Bài tổng quan
Hai mươi lăm khúc nhạc trong hang đá và tiếng ca múa đời Đường
Dưới mặt giấy chép kinh có một mặt khác ghi lại hai mươi lăm khúc nhạc, nốt nào cũng có dấu cao độ và nhịp. Bản nhạc ấy viết từ năm 933, thuộc những bản nhạc sớm nhất còn lại của Trung Quốc. Còn những vũ nữ trên vách hang đang kể điều gì...
Viên ngọc âm thanh trong hang đá
Nhạc Đôn Hoàng hiện ra trong bích họa ca nhạc của Đôn Hoàng, trong các giai điệu và nhạc cụ vẽ trên vách hang. Chúng ghi lại bức tranh lịch sử của nhạc qua năm triều đại Ngụy, Tấn, Tùy, Đường, Tống, và là tài liệu quý để nghiên cứu nghệ thuật nhạc cổ điển của Trung Quốc.
Cảnh đội hát nghi lễ trong tranh nhạc Đôn Hoàng rất hùng tráng, cho thấy nhạc đời Đường và đời Tống hưng thịnh, như cảnh phu nhân nước Tống ra đi và cảnh Trương Nghi Triều ra đi ở hang 156. Theo ghi chép, nhạc cụ trong tranh gồm có tì bà, sáo, khèn và trống.
Hai mươi lăm khúc nhạc còn ghi nốt
Dưới một mặt giấy chép kinh có thể còn một mặt khác ghi lại cả tiếng đàn thời xưa.
Bản nhạc của Đôn Hoàng được chép ở mặt sau của một cuốn kinh, thuộc một bộ phổ yến nhạc, gồm hai mươi lăm khúc. Bên cạnh các chữ có ký hiệu cho biết cao độ và tiết tấu. Những tác phẩm quý này bị người Pháp lấy đi năm 1907, nay giữ ở thư viện Paris. Chúng được viết vào năm Trường Hưng thứ tư, tức năm 933.
Trong hai mươi lăm bản nhạc có những tên như "Khuynh bôi nhạc", "Tây giang nguyệt", "Tâm sự tử", "Y châu", "Thủy cổ tử", "Cấp hồ tương vấn", "Trường sa nữ dẫn", "Tán kim sa", "Doanh phú", bên cạnh nhiều bản "mạn khúc tử", "khúc tử", "cấp khúc tử" và hai bản không rõ tên.
Theo các nhà nghiên cứu nhạc, ký hiệu nốt nhạc ở Đôn Hoàng giống với khúc của Khương Bạch Thạch thời Tống, chứng tỏ nhạc Đôn Hoàng ra đời rất sớm, thuộc đời Đường. Nhạc ấy được viết trong cuốn kinh nói trên, nên suy ra là nhạc lưu hành đời Đường, và là một trong những tác phẩm nhạc ra đời sớm nhất của Trung Quốc cổ. Nội dung phong phú, số lượng nhiều, bao gồm kết cấu giai điệu, âm giai, tiết tấu, tốc độ, tên âm, âm lượng và những thuật ngữ diễn đạt tình cảm. Đây là một bộ tài liệu nhạc đầy đủ và quý, quan trọng cho việc nghiên cứu nhạc cổ, nhất là nhạc đời Đường. Nhạc Đôn Hoàng vì thế có giá trị lịch sử và giá trị nghệ thuật lớn, thu hút các học giả trong và ngoài nước, và là tài liệu tham khảo quan trọng về nhạc lý của nhạc cổ Trung Quốc.
Năm trăm bài hát còn giữ được
Ca từ Đôn Hoàng cũng là một phần đáng quý trong kho nhạc. Theo thống kê của Nhậm Nhị Bắc, có 227 bài hát tạp kỹ phổ thông, 298 bài liên khúc và 20 đại khúc, tổng cộng 545 bài. Một nhóm nghiên cứu tìm ra chín bài có tên trùng các khúc nhạc Đôn Hoàng: "Khuynh bôi nhạc", "Tây giang nguyệt", "Tâm sự tử", "Y châu", "Thủy cổ tử", "Trường sa nữ dẫn", "Tán kim sa", "Doanh phú" và "Cấp hồ tương vấn". Điều này cho thấy giữa ca từ và nhạc Đôn Hoàng có quan hệ nhất định, và ca từ là tài liệu quan trọng để nghiên cứu văn học và nhạc thời Đường, Tống.
Kho tài liệu về nhạc ở Đôn Hoàng còn gồm các bộ nhạc điệu, giai điệu, nhạc đàn... được cất trong Tàng Kinh động, hang thứ mười bảy. Một số bộ bị người Anh lấy đi, nay giữ ở thư viện Anh; phần nhạc điệu và giai điệu bị người Pháp lấy, nay giữ ở thư viện Paris.
Ba điều từ những bức tranh múa hát
Đôn Hoàng có rất nhiều bức vẽ vũ nữ nổi tiếng, có thể gọi là "nhạc câm". Chúng phản ánh cao trào của nhạc đời Đường, và gom lại phong cách của nhạc cổ Trung Quốc. Từ đó rút ra nhiều gợi ý.
Điều thứ nhất, từ đời Đường nhạc, múa và hát đã kết hợp rất cao. Đời Đường là đỉnh cao của nhạc cổ Trung Quốc, ca múa thịnh hành, có rất nhiều tranh múa hát trong các hang (hơn 150 hang có tranh), cho thấy lịch sử phát triển của nhạc và vũ đạo Trung Quốc từ thời mười sáu nước đến Tống Nguyên. Trong những bức tranh ca múa, vũ nữ có nhiều nhạc cụ mới, động tác uyển chuyển, nhạc công như thần, tất cả rực rỡ. Xưa nay nhạc và múa là hai nghệ thuật cùng nguồn khác dòng. Đến đời Đường hai dòng ấy hợp lại, hài hòa về tiết tấu và giai điệu, như bức tranh ca múa ở hang 220, khí thế hoành tráng, có cả múa lẫn nhạc.
Nhạc, múa, hát vốn cùng một thể. Nhạc ký từ lâu đã kết luận rằng nhạc là một nghệ thuật có tính chỉnh thể:
Thi, ngôn kỳ chí dã; ca, vịnh kỳ thanh dã; vũ, động kỳ dung dã; tam giả bản vu tâm, nhiên hậu nhạc khí tùng chi.
Nghĩa là lời thơ nói lên chí, ca ngâm lên tiếng, múa động lên dáng; ba thứ ấy đều gốc ở lòng, rồi nhạc khí mới theo sau. Tranh Đôn Hoàng cho thấy đạo lý ấy. Nhạc đời Đường đạt tới đỉnh là nhờ sự kết hợp ca, múa, nhạc. Từ chỗ đưa vũ đạo vào tranh vũ nữ, từ độc tấu đến hòa tấu, cộng với nhạc - múa - ca, có thể nhận ra hướng phát triển ngày càng hòa hợp của ca - múa - nhạc, và đó là một nguyên tắc mỹ học quan trọng của sự hài hòa trong nhạc.
Điều thứ hai, Đôn Hoàng là vùng giao lưu giữa Trung Nguyên và Tây Vực, cũng là cửa ngõ để tôn giáo vào Trung Quốc. Cùng với đạo Phật, đạo Hồi, nhạc tôn giáo không ngừng vào. Các bản nhạc mang màu sắc tôn giáo và những nhạc cụ Tây Vực như tì bà, không hầu làm nhạc Đôn Hoàng ngày một phong phú. Nhạc tôn giáo vào Trung Nguyên qua Đôn Hoàng làm nhạc Trung Nguyên hưng thịnh và có thêm sắc. Dưới tác động của nhạc Phật giáo, nhạc dân gian và nhạc Đạo giáo cũng phát triển. Là thị trấn thịnh vượng trên đường tơ lụa, Đôn Hoàng thành sân khấu lớn, nơi nhạc Trung Nguyên gặp nhạc Tây Vực, nhạc thường gặp nhạc tôn giáo.
Nhạc tôn giáo vào còn tác động đến nhạc lễ của Trung Nguyên, khiến nhạc bắt đầu bỏ sự bó buộc của lễ, hướng sang thế giới thần học vượt khỏi hiện thực. Sự kết hợp của nhạc thường và nhạc tôn giáo hiện nhiều trong bích họa, như những bức vẽ tiên, Phật múa hát, có vị Quan Âm mặc áo thường, tay gảy đàn tì bà. Những bức tranh nhạc múa hài hòa giữa thần và tục ấy phản ánh sự gặp nhau của nhạc thường với nhạc tôn giáo.
Nhạc tôn giáo tuy vượt hiện thực, nhưng sức hút nghệ thuật thần bí của nó đã ảnh hưởng đến nhã nhạc Trung Nguyên vốn bị lễ giáo trói nên không dám bước ra ngoài hiện thực. Bích họa Đôn Hoàng thể hiện sự hòa trộn cao giữa Phật và tục, thiên đường và dân gian, hoang tưởng và hiện thực, làm tranh càng hấp dẫn, và phản ánh thành quả của nghệ thuật đời Đường sau khi mở cửa. Khi đường sang Tây Vực mở, nhạc Tây Vực và các nước lân cận vào đời Đường, có cả những bài tình ca nước ngoài, đổi mới tai nghe của các nhạc sĩ Tùy Đường. Nhạc thần Phật vào làm tăng sức tưởng tượng của người soạn nhạc, vô hình trung đổi thay nhạc cổ Trung Nguyên. Bức tranh tiên nữ ca hát phản ánh sự chuyển hóa của nhạc đời Đường sang nghệ thuật vượt hiện thực, và sự kết hợp giữa nhạc, múa, họa, hoang tưởng với hiện thực đời Tùy Đường.
Điều thứ ba, nhạc Đôn Hoàng là sự hòa trộn của nhạc nhiều dân tộc. Trung Quốc là nước nhiều dân tộc, nhạc truyền thống của các dân tộc, nhất là dân tộc ít người ở Tây Vực, đều có phong cách và sức hút riêng. Kết hợp nhạc các dân tộc là hướng phát triển quan trọng của nhạc Trung Quốc.
Đôn Hoàng là nhịp cầu nối các dân tộc vùng Trung Nguyên với Tây Vực, và nối nhạc của người Hán Trung Nguyên với các dân tộc Tây Vực. Khi Trương Khiên đi sứ Tây Vực, ông mang về một khúc nổi tiếng, sau thành nhạc quân của Trung Nguyên. Bộ "Tây Lương nhạc" phổ biến ở Trung Nguyên cũng từ nhạc truyền thống Tây Vực mà vào. Trong mười bộ nhạc thịnh hành ở cung đình đại Đường có tám bộ là nhạc dân tộc ít người Tây Vực. Ngoài "yến nhạc" và "thanh nhạc", tám bộ ấy là Tây Lương nhạc, Thiên Trúc nhạc, Cao Ly nhạc, Quy Từ nhạc, An Quốc nhạc, Sơ Lặc nhạc, Khang Quốc nhạc và Cao Xương nhạc. Khi Đường Thái Tông mở tiệc đều dùng mười bộ nhạc này, cho thấy vị trí của nhạc các dân tộc Tây Vực trong nhạc Trung Nguyên.
Tiếp thu cái hay của người, giữ cái gốc của mình
Nhìn chung, nhạc Đôn Hoàng phần lớn lấy từ những thể loại ngoại lai như nhạc Phật giáo, nhưng vẫn giữ được phong cách dân tộc riêng và sức hấp dẫn của nghệ thuật truyền thống. Những cảnh nhạc và nghệ thuật vẽ trong tranh Đôn Hoàng chứng minh một điều: muốn tăng sức hấp dẫn nghệ thuật phải biết chọn cái hay của các dân tộc khác, nhưng không được mất bản sắc riêng. Chỉ khi dựa trên cái riêng của mình, tiếp thu cái hay bên ngoài rồi phát triển lên, thì mới giữ được vị trí lâu dài của mình trên thế giới.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
