Bài tổng quan
Mười tông phái nhà Phật và lẽ không từ duyên mà thành
Một bát cơm trắng nóng hổi cũng đủ dạy một bài triết học: tách gạo ra thì cơm cũng không còn. Từ cái lẽ giản dị ấy, nhà Phật dựng nên chữ không, rồi chữ không chia đạo thành mười tông. Điều gì khiến cùng một chữ mà mỗi dòng nghe ra một giọng?
Mục lục · 8 phần
- 01Hai chiếc xe cùng chở người qua bể khổ
- 02Không tông và Hữu tông: hai cách trả lời câu hỏi thế giới có thật không
- 03Mười tông và điều cốt lõi của từng tông
- 04Gốc của mọi tông: cuộc đời là bể khổ
- 05Chữ không rốt cuộc nghĩa là gì
- 06Duyên khởi: không thứ gì tự đứng một mình
- 07Trung đạo và bát cơm
- 08Hai nền móng nữa của chữ không: Duy thức và viên dung
Hai chiếc xe cùng chở người qua bể khổ
Hệ tư tưởng của đạo Phật chia thành hai nhánh lớn: Tiểu thừa và Đại thừa. Hai chữ thừa nghĩa là cỗ xe, chiếc xe chở người đang khổ vượt qua đoạn đường đau khổ. Chiếc xe nhỏ là Tiểu thừa, chiếc xe lớn là Đại thừa, khác nhau ở chỗ chở được bao nhiêu người và đi tới đâu.
Tiểu thừa là dòng cổ điển của đạo Phật. Nó coi trọng việc xuất gia, tu khổ hạnh, chủ trương nhân là không mà pháp là có, đề cao việc giải thoát cho chính mình, và đích cuối cùng là chứng đắc quả La Hán. Đại thừa thì không đề cao xuất gia khổ hạnh, chủ trương cả người và pháp đều không có ngã, tự mình giác ngộ rồi giúp người khác giác ngộ, và mục đích là thành Phật. Về sau Đại thừa tách làm hai dòng là Giáo và Thiền. Thiền chính là Thiền tông, thành quả của việc Trung Hoa hóa đạo Phật. Giáo lại chia thành Không tông và Hữu tông, vốn là chính tông của Phật giáo Ấn Độ.
Không tông và Hữu tông: hai cách trả lời câu hỏi thế giới có thật không
Cùng một chữ không, nhưng mỗi dòng nghe ra một giọng khác.
Không tông, còn gọi là Tam luận tông, do Cát Tạng lập đời Tùy. Tư tưởng chính là không: mọi thứ đều không, thế giới trước mắt lẫn thế giới bên kia đều không. Chữ không ở đây không phải là hư vô trơn, mà là một cái có hư ảo, nên cũng gọi là bất chân không. Dòng này chối bỏ cả một thực thể tinh thần ở thế giới bên kia, tiêu biểu là học phái Trung Quán.
Hữu tông chia hai nhánh: Tướng tông, tức Duy thức tông; và Tính tông, gồm Thiên Thai tông và Hoa Nghiêm tông. Dòng này nhìn thế giới hiện thực là hư ảo, nhưng cho rằng ở thế giới bên kia có chân như và pháp giới. Tiêu biểu là học phái Du già, chủ trương duy thức vô cảnh, tức có thức mà không có cảnh.
Mười tông và điều cốt lõi của từng tông
Phật giáo có tất cả mười tông: Thành Thực, Tam Luận, Thiền, Thiên Thai, Tịnh Độ, Câu Xá, Pháp Tướng, Hoa Nghiêm, Luật và Chân Ngôn. Trong số đó, Thiền, Hoa Nghiêm và Thiên Thai thịnh hành nhất ở Trung Hoa, riêng Hoa Nghiêm và Thiên Thai là do người Trung Hoa lập nên.
- Thiền tông: thẳng chỉ bản tâm, thấy tính thành Phật, dựa chủ yếu vào Đàn kinh.
- Pháp Tướng tông: cảnh chỉ là biến hiện của thức, lấy Duy thức luận làm kinh điển.
- Hoa Nghiêm tông: pháp giới duyên khởi, lấy Hoa Nghiêm kinh làm gốc.
- Tam Luận tông: lấy Trung luận của Trung Quán làm kinh điển.
- Thiên Thai tông: chân như duyên khởi, lấy Pháp Hoa kinh làm giáo nghĩa.
Năm tông còn lại, Tịnh Độ, Câu Xá, Luật, Chân Ngôn, Thành Thực, mỗi tông đều có lý luận cốt lõi và kinh điển riêng. Tịnh Độ tông dựa vào Vô lượng thọ kinh, tôn thế giới Cực lạc phương Tây, nét nổi bật là miệng niệm Nam mô A Di Đà Phật.
Nhìn gọn lại thì hai ngọn núi là Không tông, đại diện bởi học phái Trung Quán, và Hữu tông, đại diện bởi học phái Du già.
Không tông
Đại diện là Tam Luận tông, tư tưởng chủ yếu là duyên khởi tính không: mọi việc đều do nhân duyên hòa hợp mà có, vô thủy vô chung, thế giới bên ngoài vốn không có thực thể, chỉ do một điều kiện nào đó mà sinh ra hay mất đi. Dòng này không nhận một thế giới tinh thần bên kia, cũng không nhận có một thực thể tinh thần tối cao.
Hữu tông
Gồm Duy thức tông thuộc Tướng tông, và Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông thuộc Tính tông. Vì nhận có một thực thể tinh thần ở thế giới bên kia nên gọi là Hữu tông. Duy thức tông chủ trương duy thức cảnh biến, nghĩa là sự vật bên ngoài không có thật, chỉ do nhận thức của tâm mà định ra. Thiên Thai tông chủ trương chân như duyên khởi, nghĩa là thế giới bên ngoài có hay không là do bản thể tinh thần gọi là chân như dẫn ra. Hoa Nghiêm tông tin chắc vào pháp giới duyên khởi, cho rằng pháp tính chính là chân như, vạn vật do chân như sinh ra, nhấn mạnh sự dựa vào nhau mà tồn tại, nên chủ trương mọi vật đều soi vào nhau, hòa nhập nhau, viên dung vô ngại.
Thiền tông cũng thuộc Tính tông, nhưng là giáo phái rất riêng của Phật giáo Trung Hoa. Điều cốt lõi là tự tính chính là Phật: trong lòng ta vốn đã có Phật tính, chỉ vì vọng niệm che lấp mà thôi. Bởi vậy Thiền chủ trương chỉ thẳng vào tâm mình, thấy tính thành Phật, vì Phật ở trong thân nên hoàn toàn có thể tự giác ngộ mà thành Phật.
Gốc của mọi tông: cuộc đời là bể khổ
Đứng sau Đại thừa là dòng Tiểu thừa, tiền thân của nó, cũng là hệ thống cổ điển của đạo Phật. Tư tưởng chủ yếu là tịnh độ và xuất thế gian: nhấn mạnh cuộc đời là bể khổ, nguyên nhân của quả khổ là nghiệp, tức hành vi, và hoặc, tức phiền não, vọng niệm. Muốn thoát khổ thì phải dứt nghiệp, đoạn hoặc, chỉ tin rằng phải rời đời thường, cấm hẳn dục vọng mới rũ được bụi trần mà tới cảnh giới thanh tịnh.
Gom lại, tư tưởng chủ đạo của đạo Phật là: đời là bể khổ, chỉ khi tới được thế giới bên kia, Niết bàn, mới là cõi Phật, lý tưởng của sự vượt thoát biển khổ. Nhà Phật phản đối chế độ đẳng cấp của Bà la môn giáo, chủ trương chúng sinh bình đẳng, và nói rằng có sinh là có khổ: già, bệnh, chết đều khổ. Chỉ Niết bàn mới là bờ bên kia. Họ coi sự khát cầu và lòng tham là cội nguồn của mọi đau khổ, tội lỗi, nên đặt ra những giới luật nghiêm khắc, gồm ngũ giới, bát giới, thập giới, mà phần chung là cấm sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói bậy và uống rượu. Nhà sư Trung Hoa còn kiêng ăn mặn. Mục đích là bỏ phàm trần, dứt nghiệp, trừ hoặc, từ đó tới cảnh giới Niết bàn và Bồ đề.
Chữ không rốt cuộc nghĩa là gì
Nghe thì tưởng là trống rỗng, nhưng người xưa dùng chữ ấy để nói về một lẽ rất cụ thể: mọi vật nương nhau mà có.
Lý luận nền tảng của Phật học là chữ không. Chỉ cần nhận hay không nhận có một thế giới bên kia là đã tách ra hai dòng lớn, Hữu tông và Không tông, tạo thành hai nhánh của Đại thừa. Không tông dựa vào thuyết duyên khởi: muôn sự muôn vật đều nương một điều kiện nhất định, gọi là duyên, mà sinh ra. Duyên gồm nội duyên và ngoại duyên, là điều kiện của mọi vật trong chuỗi sinh, trụ, dị, diệt, tức là sinh ra, còn đó, biến đổi và mất đi. Đại diện là Long Thụ, bộ luận tiêu biểu là Trung luận. Hữu tông lại nói cảnh không mà tính có, nghĩa là cảnh bên ngoài không thật mà cái tính bên trong thì thật. Hữu tông chia ra Duy thức tông, theo thuyết A lại da duyên khởi, và Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, theo thuyết chân như duyên khởi và pháp giới duyên khởi.
Nghĩa của chữ không trong kinh Phật rất phức tạp. Kinh Bát nhã kể mười sáu cái không, Trí độ luận kể mười tám cái không. Nhưng nếu nói giản dị, không và có là hai mặt của một sự vật: lúc này nó có mặt, lúc khác nó không. Chữ không ở đây không chỉ nói cội nguồn thế giới là không, cũng không chỉ nói bản thể thế giới là không, mà nói đến quy luật vạn vật biến đổi theo điều kiện trong quá trình phát triển của nó.
Vậy điều gì quyết định sinh, trụ, dị, diệt của sự vật? Nhà Phật nói là duyên. Những điều kiện giúp vật ra đời và còn đó gọi là thuận duyên; những điều kiện làm vật hư hoại, mất đi gọi là nghịch duyên. Trong chuỗi nhân quả vô cùng vô tận ấy, người ta không nên để mặc cho sóng nổi chìm mà phải hiểu quy luật phát triển của sự vật. Đó là nghĩa của câu duyên sinh vô tự tính. Nguồn của quan niệm này đã có từ Thích Ca Mâu Ni, khi ngài nói mọi hành vi đều vô thường, mọi pháp đều vô ngã: mọi việc làm đều hư ảo thay đổi, mọi sự vật đều không có tự tính, không có thực thể.
Duyên khởi: không thứ gì tự đứng một mình
Duyên khởi nghĩa là mọi pháp nương nhân duyên mà sinh. Người ta hay nói nhân duyên hòa hợp, và hễ tách điều kiện ra thì sự vật không còn. Kinh viết:
Bất tòng nhân duyên sinh, thị cố nhất thiết pháp, vô bất thị không nghĩa.
Tạm hiểu: chưa từng có pháp nào không sinh từ nhân duyên, nên mọi pháp đều có nghĩa là không. Một câu khác:
Vạn pháp khởi vu nhân duyên, phàm nhân duyên sở thành chi pháp, giai phi thực hữu, cố không.
Muôn pháp đều do nhân duyên khởi, pháp nào do nhân duyên làm nên thì không thật có, nên gọi là không. Từ đó nói ra nhân vô ngã và pháp vô ngã: con người đã không điều khiển nổi chính mình thì cũng chẳng thể điều khiển được vạn vật. Mọi vật đều do duyên quyết định, nên không có vật nào đứng riêng một mình, cũng không có vật nào có thực thể riêng.
Thuyết này cũng là duyên khởi tính không của Long Thụ, người dựng học phái Trung Quán của Đại thừa. Trung luận là kinh điển của Trung Quán, hay gọi là Long Thụ học. Điều chính của nó là duyên khởi tính không, phủ định sinh và diệt. Vì mọi vật đều là tụ rồi tán của nhân duyên nên vô thường, vô ngã, không có cái thường cố định nào, kể cả bản thân mình. Vì vậy cũng không có đấng tạo ra muôn vật. Vô thường là mọi vật đều trải bốn đoạn sinh, trụ, dị, diệt, tạm có tạm mất như một tia chớp. Vô ngã là thân người chỉ là sự hợp lại tạm thời theo điều kiện, không có một cái ta thường còn. Kinh nói: ngã không, pháp không. Với con người thì nói sinh, trụ, dị, diệt; với thế giới thì nói thành, trụ, hoại, không. Nên gọi là tứ đại giai không.
Trung đạo và bát cơm
Một bát cơm trắng nóng hổi cũng đủ để dạy một bài triết học.
Từ chữ không ấy, Long Thụ đưa ra cách nhìn Trung quán, tức cái nhìn không nghiêng về bên nào. Không nghiêng về có, tức cho rằng sự vật có thực thể cố định và tự tính. Cũng không nghiêng về không, tức coi mọi vật chỉ là hư vô. Ông nói cái không là cái có tương đối: sự vật tồn tại theo điều kiện nhất định. Trong điều kiện ấy nó có, rời điều kiện ấy nó không. Như hạt cơm nấu từ gạo: cơm không có thực thể riêng, không có gạo thì không có cơm. Đó là ý của câu trong thuyết Long Thụ: các pháp do nhân duyên sinh, ta nói đó là không, cũng là tên giả, cũng là nghĩa trung đạo. Có cái tên là cơm, nhưng cái tên ấy không có thực thể riêng; thực thể là gạo. Cái không của Long Thụ vì vậy là vừa không vừa chẳng phải là không. Chữ giả danh chỉ hiện tượng, chữ không chỉ chỗ không có thực thể và tự tính.
Hai nền móng nữa của chữ không: Duy thức và viên dung
Nền thứ hai là học phái Duy thức, lấy Pháp tướng tông làm chủ. Duy là duy nhất, thức là tâm thức; Duy thức chỉ sự nhận biết của tâm. Họ cho rằng thế giới bên ngoài không có, gọi là cảnh không, mọi sự vật hiện tượng đều do tâm biến mà ra. Không có tâm thức thì không có cảnh vật. Đó là duy thức vô cảnh, coi cái biết của người là chỗ nương cho thế giới bên ngoài tồn tại.
Nền thứ ba là cái nhìn viên dung. Viên dung là hòa tan không ngăn trở, cảnh cao nhất của Hoa Nghiêm tông. Họ nói chân không và diệu hữu hợp nhất: chân không là muôn vật trên đời đều trống rỗng, chỉ có chân như, Phật tính, cảnh giới tối cao của sự tu, mới thật sự có, gọi là diệu hữu. Đặt mình vào cảnh Phật thì sự sự vô ngại, đó là viên dung. Hoa Nghiêm tông không cùng quan điểm với Không tông vì vẫn nhận có bản thể ở chân như, Phật tính, Niết bàn, Bồ đề; nên chân không viên dung vô ngại là nền thứ ba của chữ không.
Nói gọn lại, các phái trong Phật học đều có cái nhìn không đối với thế giới bên ngoài, tiêu biểu là Không tông. Trong đó, vì cho rằng thế giới có một bản thể như Phật tính, chân như, Niết bàn và tâm thức người làm chủ thế giới nên đưa vào Hữu tông. Thiên Thai và Hoa Nghiêm nhận một bản thể tinh thần tồn tại; Pháp tướng tông thì chủ trương Duy thức, cho rằng thế giới bên ngoài vốn không có mà đổi theo thế giới trong tâm.
Như vậy, đạo Phật tuy nhiều tông phái nhưng muôn lối biến hóa đều không rời một tông chỉ: hai chữ không và bi chính là chiếc thuyền buồm đưa người ta thoát biển khổ để bước vào cõi Phật.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
