Bài tổng quan
Tâm kinh Bát nhã: vài trăm chữ chỉ đường sang bờ giác
Chỉ vài trăm chữ mà người quy y nào cũng phải thuộc lòng, mở đầu bằng một vị Bồ tát soi thấy năm uẩn đều không. Từ đó đôi mắt, đôi tai, cả sự già chết lẫn bốn chân lý cũng lần lượt tan vào chữ không. Còn lại gì khi mọi thứ đã không, và vì sao lòng người lại hết sợ...
Một bộ kinh ngắn mà người quy y nào cũng phải thuộc
Tâm kinh là phần tinh túy của bộ Đại Bát nhã kinh đồ sộ, ngắn gọn đến mức người tu nào cũng học thuộc. Tên đầy đủ là Bát nhã ba la mật đa tâm kinh, do Pháp sư Huyền Trang đời Đường dịch sang chữ Hán. Câu chữ gọt giũa, lời giản dị mà ý sâu, nên được coi là kinh vỡ lòng của nhà Phật. Lõi lý luận của nó là soi thấy "chân không thực tướng" để chứng đạt trí tuệ giác ngộ tối cao, trở thành bậc "giác hữu tình", tức Bồ tát.
Toàn bộ kinh chia làm hai nửa: nửa đầu là "hiển thuyết Bát nhã", nói rõ ràng bằng lý lẽ; nửa sau là "mật thuyết Bát nhã", chỉ là một bài chú. Kinh là phần hiển, chú là phần mật; kinh và chú hợp lại, hiển và mật đi đôi, đó chính là nét riêng của kinh sách nhà Phật. Có thể chia nội dung thành bảy phần: tổng cương, sắc, không, nhân, quả, duyên và chú mật.
Nguyên văn do Pháp sư Huyền Trang dịch như sau:
Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng: bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức. Vô nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Bồ đề tát đỏa, y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quải ngại; vô quải ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thực bất hư. Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
Hiểu nôm na: khi Bồ tát Quán Tự Tại thực hành sâu pháp trí tuệ đưa sang bờ bên kia, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, nên vượt qua mọi khổ ách. Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc chính là không, không chính là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Tướng không của mọi pháp là không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt. Vì thế trong chân không không có sắc, không có thọ tưởng hành thức, không có mắt tai mũi lưỡi thân ý, không có sắc thanh hương vị xúc pháp; không có cả vô minh lẫn việc hết vô minh, cho đến không có già chết lẫn việc hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí cũng không có chứng đắc, vì vốn chẳng có gì để đắc. Bồ tát nương theo Bát nhã mà lòng không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, đến cõi Niết bàn rốt ráo. Chư Phật ba đời cũng nương theo Bát nhã mà chứng quả chính đẳng chính giác vô thượng.
Giải từng chữ tên kinh
Chỉ tên kinh đã là một lời chỉ đường: nó nói sang đâu, bằng cái gì, và nhờ vào đâu.
"Bát nhã" là phiên âm tiếng Phạn "prajna", nghĩa là trí tuệ; trí tuệ ấy là sức soi thấy thực tướng của sự vật. "Ba la" là bờ bên kia; "mật" nghĩa là đến; "đa" là lời nhấn. Cả ba nghĩa là đi từ bờ mê sang bến giác, cũng là chiếc thuyền chở người sang bờ ấy. Có bộ luận nói: các vị Bồ tát từ lúc mới phát tâm cầu trí biết hết mọi loại, rồi trong khoảng ấy biết được trí tuệ về thực tướng của các pháp, đạt cảnh giới Bồ đề, ấy là Bát nhã ba la mật.
"Tâm" là tâm Bát nhã, tức bỏ vọng tâm mà để bản tính hiện ra; ai cũng có tâm Bát nhã này. "Kinh" cũng là "pháp", tiếng Phạn là "đạt ma", chỉ phép tắc tu trì. "Thực tướng" ở đây nói đến ba đế: không đế là chân như, giả đế là thực tướng, trung đế là pháp giới. Chữ "tướng" là hình dáng của sự vật, gồm bốn giai đoạn sinh, trụ, dị, diệt, hay khởi, an, suy, hoại. Thực tướng là tướng của cái không có tướng. Chân như và thực tướng chỉ là hai tên của một thể: "chân" là chân thực, không hư ảo; "như" là thường như thế, không đổi dời.
"Niết bàn" còn gọi là "nê hoàn", nghĩa là diệt, tịch, không sinh. "Diệt" là diệt phiền não, diệt sinh tử, lìa mọi tướng; "tịch" là vắng lặng, vô tướng, vô vi. Đó là cảnh giới đã vượt khỏi sinh tử, ra khỏi đời mà hết lo âu, dung hòa không ngăn ngại. "Bồ đề" nghĩa là giác ngộ, là trí tuệ vô thượng đoạn hết các chướng ngại do biết sai lầm mà chứng được trí biết mọi pháp. "Đại thừa" nghĩa là thuyền và xe, phương tiện đưa người qua tới Niết bàn, cũng là tên chính tông của đạo Phật Ấn Độ.
Soi thấy năm uẩn đều không
Gốc của khổ nằm ở đâu, và vì sao chỉ nhìn cho thấu một điều mà vượt qua được bể khổ?
Quán Tự Tại Bồ tát cũng chính là Quán Thế Âm Bồ tát. Chữ "quán chiếu" nghĩa là soi thấy năm uẩn đều "không". Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; "uẩn" là chứa gom, còn gọi là "ấm" vì chúng che lấp chân tính. Sắc uẩn là phần vật chất của loài hữu tình, gồm năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) và năm cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc); căn đối cảnh thì sinh thức, rồi sinh ra cảm thụ, ấn tượng, suy nghĩ, phân biệt. "Giai không" nghĩa là hình tượng, ý tưởng, hành vi, nhận biết đều không có chủ thể.
"Độ nhất thiết khổ ách" là vượt qua mọi khổ. Khổ là chia lìa, bệnh tật, tai nạn và đủ thứ phiền não ở đời. Chúng sinh có ba thứ khổ của thân là già, bệnh, chết; ba thứ khổ của tâm là tham, sân, si; và ba thứ khổ ở đời sau là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nguồn gốc của khổ ách chính ở "tâm", nên muốn độ khổ phải từ tâm khổ mà nắm lấy chỗ then chốt. Mục đích của "độ" là vượt biển sinh tử mà đến bờ giác.
Xá Lợi Tử là tên gọi của Xá Lợi Phất, đệ tử của Phật Thích Ca. Câu "sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc" nói rằng muôn vật không có thực thể cố định mà chỉ do nhân duyên hợp lại, nên gọi là "tự tính chân không". Một bản kinh khác viết: các pháp rốt ráo không có chủ thể, đó là nghĩa của chữ "không". Sắc và không hòa làm một, không ngăn ngại nhau: trong sắc có không, không chính là sắc, mọi vật do duyên mà sinh. Tuy có rất nhiều thực tướng nhưng bên trong hàm chứa chân không, "duyên khởi tính không, tính không duyên khởi". Quan hệ giữa sắc và không như hình với bóng, như tấm gương với người trong gương: như có mà như không, như đúng mà lại không đúng. "Không" ở đây là phương pháp vượt khổ; chỉ khi thấy tự tính là không, các pháp đều không, tâm mới tự tại dung thông.
"Chư pháp" có hai nghĩa: một là tự thể của từng sự vật (hữu hình có cái của hữu hình, vô hình có cái của vô hình...), hai là phép tắc. Nói "chư pháp không tướng" là nói mọi sự lý đều không, không thật có; nên mới bảo chư pháp không sinh không diệt, không tự sinh cũng chẳng do cái khác mà sinh. Đã không sinh không diệt thì đương nhiên cũng không có nhơ sạch, thêm bớt.
Lục căn, mười hai nhân duyên và bốn chân lý đều tan trong không
Từ đôi mắt nhìn, đôi tai nghe cho đến vòng sinh tử ba đời, tất cả cũng được đem ra soi dưới ánh sáng ấy.
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là sáu căn; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là sáu trần; sáu căn đối sáu trần thành "mười hai xứ", thêm sáu thức thì thành "mười tám giới". Sáu căn là nội giới, sáu trần là ngoại giới, sáu thức là trung giới. Muôn vật đã là chân không thực tướng thì sáu căn cũng không, huống chi sáu trần. Ý ở đây muốn nhấn mạnh: sáu căn đã thanh tịnh thì sáu trần cũng tự nhiên không nhiễm.
Câu "không có vô minh, cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có hết già chết" nói tới mười hai nhân duyên, hay "mười hai duyên khởi". Đó là cách nhà Phật giải thích nhân quả luân hồi: chúng sinh lặn lội trong ba đời, bị duyên khởi quay mãi ở ba đường sáu ngả (ba đường là ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh; sáu ngả thêm người, trời, a tu la). Mười hai mắt xích là:
- Vô minh: không sáng suốt, vì kiếp trước tạo nghiệp nên kiếp này còn mê.
- Hành: tạo các nghiệp thiện ác, do nhân duyên công đức và tội nghiệp đời trước.
- Thức: mầm vọng niệm của đời này, vốn có từ trong thai.
- Danh sắc: hình thể đời này được tạo khi đầu thai.
- Lục nhập: sáu căn của đời này thành hình trong thai.
- Xúc: sáu căn đã thành thì tiếp xúc với sáu trần.
- Thọ: tiếp nhận cảm giác thiện ác khi bước vào nhân gian.
- Ái: tham nhiễm năm dục.
- Thủ: đối với cảnh sinh lòng chấp lấy.
- Hữu: nhân đã đủ để sau này chịu quả báo.
- Sinh: chịu thân ngũ ấm ở đời sau.
- Lão tử: thân đời sau sinh ra rồi già, rồi chết.
Hai mắt xích đầu là nhân của đời trước; ba đến năm là quả đạt được ở đời này; tám đến mười là nhân đời này đang tạo, ảnh hưởng tới quả đời sau; mười một và mười hai là quả đời sau. Đó là quan hệ mười hai nhân duyên, ba đời nhân quả, cũng là ba "đạo" hoặc, nghiệp, khổ. Vì nguồn gốc sinh tử là vô minh, cho nên diệt vô minh thì hành diệt, thức diệt, cứ thế đến lão tử cũng diệt; vì vậy mười hai nhân duyên còn có nghĩa là "sinh diệt". Mục đích của lý ấy là khuyên người làm lành tránh dữ.
"Không có khổ, tập, diệt, đạo" là nói tới bốn chân lý, tức tứ đế. Khổ đế là quả khổ của ba cõi. Tập đế là nguồn gây khổ, chứa các nghiệp thiện ác và tham sân si. Diệt đế là Niết bàn, diệt mê hoặc và nghiệp để xa quả khổ sinh tử. Đạo đế là tám con đường ngay: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, chính định, con đường thông sang Niết bàn. Ý của tứ đế là lìa khổ được vui: biết khổ thì đoạn nguồn gây khổ, mộ diệt mà tu hành. Khổ và tập thuộc cõi thế gian; diệt và đạo thuộc cõi xuất thế. Bồ tát tu Đại thừa soi thấu cảnh giới này, thấy bản thể nó vốn vắng lặng.
"Không có trí cũng không có chứng đắc" nghĩa là cái trí Bát nhã cũng không có chỗ đắc. Bồ tát Đại thừa dùng trí soi cảnh, nay không còn năm uẩn, không còn bốn chân lý, tức là người, pháp đều không, cảnh và trí đều dứt. Đến chỗ ấy thì có được đúng bằng chẳng được gì, vì không còn phiền não nữa.
Lòng không ngăn ngại, xa lìa mộng tưởng điên đảo
Cái được cuối cùng của con đường lại là một sự nhẹ nhõm: hết sợ hãi, hết mơ màng.
Bồ tát nương theo Bát nhã thì tâm không bị chướng ngại; không chướng ngại nên không sợ hãi; xa hẳn những mộng tưởng điên đảo mà đạt Niết bàn rốt ráo. "Bồ đề tát đỏa", gọi tắt là Bồ tát, nghĩa là "giác hữu tình": tự mình giác ngộ rồi làm cho người khác giác ngộ, tự lợi lợi tha, rộng độ chúng sinh. Một bộ luận giải thích rằng người nước Hồ gọi là Bồ tát, Trung Quốc dịch là "đạo chúng sinh", ý chỉ người có đủ đạo lực tu hành để tự lợi và lợi tha. Một bộ luận khác nói đó là người có đại nguyện, tâm hướng cầu đại Bồ đề để làm lợi ích cho chúng sinh.
Niết bàn, tiếng Phạn là "Ma ha bát niết bàn na", đạt tới cõi "đại diệt độ": "đại" là pháp thân, "diệt" là giải thoát khỏi kết nghiệp, "độ" là Bát nhã vượt phiền não. Mê hoặc nó thì gọi là ba chướng, giải thoát nó thì gọi là ba đức. Như lau tấm gương sạch bụi, ánh sáng vốn sẵn của gương liền hiện ra.
"Tam thế" là kiếp trước, kiếp này, kiếp sau; nhà Phật nhấn mạnh ba đời nhân quả, sáu đường luân hồi. "A nậu đa la tam miệu tam bồ đề" chỉ chính giác vô thượng, bình đẳng; thành Phật cũng gọi là thành chính giác. Tam bồ đề có ba tầng: sự bồ đề tâm là đoạn hết trí chướng để biết mọi loại trí của các pháp; lý bồ đề tâm là đoạn hết chướng phiền não để chứng trí Niết bàn; pháp bồ đề tâm là pháp môn vô tận, nguyện cầu giác tri vô tận. Vì vậy chư Phật đều nhờ tu trí tuệ mà thành ngôi chính giác.
Lời chú nối hai nửa của bộ kinh
Sau tất cả lý lẽ, kinh kết lại bằng một lời không còn là lý lẽ.
Từ câu "cố tri Bát nhã ba la mật đa" trở đi là mật thuyết, còn những câu đứng trước là hiển thuyết. Mật chú là nội dung quan trọng của kinh Phật, là biểu hiện của thần lực, gồm chú, chân ngôn và mật ngữ. Chú gọi là đà la ni, thuộc một trong năm điều "không dịch" của kinh Phật; tác dụng chính là tiêu tai nạn, tăng ích, cầu nguyện. Chú có nhiều loại: theo độ đơn giản hay phức tạp chia thành đại chú, tiểu chú, nhất tự chú (tâm chú); theo tính chất chia thành hỏa giới chú, tâm chú, từ cứu chú; theo thần lực chia thành tiêu tai chú, hàng ma chú, cầu nguyện chú. Tôn chỉ của mọi loại chú là cứu giúp chúng sinh, tiêu trừ nghiệp chướng, thoát bể khổ, thành quả Phật vô thượng.
Bốn danh hiệu mà kinh gán cho Bát nhã đều là tâm chú của Phật và Bồ tát: đại thần chú phá được ma chướng, hàng được yêu; đại minh chú soi sáng; vô thượng chú làm hiển lộ nghĩa chí lý của Phật; vô đẳng đẳng chú là cái không gì sánh được. Bài chú cuối cùng:
Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
Tạm dịch: sang đi, sang đi, sang đến bờ bên kia; chúng sinh cùng sang bờ bên kia; mau thành đạo giác ngộ vô thượng. Đây là tiếng lòng đại từ đại bi của Phật và Bồ tát muốn rộng độ chúng sinh. Một bản sớ giải nói thần chú như mật lệnh trong quân ngũ: Phật và Bồ tát nói ra bài chú này là muốn chúng sinh cũng thành chính giác như các Ngài; ai tụng bài chú, điều nguyện nào cũng thành.
Hai nửa của một bộ kinh
Gói lại, mọi điều trên có thể gom thành hai nhịp: một nhịp nói bằng lý, một nhịp nói bằng tiếng chú.
Nửa hiển của Tâm kinh chính là lý luận "không" của đạo Phật. Thứ nhất, soi thấy năm uẩn đều không: sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều không, vì mọi thứ đều do duyên mà khởi, tồn tại nhờ điều kiện nhất định; mắt thấy, tai nghe, hành vi, ý nghĩ, mọi hình tượng và ý niệm đều nảy sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm. Thứ hai, "sắc tức thị không, không tức thị sắc": vạn vật như có mà không, như không mà không phải không, trong "không" như có, trong "có" như không; tất cả vì duyên khởi tính không. Thứ ba, chư pháp không tướng, không sinh diệt: "không" ở đây tức là vô thường, vô ngã, tạm sinh tạm mất, không lâu dài; bản thân ta cũng là không. Lý "không" ấy là nền của việc vượt qua khổ ách.
Tiếp đến là lý mười hai nhân duyên, nguồn gốc của ba đời nhân quả, cho thấy quả khổ đời này do mê lầm nghiệp đời trước, mà mê lầm nghiệp đời này lại đem quả khổ cho đời sau; vì thế cần làm lành tránh dữ. Và cuối cùng là lý tứ đế cùng tám con đường chính: chiếc thuyền đưa người tới Niết bàn viên mãn.
Nửa mật chỉ là bài chú ngắn, dùng tiếng chú để truyền tâm chỉ của Phật. Ý nghĩa của nó sâu rộng đến nỗi chỉ có thể dùng tâm lĩnh hội chứ không thể dùng lời truyền hết; đó là âm thanh phát ra từ sâu thẳm tâm đại từ đại bi của Bồ tát, và người tu nhờ đó mà được lợi ích vô cùng. Tâm kinh là kinh điển quan trọng của đạo Phật, lời gọn mà nghĩa sâu, là nấc thang bước vào cửa Phật, là kinh mọi chúng sinh nên theo.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
