Bài tổng quan
Quẻ Khảm: hiểm chồng hiểm, lòng thành và hố sâu giam hãm
Có những lúc nước đổ vào hang mãi không thấy đầy, hết đợt hiểm này lại tới đợt hiểm khác. Quẻ Khảm kể cách một người đi qua hố sâu mà lòng vẫn thông, và vì sao nước, thứ mềm nhất, lại là bậc thầy của sự bền bỉ…
Hai hố sâu chồng lên nhau và một tấm lòng không đổi
Trong sáu mươi bốn quẻ, tám quẻ thuần đều được gọi bằng chữ "trùng", nghĩa là lặp lại. Riêng quẻ Khảm lại đổi sang chữ "tập", cũng là chồng chất nhưng mang vị khác: hiểm nạn dồn dập, hết đợt này đến đợt khác, như nước sau lại đẩy nước trước. Người xưa cắt nghĩa rằng hiểm vốn không muốn "trùng" với ai, nên quẻ chỉ có thể nói tới hai chỗ hiểm gặp nhau, đối nghịch nhau, chẳng thể kết bạn.
Tập Khảm: hữu phu, duy tâm hanh, hành hữu thượng.
Lời quẻ chỉ có ba vế. Quẻ Khảm là hiểm nạn chồng chất, nhưng chỉ cần giữ lòng thành thật thì trong lòng vẫn thông suốt; cứ mạnh dạn tiến lên thì việc làm sẽ được người đời quý chuộng. Điều đáng chú ý là chữ "tâm": trong hình quẻ, hai hào âm kẹp một hào dương ở giữa, và hào dương ấy chính là cái lõi cứng rắn nằm giữa hai bờ mềm yếu. Đi vào chỗ hiểm mà không đánh mất chữ tín, đó là cách cái lõi ấy phát sáng.
Lời giải thích đi kèm so sánh hiểm nạn với nước chảy vào hang sâu, đổ mãi mà không đầy. Nước không vì thế mà bỏ cuộc, cứ lấp đầy chỗ trũng nào gặp trước rồi mới vượt lên. Hiểm của trời là bầu trời quá cao để trèo lên; hiểm của đất là núi sông, gò đồi. Bậc cầm quyền biết noi theo đó mà đào hào, xây thành, giữ lấy biên cương. Chỗ hiểm nếu dùng đúng thời thì công dụng lớn lắm, vì vậy lời quẻ không coi hiểm là thứ chỉ để tránh.
Thủy tấn chí, tập Khảm; quân tử dĩ thường đức hạnh, tập giáo sự.
Lời Tượng truyện nhìn quẻ bằng hình ảnh nước dồn tới liên tục. Người quân tử học theo đó mà giữ cho đức hạnh luôn bền bỉ, đồng thời luyện tập việc dạy dỗ, giáo hóa cho thuần thục. Nước không mệt vì nó chảy đều, và đức cũng không mòn nếu được lặp lại từng ngày.
Sáu hào, sáu cách rơi và sáu cách thoát
Hiểm không giống nhau với mọi người: có người sa chân vì lạc đường, có người lọt hố vì hấp tấp, có kẻ còn đứng ở miệng hố mà đã biết mình chưa thoát.
Hào Sáu đầu nằm ở đáy quẻ, đã hiểm lại càng sa sâu vào cái hố bẫy bên trong cái hố. Lời Tượng giải thích gọn rằng người này lạc mất đường đi nên mới nhận lấy hung hiểm. Đó là kiểu sa chân của kẻ chưa kịp hiểu mình đang ở đâu thì đã ngã.
Hào Chín hai dương cương, nằm ở giữa quẻ nội, vẫn còn kẹt trong hiểm nhưng đã biết tìm lối từ chỗ nhỏ hẹp: đòi hỏi ít thì được ít, đủ để bám víu. Lời Tượng nói thẳng rằng hào này chưa ra khỏi chỗ hiểm. Một người biết mình chưa thoát mà vẫn xin cái nhỏ, ấy là khôn.
Hào Sáu ba thì khác hẳn. Tới là hiểm, lui cũng không yên, rơi xuống hố sâu rồi, lời quẻ dặn đừng làm gì thêm. Đó là lúc cả tiến lẫn lùi đều là vực, nên động tay động chân chỉ càng lún; ở yên chờ thời còn giữ được chút sức.
Hào Sáu bốn có một khung cảnh rất lạ: một chén rượu nhạt, hai giỏ cơm đạm bạc, đựng trong vò sành, đưa qua ô cửa sổ để dâng người tôn quý, kèm theo một tờ giao ước, cuối cùng không có lỗi. Lời Tượng cắt nghĩa rằng hào âm mềm này giao tiếp được với hào Chín năm dương cứng, mềm và cứng gặp nhau đúng chỗ. Giữa lúc nguy khó, lễ vật giản dị mà chân thành còn quý hơn bàn tiệc, và lối vào lòng người đôi khi chỉ là một ô cửa nhỏ.
Hào Chín năm nằm đúng ngôi giữa nhưng hố bẫy chưa đầy, gò nhỏ đã được san bằng, nên không có lỗi. Lời Tượng chê nhẹ rằng tuy ở ngôi giữa mà công sức làm cho hết hiểm vẫn chưa rực rỡ. Người ở chỗ cao, giữ được thế cân bằng, nhưng vẫn phải biết rằng việc chưa xong.
Hào Sáu trên cùng là cảnh tù giam: bị trói bằng dây thừng đen, giam trong bụi gai, ba năm không thoát, hung hiểm. Lời Tượng nói đó là kẻ đã lạc khỏi chính đạo mà đi vào chỗ hiểm, nên nỗi hung kéo dài. Ba năm trong lời quẻ là một thời gian dài, đủ để một sai lầm trở thành cả một quãng đời.
Nước là điều kiện đầu tiên của muôn vật
Hiểm đáng sợ là thế, nhưng cũng chính nó nuôi sống mọi thứ, vì Khảm chính là nước.
Theo phần giải thích, Khảm là quẻ của nước, và nước là thứ đầu tiên trời sinh ra. Đức của Khảm là nước, nuôi dưỡng muôn vật. Có nước có lửa mới có muôn vật: nước nuôi, lửa nung, hai thứ ấy đủ để cõi đời vận hành. Nước đặt lên lửa sẽ thành quẻ Kí Tế, còn ở quẻ này nước chỉ chồng lên nước, nên hiểm nạn mới dồn dập đến thế.
Cách xếp quẻ cũng đáng nghĩ. Phần thượng kinh mở đầu bằng hai quẻ Càn và Khôn, tượng cho trời và đất, rồi khép lại bằng hai quẻ Khảm và Li, tượng cho mặt trăng và mặt trời. Có trời đất rồi, phải có nhật nguyệt chiếu soi, vạn vật mới có chỗ đứng. Chữ "hiểm" lặp lại khắp lời quẻ: "rơi vào hố", "hố sâu", "chất chồng", "trùng hiểm", tất cả đều cho thấy gặp hiểm là gặp việc hung.
Thế nhưng bài học của quẻ không nằm ở sự sợ hãi. Khi đem nhân sự đối chiếu với quẻ, ta thấy các câu như "đi vào hiểm mà không mất chữ tín" hay "hiểm mà lòng vẫn thông" đều nói cùng một điều: chỉ cần không hoảng sợ giữa lúc nguy nan thì có thể vượt được hiểm. Những ai từng đi qua nghịch cảnh đều hiểu điều đó: người ta chịu thua không phải vì hố sâu mà vì tâm đã chao đảo trước khi chân kịp bước.
Nước còn dạy một điều nữa. Nó là vật mềm nhất, nên lời Tượng mượn nước làm hình ảnh cho đức đẹp của con người. Nước không cãi với đá, không giận với hố, cứ lặng lẽ lấp đầy chỗ trũng rồi chảy tiếp. Bậc quân tử học nước ở chỗ ấy: đều đặn, bền bỉ, mềm nhưng không dứt. Cũng vì thế mà thứ tự các quẻ để quẻ Khảm đứng trước quẻ Li, vì rơi vào hố sâu thì phải có chỗ để bám lấy, và chỗ bám ấy chính là nghĩa của quẻ tiếp theo. Trong lúc thế bí, ai cũng cần tìm một lối thoát, và đường sống thường hiện ra đúng ở nơi người ta đã quen gọi là bước đường cùng, miễn là lòng chưa tắt.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
