Bài tổng quan
Mộ thị tộc, mộ gia tộc, nghĩa địa làng và mộ tử tù
Ở ngoại ô Lạc Dương, một lô mộ rộng 2.500 mét vuông lộ ra năm trăm hai mươi hai ngôi mộ tử tù, hơn chín mươi tám phần trăm hài cốt là nam giới, nhiều xác bị chặt đầu và chất chồng lên nhau. Còn ở Vân Nam, người Ha Nê tin rằng cùng làng thì chết cũng phải nằm chung một ngôi mộ, đến mức cả làng góp một cái kiềng ba chân cho người chết đầu tiên. Cùng là chuyện đưa người xuống đất, mà mỗi cách chôn lại kể một kiểu xã hội…
Mộ thị tộc: chôn chung nhưng không hẳn là ngang bằng
Hình thái xã hội và chế độ xã hội là một trong những điều kiện lớn nhất định ra tập tục mai táng. Ngay trong cùng một thời, cùng một hệ văn hóa, các nơi vẫn chôn người theo những lối khác nhau. Nhìn vào mộ phần là nhìn thấy một xã hội thu nhỏ.
Thử hỏi người thời thị tộc có của riêng hay không? Tư liệu mộ táng ở phương Đông cho hai câu trả lời. Ở nhiều khu mộ thị tộc Trung Quốc, ngôi nào cũng ít nhiều có đồ chôn theo, và có lẽ đó là của riêng người nằm dưới. Văn hóa Ngưỡng Thiều ở trung du sông Hoàng Hà là mẫu điển hình: trong hơn một nghìn ngôi mộ đơn đã khai quật, chưa tính những chiếc tiểu sành chôn trẻ nhỏ, ngôi nào cũng có vật tùy táng. Chủ mộ rõ ràng vừa được dùng vừa được sở hữu những vật ấy. Vì phần đông thành viên đều có đồ chôn theo, nên có thể nói hầu hết họ đều có một mức tài sản riêng nhất định.
Nhưng đó chưa phải toàn cảnh. Ở Lễ Châu, Tây Xương, Tứ Xuyên, di chỉ thời đá mới cho thấy từng thịnh hành một loại mộ có rãnh và huyệt đứng, dài từ một đến tám mét, rộng từ 0,8 đến 1,3 mét. Đó là mộ tập thể, bốc mộ một lần, mỗi ngôi chứa khá nhiều vật phẩm. Dù thời ấy đã bước sang đồng đen, thậm chí đồ sắt, vật tùy táng vẫn là của chung cho cả chủ lẫn những tội tớ chôn cùng. Ở Hoa Âm, Thiểm Tây, thuộc hệ Ngưỡng Thiều, cũng có ngôi bốc mộ chứa hơn bốn mươi bộ xương, đồ chôn thuộc về tất cả những người nằm trong đó. Điều này cho thấy giữa thời thị tộc quả có thị tộc thực hành chế độ công hữu tài sản, không chia cho riêng ai.
Làm sao nhận ra tập tục chôn chung của thị tộc? Có người cho rằng những người nằm cùng nhau phải cùng huyết thống, có người bảo họ là những người thân cận và chết gần nhau; quan điểm nào cũng có khả năng đúng. Tư liệu dân tộc học thêm một gợi ý. Ở một vài vùng người Đồng còn giữ lệ xưa: dựng một căn nhà nhỏ bằng gạch hoặc gỗ xa làng làm chỗ đặt quan tài, có người chết thì đặt vào đó, rồi đợi những người già cùng thôn, cùng tuổi lần lượt qua đời, mới chọn ngày hợp để chôn cùng một lượt. Cũng có người chết sai ngày: tháng Tám âm là tháng gặt hái nên kiêng chôn người, vợ đang mang thai thì không được chôn chồng, nên quan tài phải chờ dịp tốt. Tục để quan tài chờ như vậy cũng là một nguyên do của việc chôn chung. Tất cả đều mọc lên từ nền tài sản công hữu. Nếu không có sợi dây kinh tế thắt chặt thì không thể đem người chết của nhiều nhà vào chung một ngôi mộ.
Huyệt mộ to hay nhỏ, đồ chôn theo ít hay nhiều là manh mối chính để biết địa vị và của cải của chủ mộ. Nhìn chung các khu mộ thị tộc Trung Quốc huyệt đều nhỏ, đồ chôn theo ít, nói lên sức sản xuất còn thấp và thành viên cơ bản ngang hàng nhau, nhưng giữa họ vẫn có chút khác biệt đáng để ý. Ở những di chỉ cách nay khoảng tám nghìn năm, phần nhiều huyệt chỉ vừa một thân người, vài ngôi lớn gần gấp đôi; đồ chôn đều là đá và gốm. Số lượng chênh nhau rất xa: có ngôi chỉ vài món hoặc không có món nào, có ngôi ba đến mười món, hai ngôi lớn thì một ngôi hai mươi lăm món, một ngôi hai mươi món. Vậy địa vị và của cải của các chủ mộ chưa hoàn toàn bình đẳng. Còn trong các mộ thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều, ngoài đồ chôn khá phong phú của vài đứa trẻ, mức chênh thường không lớn.
Các khu mộ thị tộc thời cổ phần nhiều bố cục có quy luật: xếp ngay ngắn, hướng mộ cơ bản giống nhau, cách chôn cũng giống nhau. Ấy là dấu hiệu thị tộc đã sắp xếp các mộ chung theo một khuôn thống nhất và có người chuyên lo quản lý.
Một số di chỉ Ngưỡng Thiều còn có hài cốt nằm trong hào. Những người này chết đi không được vào khuôn viên mộ thị tộc, không có huyệt, không có đồ chôn theo, bị ném vào hào đựng rác. Cách chôn ấy mang ý phơi thây cho mọi người cùng thấy. Có lẽ họ đã phạm luật thị tộc rất nặng và bị xử tử. Ở vài di chỉ còn có một ngôi mộ mà chủ mộ không có đầu, thay vào chỗ đầu là một vật bằng sứ; lại có ngôi mộ không có chủ nhưng vẫn có đồ chôn theo. Điều đó cho thấy thị tộc thời ấy đã dùng đến hình phạt chặt đầu.
Mộ gia tộc: dòng họ nằm cùng một huyệt, nam giới giữ vai chính
Khi nếp thị tộc dần rã ra, một đơn vị nhỏ hơn bước lên nắm lấy mộ phần: gia tộc.
Chế độ thị tộc ở các vùng Trung Quốc tan rã sớm muộn khác nhau, rồi chế độ gia tộc lớn dần, và điều đó hiện rõ trong tập tục chôn cất vốn khá phức tạp. Mộ gia tộc là những ngôi mộ mà người cùng gia tộc, cả con cháu nhiều thế hệ về sau, được chôn chung. Nó khác mộ thị tộc ở mấy điểm. Mộ thị tộc chôn mọi thành viên chính thức, ai nằm đó cũng phải có quan hệ huyết thống, không chôn vợ hoặc chồng, không chôn người ngoài dòng tộc, nô lệ và tù binh; có vùng ngay cả người chưa thành niên cũng không được chôn ở mộ thị tộc. Mộ gia tộc thường chỉ chôn nam giới của gia tộc và vợ họ, không chôn con gái đã gả đi nơi khác; trẻ chưa thành niên vẫn có thể chôn ở mộ công. Thị tộc và mộ phần của nó chủ yếu nhận ra bằng vật tổ, còn gia tộc và mộ gia tộc thời đầu nhận ra bằng huy hiệu, về sau dựa vào họ tên. Mộ thị tộc xếp thứ tự theo cấp bậc trên dưới và tuổi tác, mộ gia tộc căn cứ vào nam giới để tính thế hệ và xếp thứ tự.
Nhiều nền văn hóa còn để lại những ngôi mộ chôn theo cả thê thiếp. Những người phụ nữ không có quan hệ huyết thống trực tiếp với dòng tộc bắt đầu được chôn cùng khu mộ. Dù tuẫn táng là một cách giết người tàn khốc với phụ nữ, nó cũng là bước phá vỡ lệ người ngoài dòng tộc không được chôn chung mộ thị tộc, và trong lịch sử mai táng nó là cột mốc đánh dấu một thời đại.
Trên đồ đồng thời Thương, Chu thường có huy hiệu dòng tộc, phần nhiều là dấu của gia tộc thời đầu. Thời Ân, khi chế độ nô lệ còn ở giai đoạn đầu, mộ gia tộc phổ biến. Ở miền tây từng phát hiện tám khu mộ, năm khu khai quật được đồ đồng đen đều mang huy hiệu riêng của gia tộc đó, và mỗi huy hiệu khác nhau ứng với một khu mộ khác nhau của gia tộc. Từ cuối Tây Chu đến Xuân Thu, huy hiệu dòng tộc ít dần trên đồ đồng chôn ở Trung Nguyên, thay vào đó là nhiều tên họ.
Từ sau thời Hán, ở mộ gia tộc thường thấy cảnh vợ chồng chôn chung, như những mộ nhai đời Hán ở Tứ Xuyên. Một ngôi mộ huyệt chia thành nhiều gian, chôn hơn mười chiếc quan tài, là mộ gia tộc; trong đó có gian đặt hai bộ quan tài, là phòng của đôi vợ chồng, hoặc cả ngôi chôn hai quan tài, hoặc hai gian xếp gần nhau là phòng riêng của hai vợ chồng. Kiểu ấy gọi là hợp táng hai phòng.
Đến Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, chế độ gia tộc phát triển cao độ nên mộ gia tộc cũng phát triển theo. Mộ gia tộc thời ấy phần nhiều xây tường vây, xếp có trật tự. Ở Nam Kinh, mộ gia tộc thường hình vuông hoặc tròn, rộng hàng vạn mét vuông, như mộ Sơn Vương Thi khoảng năm vạn mét vuông. Người được chôn gồm tộc chủ, phu nhân, con trai và con dâu. Cách mai táng ấy là hình ảnh thu nhỏ cho thấy các dòng tộc lớn thời đó coi trọng thứ bậc thế hệ đến mức nào.
Tư liệu dân tộc học giúp hiểu rõ hơn tính chất của mộ chung gia tộc. Người Ha Nê ở Vân Nam cho rằng người cùng một gia tộc, lúc sống cũng như sau khi chết, đều phải sống trong cùng một làng, nên cũng phải chôn trong cùng một ngôi mộ. Mỗi gia tộc, vào một thời kỳ nhất định, thường phải di cư đi khai hoang, nên mộ tập thể cũng thường dời theo. Sau khi di cư xong, người đầu tiên chết ở mỗi làng được cả làng nhân danh chung tặng một cái kiềng sắt ba chân, một cái nồi sắt và một cái bình gỗ để dùng vào việc ăn uống; người chết sau chỉ được người thân dâng bát cơm và một cái bàn bằng mây, vì họ tin người chết sau sẽ đến nhà người chết trước lấy cơm. Tục chôn chung một mộ, cùng ở một nơi, cùng dùng một bộ đồ dùng không phân biệt phản ánh sức sản xuất còn thấp và của cải còn nghèo. Dù vậy nó làm người chết yên tâm vì không cô đơn, và nhắc người sống giúp nhau như người một nhà.
Tục cáo tang, tức báo tin cho họ hàng làng xóm, chỉ xuất hiện khi xã hội gia tộc hình thành, và đến nay vẫn còn. Vì sao nhiều dân tộc trên thế giới đều chuộng cáo tang mà nhà có tang không lặng lẽ đem chôn người chết? Tục ấy có nhiều tác dụng. Trước hết, cùng nhau lo việc chôn cất thì tình nghĩa giữa người nhà với bạn bè, láng giềng thêm bền. Kế đến, bạn bè láng giềng biết được di chúc, di vật của người chết, biết nguyên nhân qua đời để gạt bỏ những nghi ngờ không đáng có. Nếu người chết là phụ nữ thì điều này càng quan trọng với người thân của bà.
Nhiều dân tộc khi có người chết thì tổ chức múa nhảy rất long trọng để báo tang. Chu Thần ở huyện Quảng Đô, Thục quận đời Hán, làm thái thú ba quận, là người hiền đức; lúc ông mất, dân ba quận đưa tiễn đến tận mộ, hai bên đường đánh trống làm rung động cả người qua lại. Trong Điền chí, Minh Thiên Khởi chép rằng người Ha Nê chết không có quan tài, người đưa tang đánh chiêng đánh trống, đầu gắn lông gà, nhảy múa theo vòng tròn, cầm tay nhau, dậm chân, gọi là "nhảy quỷ". Họ để thi thể ba ngày rồi hỏa táng, nhặt xương đem chôn. Người Bố Y thì khi có người già mất, người thân kéo tới mang theo tiền, khăn, rượu gạo, thịt dê, thịt lợn; nhà có tang giết bò chia cho bạn bè, nam nữ đứng đối nhau đánh trống, ai đánh sai nhịp thì bị phạt rượu. Điệu múa điếu tang như thế phô ra sức mạnh tập thể của cả bộ tộc, làm lòng người thêm đoàn kết. Cả tộc cùng hát cùng múa giúp nỗi nhớ thương của họ hàng nhẹ đi, và nhà có tang hiểu rằng dù mất một người, họ vẫn còn thị tộc làm chỗ dựa.
Nhiều nơi trong thời gian chịu tang, thị tộc và gia tộc cùng ngồi ăn uống liền mấy ngày. Nhà nghèo làm ít ngày, nhà giàu làm nhiều hơn để phô trương thanh thế. Tục này hạn chế sự phân hóa giàu nghèo quá lớn trong nội bộ gia tộc, thị tộc, phản chiếu tư tưởng bình quân của thị tộc khi lo việc tang. Người Nạp Tây ở Lỗ Điện, Lệ Giang, Vân Nam là một ví dụ: nhà nghèo có người mất chỉ cần mời thầy cúng đến niệm kinh, giết một con lợn lớn, một con gà là chôn được. Nhà giàu thì làm từ ba đến năm ngày, thậm chí bảy tám ngày, mỗi ngày tế ba lần, có nhà mỗi ngày bày hàng chục mâm cỗ đãi khách, hao tiền tốn của.
Nghĩa địa làng và nghĩa địa phố
Khi cả thị tộc lẫn gia tộc mất vai trò, người ta bắt đầu chôn nhau theo nơi ở.
Cùng với việc chế độ thị tộc và gia tộc bị xóa bỏ, xuất hiện thôn táng: không còn chia theo dân tộc, gia tộc, người trong thôn đều được chôn trong khu mộ chung. Các thôn ở Vân Nam đều có nghĩa địa chung không chia đẳng cấp, gia tộc hay tên họ; chỉ cần là thành viên của thôn là được nhập táng. Điều này gắn với việc nhiều dân tộc sống xen lẫn nhau trong cùng một vùng và phải chú ý đến lợi ích chung của cả thôn. Nơi thực hành công mộ làng xã thì căn cứ vào gia tộc để vạch ranh giới mộ, trong gia tộc dựa vào vai vế và tuổi tác để xếp chỗ. Ở các vùng nông thôn rộng lớn, loại mộ này ngày nay vẫn còn lưu hành. Với những người tin vào linh hồn, đó là biểu tượng cho việc cả thôn lúc sống và sau khi chết đều ở cùng một nơi, giúp đỡ nhau. Với những người khác, chôn người cùng thôn ở một chỗ thì tiết kiệm đất, bảo đảm vệ sinh và có cảm giác quy tụ hơn là đặt mộ khắp nơi.
Khi mô hình thành thị ra đời, nghĩa địa thành thị xuất hiện theo. Mộ ở thành phố, thị trấn thường nằm ngoại thành, là mộ công cho toàn bộ dân cư. Bên trong có loại vẫn lấy dân tộc, gia tộc, gia đình làm tiêu chí chia khu, có loại không phân gia tộc, tên họ, không phân già trẻ, trai gái, cứ thế chôn lần lượt. Trong lịch sử, mộ thành phố thiếu hệ thống quản lý chuyên môn, chủ yếu dựa vào ý thức văn hóa, nhưng nhìn tổng quát thì mộ phần ở đây về cơ bản đều có trật tự: mộ lớn nhỏ, hình dáng, bia cao thấp đều tương đối thống nhất.
Phép nước định ra hình dáng ngôi mộ
Đến khi có nhà nước, chỗ nằm cuối cùng của mỗi người cũng bị quyền lực chạm tới.
Khi lịch sử bước vào thời quốc gia tự chủ, chức năng của bộ máy nhà nước hiện ra trên nhiều mặt của xã hội: sản xuất, sinh hoạt, phong tục. Quan niệm về cõi âm cõi dương đều bị bộ máy nhà nước chi phối, và mai táng, vốn là hình ảnh thu nhỏ của xã hội thật, cũng chịu ảnh hưởng sâu của thể chế ấy. Việc nô lệ bị đem chôn theo chủ, dùng quân đội để đánh chiếm, cướp đoạt, áp bức và giết hại tàn bạo, vốn có cơ sở ở sự phát huy chức năng của nhà nước. Qua các thời, nhà nước còn quy định rất nghiêm độ cao thấp, hình dáng mộ phần của giai cấp quý tộc, quan viên. Ai vi phạm thì bị pháp luật trừng trị hoặc dư luận lên án. Lăng của các hoàng đế, từ lúc xây đến lúc giữ gìn, đều phải dựa vào quân đội và pháp luật; còn gia đình nghèo đến mức không thể tự chôn người nhà thì chính quyền trực tiếp can dự.
Điều đáng chú ý là gần đây Trung Quốc phát hiện được vài lô mộ tử tù thời Tần Hán. Mộ tử tù thời Tần nằm ở phía tây, ngoài bức tường vây lăng Tần Thủy Hoàng ở Lệ Sơn. Đã kiểm tra, giám định hơn một trăm ngôi và khai quật ba mươi hai ngôi chôn đến một trăm người tù. Thường một rãnh mộ chôn hai ba người, ít thì một, có rãnh chôn hơn mười người. Phần nhiều người chết nằm với tay chân gập lại, có lẽ vì bị trói chặt lúc chết. Ngoài một bộ quan tài bằng sành, tất cả đều không có đồ chôn hay vật dụng nào theo người. Giám định cho thấy trong số người chết chỉ có rất ít phụ nữ và trẻ nhỏ, đa phần là đàn ông trai tráng, sáu người bị giết rồi mới chôn. Những mảnh ngói khai quật được trong mộ đều khắc quê quán, tính chất phục dịch, tước vị và tên tuổi người chết, nhờ đó đoán được số tử tù này chủ yếu đến từ ba nước Tần, Tề, Sở. Trong mười chín người như thế, mười người là lao dịch, tức những "cư hiền" đi làm vì nợ tiền chính phủ, theo ý nghĩa pháp luật nghiêm khắc thì không giống tù nhân; vậy mà Tần Thủy Hoàng lúc xây lăng đã coi họ ngang với tù nhân.
Năm 1972, giới khảo cổ phát hiện mộ tử tù thời Tây Hán ở phía tây bắc Đường Lăng, huyện Kinh Dương, Thiểm Tây. Dương lăng là khuôn viên lăng của Cảnh Đế; ông lên ngôi chưa bao lâu thì chọn đất này xây lăng. Trong hai mươi chín ngôi đã mở, có huyệt chôn năm sáu người, ai cũng phải đeo gông, kẻ ở chân, kẻ ở cổ, có người bị chặt đầu hoặc đánh gãy lưng rồi mới chôn. Năm 1964, một lô mộ tử tù Đông Hán lộ ra ở ngoại ô phía nam thành Lạc Dương, Hà Nam. Trong phạm vi 2.500 mét vuông đã khai quật năm trăm hai mươi hai ngôi mộ và tám trăm viên gạch mộ có khắc chữ. Lô mộ này bị đào vỡ, xác chồng lên nhau, là hiện tượng thường thấy; có mộ chôn chưa lâu đã bị đào lên để đặt xác khác. Rất nhiều tử tù bị chặt đầu mà chết. Giám định bốn trăm hai mươi hai bộ xương thì ngoài bảy bộ của phụ nữ, còn lại đều là nam giới, chiếm trên 98%, nhiều nhất ở độ tuổi từ mười lăm đến ba mươi bốn, gần một nửa.
Hai loại mộ tử tù ấy cho thấy lăng mộ hoàng đế thời Tần Hán chủ yếu do tù nhân dựng nên. Mộ táng càng hào hoa, xa xỉ thì càng cần dựa vào pháp luật và thể chế nhà nước.
Tin rằng linh hồn tồn tại vĩnh viễn còn giúp dân hiểu kết cục của kẻ phạm pháp: không chỉ kiếp này mất tự do, mà sau đó linh hồn còn bị giam giữ mãi mãi. Vì thế niềm tin ấy thúc đẩy mọi người giữ phép nước. Vào lúc quan niệm linh hồn còn nặng, nó còn có tác dụng "giết gà dọa khỉ": người tù ý thức rằng đeo gông xiềng mà chôn thì linh hồn không được giải thoát, không thể chuyển kiếp đầu thai, nên phải chăm chỉ phục dịch.
Mộ của các dân tộc thời xưa đều chôn kèm binh khí. Trong hơn hai mươi ngôi mộ đời Hán ở Thạch Trại, Tấn Ninh, Vân Nam có tổng cộng 1.020 binh khí. Một ngôi mộ đời Xuân Thu, Chiến Quốc ở Vạn Gia Bối, dù từng bị đào trộm vẫn còn hơn 460 binh khí. Vì sao mộ lại chôn nhiều binh khí đến thế? Trước kia người ta cho rằng chủ mộ là quân lính, nhưng khó giải thích vì sao một người lại chôn theo tới vài trăm binh khí. Có lẽ chủ mộ muốn lập đội vũ trang và chiếm giữ một đạo quân thật lớn ở âm gian. Châu Á Phu thời Tây Hán lúc còn sống đã lo xây mộ; con trai ông mua năm trăm bộ áo giáp và khiên để chôn cùng. Diên Yên dựa vào đó làm chứng buộc tội Châu Á Phu mưu phản, nói rằng lúc sống không phản vua mà định phản vua ở dưới âm phủ. Câu chuyện ấy cho thấy ý nghĩa sâu xa của việc chôn binh khí phổ biến trong mộ cổ.
Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.
