Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Nước chảy từ phương Mộc Dục, Lâm Quan, Đế Vượng, Tuyệt, Thai

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202610 phút đọc0 lượt đọc
Nước chảy từ phương Mộc Dục, Lâm Quan, Đế Vượng, Tuyệt, Thai

Một dòng nước chảy tới từ phương Lâm Quan thì tuổi trẻ đã thành đạt, nhưng từ phương Mộc Dục thì ruộng vườn bán sạch, gia nghiệp tan vỡ. Mười hai phương của vòng trường sinh, mỗi phương mang một điềm riêng khi có nước đổ về, và khi hai dòng gặp nhau thì điềm ấy lại đổi. Vì sao có phương chỉ nên dùng làm cửa nước?


Ba dòng nước tham lang: Giáp về Cấn, Canh về Tốn, Nhâm về Dần

Nước hướng Giáp chảy về cung Cấn thì nơi ấy ắt sinh bậc đại quan quý hiển, có thể đến vương hầu công khanh. Nước hướng Canh chảy về cung Tốn thì con cháu làm quan trong triều. Nước hướng Nhâm chảy tới cung Dần thì con cháu nổi danh, đề tên bảng vàng, vinh hoa phú quý.

Lỗ huyệt và cửa quan: nơi khí núi chui vào

Phải phân biệt cho rõ hình dạng cụ thể của lỗ huyệt, xem thế núi nước hai bên trái phải ra sao, nước chảy về hướng nào, thì biết được điềm lành dữ do tạo hóa mang đến. Nếu huyền và quan bên trong cùng một lỗ huyệt với huyền và quan bên ngoài thì phúc lộc bền lâu. Nếu một lỗ huyệt nối liền với quan thì xuất hiện nhân vật mưu lược hơn người. Nếu trong huyền thành dáng giao nhau kỳ diệu thì đó là huyệt cát lợi; nếu huyền và quan không có dáng giao nhau thì bỏ đi.

Khí của các ngọn núi dồn dập tiến vào trong quan, nếu gặp dáng chữ Tam, chữ Ngũ thì ắt sinh bậc đại quan quý hiển. Nếu huyền và quan đổi một đốt mà gặp nơi sinh khí thịnh vượng thì nơi ấy nhất định xuất hiện nhiều bậc anh hùng hào kiệt. Không cần phân biệt thuộc âm hay thuộc dương, đơn giản hay phức tạp, chỉ cần tránh để khí của phần mộ bị tán thoát là được.

Âm dương của nước chỉ nhìn thần thái và số dòng nước

Cái nhìn cốt yếu về nước nằm ở chính dòng nước hai bên, không nằm ở việc đếm thiên can, địa chi.

Có kinh cổ bàn đến phép song sơn, dùng lòng bàn tay để tính sinh khí của núi nước một cách đầy đủ. Nếu luyện tập thấu hiểu thế âm dương giao hội phức tạp thì sẽ rõ dòng nước thế nào là cát lợi, thế nào là hung họa, thật vô cùng ảo diệu.

Nước hướng ra thuộc âm hay dương chỉ căn cứ vào thần thái và số lượng của dòng nước ở hai bên trái phải. Nếu cố chấp chỉ xem thiên can, địa chi để định hướng thuận hay nghịch thì dù xem ở núi cao hay đất bằng đều mắc sai lầm.

Bảy ngôi sao phối với dòng nước

Nếu dòng nước phối với sao Phá Quân thì mộ lớn phát sinh. Phối với sao Lộc Tồn thì nhân đinh bị tuyệt diệt. Phối với sao Tham Lang thì an nhàn, trường thọ. Phối với sao Văn Khúc thì thành thư sinh nho nhã. Phối với sao Vũ Khúc thì thành đại quan quý hiển. Phối với sao Cự Môn thì táng gia bại sản. Phối với sao Liêm Trinh thì tử vong hoặc bệnh tật triền miên. Như vậy bảy ngôi sao có cát hung họa phúc rất rõ ràng.

Phương Dưỡng: muốn nuôi sống thì nước phải tới minh đường

Muốn dưỡng sinh thì trước hết phải có nước chảy đến minh đường. Nếu sao Tham Lang chiếu vào huyệt thì nổi danh văn tài. Nếu sao Tham Lang chiếu đầy đủ cả hai phương thì con cháu vinh hoa phú quý, đầy nhà, tính nết hiền lương. Nếu dòng nước uốn lượn, tỏ vẻ cung kính thì nhất định có chức cao trong triều; nếu nước hiền hòa bao bọc thì phúc lộc lâu dài. Nếu nước xối thẳng vào huyệt thì sức sống dần tuyệt, sớm thành cô quả, bần cùng.

Phương Mộc Dục: nước chảy tới thì nữ nhân phóng đãng

Mười hai phương của vòng trường sinh, mỗi phương mang một điềm khi nước từ đó chảy tới.

Nếu nước phương Mộc Dục chảy đến thì nữ nhân dâm đãng, gian dâm hoặc bỏ nhà theo trai. Nếu nước Mộc Dục từ phương Tý, Ngọ chảy tới thì ruộng vườn bán sạch, gia nghiệp tan vỡ. Nếu nước Mộc Dục từ Mão, Dậu chảy đến thì chủ nhân ham mê rượu chè cờ bạc, tiêu xài hoang phí. Nếu nước Mộc Dục còn xung phá vị trí sinh thần thì không chỉ nổi tiếng dâm đãng mà còn khổ sở vì hình ngục.

Phương Quan Đới và phương Lâm Quan

Nước Quan Đới chảy tới làm cho chủ nhân thông minh, hoặc phong lưu chơi bời. Bảy tuổi đã làm thơ viết văn, lời lẽ hoa mỹ, kiến thức uyên bác, người người tán thưởng. Nước Quan Đới phải tụ lại mới cát lợi.

Nếu nước phương Lâm Quan chảy đến phần mộ hay huyệt nhà thì tuổi trẻ đã thành đạt, thăng quan tiến chức, làm tể tướng phò tá một bậc quân chủ hiền minh. Phương Lâm Quan kỵ nhất là núi nước rời bỏ chỗ này mà đi, vì như vậy con cháu sẽ chết yểu, cô quả và nghèo túng.

Phương Đế Vượng, phương Suy và phương Mộ Khố

Nếu nước phương Đế Vượng tụ trước minh đường thì sinh khí thịnh vượng bao trùm, quan lộc hanh thông, uy danh hiển hách, vinh hoa phú quý. Nhưng khí Đế Vượng kỵ nhất là bị tử khí nặng nề tới xung phá, gây đủ thứ tai họa cho chủ nhân.

Chủ quản cách cục phương Suy là sao Cự Môn. Nếu nước phương Suy không tới bên học đường thì sẽ có học trò thông minh dĩnh ngộ, thi đỗ trạng nguyên, nổi tiếng văn tài, phú quý vinh hoa tột đỉnh.

Nước phương Mộ Khố tại chỗ sao Phá Quân mà dừng lại lưu luyến rồi mới chảy đi thì chủ về người trung trinh. Nếu nước Mộ Khố uốn lượn vòng vèo thì nổi danh giữa văn võ bá quan; nếu chảy thẳng tới thì bị đày ra vùng biên ải khổ sở, thậm chí tuyệt tự.

Phương Bệnh, Tử, Tuyệt, Thai

Có những phương mà nước tốt nhất là không chảy qua, và chỉ có thể dùng làm cửa nước.

Nếu nước hai phương Bệnh, Tử không chảy qua thì mọi sự như ý, thi đỗ bảng vàng, thăng quan tiến chức, quyền cao chức trọng. Nếu nước hai phương Tử, Bệnh chảy xéo tới thì họa vô đơn chí, đủ điều xấu xa.

Nếu nước phương Tuyệt, Thai chảy đến thì tuyệt tự, thai sản khó khăn, có sinh mà không có dưỡng, cha con tuyệt tình thành thù địch, vợ chồng chia lìa. Nếu thế nước Tuyệt, Thai chảy mạnh thì mỹ nhân dâm đãng bỏ theo trai; nếu chảy yếu thì nam nữ tư tình. Chỗ này chỉ nên dùng làm cửa nước.

Khi hai dòng nước gặp nhau

Nếu nước phương Dưỡng chảy tới gặp nước Trường Sinh thì nơi ấy ắt có người thông minh dĩnh ngộ. Nước Dưỡng gặp nước Mộc Dục cùng chảy tới thì cả nhà vinh hiển. Nước Quan Đới gặp nước Dưỡng chảy tới thì người trong họ nhất định tài hoa hiển hách, địa vị cao quý. Nước Quan Đới gặp nước Đế Vượng cũng rất cát lợi. Nếu nước Suy tụ ở trước minh đường rồi chảy vào trong thì tai họa liên miên, bệnh tật dồn dập.

Nước Mộc Dục gặp nước Trường Sinh thì tuy tài hoa xinh đẹp nhưng gian hiểm khôn lường, ăn chơi phóng đãng. Nước Quan Đới gặp nước Mộc Dục thì đàn ông thành kẻ làm trò hề, đàn bà là kỹ nữ mua vui cho khách, mệnh vận xấu. Nước Mộc Dục gặp nước Đế Vượng thì tiền tài sung túc nhưng dâm tà phóng đãng. Nếu nước Suy chảy tới nhập cục thì lấy kỹ nữ làm vợ mà sinh được quý tử. Nếu nước Tử gặp nước Bệnh ở minh đường thì sinh con ngu độn, gia nghiệp suy bại. Nước Mộ gặp nước Tuyệt thì đơn độc nơi đất khách. Nước Thai gặp nước Dưỡng thì liên tiếp bị sẩy thai.

Nước Quan Đới gặp nước Trường Sinh ắt xuất hiện thần đồng, đề tên bảng vàng. Nước Mộc Dục gặp nước Quan Đới thì dù dung nhan tuấn mỹ cũng chết yểu. Nước Lâm Quan gặp nước Dưỡng thì gia tộc ắt giàu có, trường thọ. Nước Suy gặp nước Lâm Quan thì tuy quý hiển nhưng chết vì bệnh nan y. Tuyệt đối không để nước Tử hay nước Bệnh ào ào chảy tới, gây đủ thứ tai họa.

Mạch rồng chia trái phải, thuận hay nghịch

Mạch rồng chảy về phía trước, hình thái biến hóa muôn hình nghìn dạng, vốn không có cách thức cố định. Thông thường mạch rồng chia thành hai đường trái phải mà đi. Mạch quay sang bên trái là Dương, quanh co uốn lượn thành một huyệt. Mạch quay sang bên phải là Âm, cũng quanh co uốn lượn thành một huyệt. Mạch rồng đi thành hình chữ Tam, chữ Bát thì từ đó phân biệt được thuận thế hay nghịch thế. Mạch rồng hướng sang đông và sang tây thì từ đó phân biệt được thuộc dương hay thuộc âm.

Kinh về rồng nói rằng nếu mạch rồng chạy đến từ bên trái thì huyệt nằm ở bên phải, chỉ vì khi mạch rồng vận hành nghịch thế mới là cách nhập thủ thật sự. Nếu mạch rồng chạy đến từ bên phải thì huyệt nằm ở bên trái, chỉ vì khi mạch rồng giấu thân mình thì mới giống như cái bàn xoay.

Kinh ấy còn nói nếu hai dòng nước kèm theo mạch rồng chảy đến thì trước hết nên tìm chỗ bờ sông uốn quanh. Nơi bờ sông uốn quanh, nước ôm lấy đầu mạch rồng, thì tìm huyệt phải chọn chỗ sinh khí sung mãn, không bị tiêu tán. Lại nói mạch rồng cùng uốn lượn theo nước, nước nương sát mạch rồng mà chảy, nên nước có nhiều dạng uốn lượn thì mạch rồng ắt có nhiều hình thái thuận thế, nghịch thế. Đó gọi là hai đường đi ngược nhau, chứ không phải cùng một đường mà tới.

Mạch rồng đã phân biệt thuận thế, nghịch thế, còn khác nhau ở tính cái và tính đực. Bốn mươi tám hình thái của mạch rồng đều hợp với đường nước. Tam hợp xuất phát từ gốc tiên thiên của mười hai chi. Đọc kỹ bốn bộ kinh phong thủy sẽ thấy chúng đều theo quy tắc tam hợp.

Biện Âm Dương của hướng nước

Hướng của dòng nước biến hóa rất nhiều, đại thể chia làm hai hướng trái và phải. Cục lục bát tương truyền là thế nước kỳ diệu nhất. Đồ cục lưu truyền trên đời quá nhiều khiến người ta dở khóc dở cười. Ngày nay về cơ bản không còn ai dùng phép thiên bàn, hay dùng tam hợp, Huyền Không để định hướng nữa.

Ngũ hành với mạch rồng thực tình không liên quan gì với nhau. Họa phúc cát hung chỉ có thể biết bằng cách quan sát kỹ đường đến của dòng nước. Trong nước có khí sinh vượng, cũng có khi hung sát. Nếu phối hợp chính xác thì khí hung sát cũng có thể hóa thành sinh vượng; nếu phối hợp sai thì khí sinh vượng cũng có thể hóa thành hung sát. Vì nước thu nhận khí sinh vượng và phóng ra khí hung sát, nên phải dựa vào hướng nước mà định.

Nếu cửa nước là nước trong của Mộ Thìn, uốn sang bên trái thành cục nước dương, uốn sang bên phải thành cục Kim âm. Nếu cửa nước là nước trong của Mộ Tuất, uốn sang bên phải là cục Mộc âm. Hoặc thu nạp sinh khí của nó, hoặc thu nạp vượng khí của nó, thì mới đi vào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Hưu Mộ tác động qua lại với Sinh Vượng, Huyền Không nối với lỗ huyệt thì mới có thể phát sinh cơ hội bột phát và hưng thịnh. Nếu không, nước Thìn biến thành cục Hỏa, nước Tuất biến thành cục nước dương, sẽ xung phá quan lộc, dẫn đến suy tuyệt nghiêm trọng.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia