chi.

Trời đất đã định vị, núi và đầm thông khí cho nhau, sấm và gió nổi lên cùng nhau, nước và lửa không diệt nhau, tám quẻ giao nhau... Sấm làm muôn vật phấn chấn, gió làm chúng phân tán, mưa nhuần thấm chúng, mặt trời làm chúng khô ráo, Cấn thì giữ chúng lại, Đoài thì làm chúng tươi vui, Càn thì cai quản chúng, Khôn thì cất chứa chúng.

Lời giải thích nhận xét rằng đoạn này nói về tính chất của tám quẻ: sấm động, gió tán, mưa nhuận, mặt trời làm khô, Đoài làm vui, Càn là bậc cai quản, Khôn cất chứa. Đó là công năng của bát quái, và nó biểu thị rằng mỗi quẻ khác nhau có tác dụng khác nhau. Điều này đúng với ngay cả những cặp đối nghịch: nước và lửa không diệt nhau, mà cùng làm việc.

Từ công năng của tám quẻ, Nội kinh đề ra tác dụng của sáu khí: hanh làm khô, nóng làm bốc hơi, gió làm chuyển động, ướt làm nhuận, lạnh làm cứng lại, lửa làm ấm. Rồi tiếp tục đề ra tác dụng của sáu khí với bệnh lý: gió mạnh gây chuyển động bệnh, nóng nhiều gây sưng, hanh nhiều làm cơ thể khô, lạnh nhiều gây phù, nước nhiều gây đi tả. Cách nhìn ấy góp phần quan trọng vào học thuyết "lục dâm" của y học cổ truyền.

Tám quẻ, tám tính

Mỗi quẻ vừa là một hình ảnh trong thiên nhiên, vừa là một tính cách; đọc theo hình hay theo nghĩa đều ra cùng một người.

Càn kiện dã, Khôn thuận dã, Chấn động dã, Tốn nhập dã, Khảm hãm dã, Li lệ dã, Cấn chỉ dã, Đoài duyệt dã.

Càn là mạnh khỏe, Khôn là ôn thuận, Chấn là chấn động, Tốn là thấm vào, Khảm là hãm vào chỗ hiểm, Li là bám vào, Cấn là dừng lại, Đoài là vui tươi. Tám tính ấy đi cặp với tám hình tượng: Càn là trời, Khôn là đất, Chấn là sấm, Tốn là gió, Khảm là nước, Li là lửa, Cấn là núi, Đoài là đầm.

Càn vi thiên, Khôn vi địa, Chấn vi lôi, Tốn vi mộc, Khảm vi thủy, Li vi hỏa, Cấn vi sơn, Đoài vi trạch.

Càn là trời, Khôn là đất, Chấn là sấm, Tốn là gỗ, Khảm là nước, Li là lửa, Cấn là núi, Đoài là đầm. Theo lời giải, đây là căn cứ của phái tượng hình trong Dịch học. Càn và Khôn là cha mẹ của muôn vật; Chấn mang tính cổ vũ; Tốn hàm ý phục sinh; Khảm nói lên vẻ đẹp và sự nhuần thấm dịu dàng; Li tượng trưng cho sức nóng và ánh sáng của mặt trời; Cấn là nơi tích tụ của đức Khôn; Đoài nói lên cái vui của sự nhuần thấm. Mỗi quẻ do đó có thể nhìn theo hai lối: lấy hình để nói, hoặc lấy tính để nói. Người nhìn quẻ Tốn thấy gió phảng phất vào khe cửa, tức là thấy cả hình lẫn tính của nó; người nhìn quẻ Đoài thấy mặt đầm lặng sáng, và nghe thấy cả niềm vui trong đó, như tiếng cười bật ra khi một chuyện hiểu nhầm được gỡ.

Hai trường phái đọc quẻ

Cùng nhìn một quẻ, có người thấy hình, có người thấy nghĩa, và hai lối nhìn ấy đã tranh nhau hàng trăm năm rồi mới gặp lại nhau.

Lời giải thích nêu rõ hai trường phái lớn nhất trong nghiên cứu Dịch học: phái thủ tượng và phái thủ nghĩa. Phái thủ tượng căn cứ vào hình, như Càn là trời, Khôn là đất; phái thủ nghĩa căn cứ vào tính chất, như Càn là mạnh, Khôn là thuận. Hai phái giải kinh Dịch từ hai góc độ khác nhau. Phái thủ tượng đi từ hình tượng của tám quẻ nên có ảnh hưởng lớn đối với khoa học tự nhiên; y học cổ truyền Trung Hoa thuộc phái này. Phái thủ nghĩa đi sâu vào nghĩa lý nên đóng góp nhiều hơn cho học vấn về xã hội.

Về lịch sử, phái thủ tượng có uy tín lớn vào đời Hán, phái thủ nghĩa hưng thịnh vào đời Đường và đời Tống. Đến Chu Hi đời Tống, hai dòng chảy được tổng hợp lại trong tác phẩm tập đại thành là Chu Dịch bản nghĩa. Nhưng cả hai phái đều đã để lại những cống hiến nổi bật cho việc nghiên cứu Chu Dịch, và một người học Dịch hôm nay nên biết cả hai lối đọc.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện