Bài tổng quan
Tư Mã Thiên khơi nguồn sử học và nói thay người dân
Ngòi bút ấy xếp một lãnh tụ nông dân đứng ngang hàng vương hầu, và đặt kẻ thua trận Hạng Vũ vào hàng đế vương. Từ đó cách người ta nhìn quá khứ không còn như cũ…
Mục lục · 6 phần
- 01Bài ca tuyệt diệu của sử gia và thơ Ly tao bằng văn xuôi
- 02Một bộ bách khoa và nền móng của nghề viết sử
- 03Sử ký là tấm gương chính trị: khen điều tốt, chê điều xấu
- 04Tiếng nói của người dân và của những dân tộc ít người
- 05Bức tranh trọn vẹn của mọi tầng lớp xã hội
- 06Đạo Khổng làm nền: sùng Nho, lấy Lục kinh và Xuân Thu làm chuẩn
Bài ca tuyệt diệu của sử gia và thơ Ly tao bằng văn xuôi
Lỗ Tấn đánh giá Sử ký là bài ca tuyệt diệu của sử gia, một tuyệt tác "Ly tao" viết bằng văn xuôi. Theo ông, đây không chỉ là bộ sử vĩ đại mà còn là tác phẩm văn học bất hủ.
Điều Sử ký nhấn mạnh là chính con người làm nên lịch sử và thúc đẩy lịch sử đi tới. Từ đó bộ sử khai sáng lối chép sử lấy nhân vật làm trung tâm, đồng thời mở nguồn cho dòng văn học kỷ truyện. Nó cũng để lại dấu son về nghệ thuật ngôn ngữ, làm giàu thêm kho ngôn ngữ văn học Trung Hoa, và là một điển hình của phê bình văn học, đặt ra những chuẩn mực đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển văn học. Với nghệ thuật văn xuôi tinh tường và hình tượng nhân vật phong phú, Sử ký phá vỡ khuôn khổ chép sử đơn thuần của người đi trước, mở ra một lĩnh vực mới khiến văn học lịch sử trở nên sinh động và nhạy bén.
Một bộ bách khoa và nền móng của nghề viết sử
Từ ngày có Sử ký, người viết sử học được cách nhìn lịch sử như một dòng chảy có chiều sâu thay vì chỉ ghi từng năm, từng triều.
Sử ký không chỉ là tác phẩm văn học sử vĩ đại mà còn là bộ sách tổng hợp mang tính bách khoa. Nó kế thừa và phát triển nghệ thuật tổng hợp của thư tịch cổ, nên thành bộ bách khoa về lịch sử Trung Hoa trước thời Tây Hán. Qua việc biên soạn lịch sử, nó phản ánh toàn diện sự phát triển của lịch pháp, thiên văn, y dược, thủy lợi, nhạc luật, thuật số, thương nghiệp, tiền tệ, binh pháp quân sự thời cổ, vì vậy có giá trị lớn cho việc nghiên cứu lịch sử khoa học Trung Hoa trước Tây Hán, và cung cấp tư liệu quý cho lịch sử khoa học kỹ thuật cổ đại.
Tư Mã Thiên là người khai sáng nền sử học Trung Hoa. Ông phá khuôn khổ ghi chép sự việc đơn thuần của sử sách trước, mở ra một lĩnh vực rộng cho sử học bằng nghệ thuật thông sử kỷ truyện. Ông phát huy ưu thế của thể kỷ truyện và thông sử, quan sát, soi rọi lịch sử xã hội từ nhiều góc độ, nhiều tầng lớp, một cách có hệ thống và toàn diện, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội đến kinh tế, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán. Vì vậy nó vừa đúc kết quá khứ, lại vừa dự báo tương lai.
Ông không chỉ dám viết lịch sử cổ đại mà còn dám viết lịch sử đương đại, dám vạch trần các mâu thuẫn xã hội, ca ngợi sự hưng thịnh và phê phán sự suy đổi của các triều đại. Nhờ đó tính chính trị và tính tư tưởng của tác phẩm tăng lên. Tư Mã Thiên làm cho sử sách thăng hoa, thành tấm gương của thời đại và đề cao giá trị định hướng của sử sách. Bởi vậy sự ra đời của Sử ký đánh dấu bước ngoặt quan trọng của giới sử học Trung Hoa.
Sử ký là tấm gương chính trị: khen điều tốt, chê điều xấu
Có sử gia chỉ biết ca ngợi bậc quyền thế, nhưng cũng có người khen chê thẳng thắn ngay cả với vị vua đang trị vì.
Một trong những đặc điểm lớn của Sử ký là quan điểm lịch sử mang tính chính trị sâu đậm. Nó phá bỏ quy phạm cũ kỹ chỉ biết ghi chép, tăng cường tính chính trị của lịch sử, nhờ đó đem lại sức sống mới cho sử sách. Sử ký là bộ sử yêu nước vĩ đại và là điển hình của việc biên chép lịch sử. Nó đạt đỉnh cao trong việc vạch trần bản chất xã hội, bày tỏ thái độ yêu ghét rõ ràng khi bình các nhà chính trị, phân tích rõ đúng sai của những sự kiện lớn. Vì thế nó không chỉ là bộ sử mà còn là bộ sách chính trị đồ sộ, như chiếc gương phản ánh chân thực tư tưởng chính trị suốt ba nghìn năm lịch sử Trung Hoa.
Ca ngợi cái hay, phê phán cái dở của bậc cầm quyền
Với thái độ chính trị học lịch sử chính trực, Tư Mã Thiên thẳng thắn ca ngợi cái hay, phê phán cái dở của tầng lớp cầm quyền cao nhất thời ông. Tính cách ấy không gì cao quý hơn và cũng hiếm thấy trong giới sử học. Trong "Cao Tổ bản kỷ", ông ca ngợi và đánh giá công lao thống nhất đất nước của Hán Cao Tổ Lưu Bang, nhưng đồng thời dùng bút pháp ẩn dụ phê phán thói độc tài, bạo ngược và nghi kỵ nhỏ mọn của ông ta. Sử ký còn mạnh dạn vạch thẳng mặt tối của xã hội phong kiến: trong "Khốc lại liệt truyện", qua mười viên quan tham ác bá, ông bóc trần sự thống trị bạo lực tàn khốc vào cuối thời Hán Vũ Đế.
Tình yêu, ghét rõ ràng
"Họa Lý Lăng" cho thấy Tư Mã Thiên là người rất chính trực. Nhiều bài trong Sử ký thông qua việc đánh giá đúng đắn nhân vật đã thể hiện thái độ yêu ghét mạnh mẽ, rõ ràng. Khuất Nguyên liệt truyện, Trần Thiệp liệt truyện, Kinh Kha liệt truyện, Liêm Pha Lạn Tương Như liệt truyện nhiệt thành ngợi ca những nhân vật yêu nước anh hùng. Ngược lại, qua Hạ bản kỷ, Ân bản kỷ và Chu bản kỷ, bộ sử vạch mạnh mẽ sự xấu xa, đồi bại của tầng lớp thống trị tối cao thời phong kiến và nô lệ.
Lập trường chính nghĩa
Tư tưởng của Sử ký toát lên tính chính nghĩa. Chính vì Tư Mã Thiên dám vạch trần mâu thuẫn bên trong giới cầm quyền, nên có thời Sử ký bị coi là sách chống đối, và mãi đến mấy năm sau khi ông mất, bộ sử mới được đánh giá đúng giá trị. Ông mạnh dạn ca ngợi điều thiện, vạch trần điều ác. Khi kể chuyện Hạng Vũ, ông không căn cứ thành bại mà luận anh hùng, coi Hạng Vũ ngang hàng bậc quân vương và đưa vào phần bản kỷ. Ông cũng đánh giá rất cao công đánh giặc của danh tướng Hàn Tín. Khi Hàn Tín bị Lưu Bang hãm hại và chết dưới tay Lữ Hậu, Tiêu Hà, ông kể tường tận sự việc, dùng ngòi bút khéo léo tố cáo sự bạo ngược, chuyên quyền, độc đoán và thói nhỏ mọn, ghen ghét của Lưu Bang.
Tiếng nói của người dân và của những dân tộc ít người
Trong sử cũ, người cày ruộng và người đi lính thường chỉ là cái bóng sau lưng bậc vương hầu, cho đến khi có một bộ sử gọi tên họ.
Sử ký là bài thơ tràn đầy tình yêu thương và ca ngợi nhân dân. Nó thể hiện sự đồng tình mạnh mẽ với những cuộc tranh đấu của dân. Trong "Trần Thiệp thế gia", Tư Mã Thiên kể cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng, Ngô Quảng, đây là tác phẩm đầu tiên ca ngợi lãnh tụ nông dân ở Trung Hoa, đặt nền móng cho việc viết lịch sử của dân. Trước hết ông xếp Trần Thiệp vào hàng thế gia, nâng một lãnh tụ nông dân lên ngang vương hầu khanh tướng, khẳng định vị trí lịch sử của các cuộc khởi nghĩa ấy. Hơn nữa ông đứng trên lập trường của dân, nhiệt thành ca ngợi tác dụng của cuộc khởi nghĩa.
Tính nhân dân còn thể hiện ở việc phản ánh nỗi khổ của dân. "Trần Thiệp thế gia" kể hàng loạt nông dân bị bắt đi lính, chịu cực nhọc nơi trận mạc lại còn bị hình phạt, giết chóc nên phải dấy cờ khởi nghĩa. "Khốc lại liệt truyện" vạch trần sự tàn bạo của bọn tham quan ác bá, đồng thời phản ánh bối cảnh xã hội loạn lạc, trộm cướp hoành hành. Tư Mã Thiên đứng về lợi ích của tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ cùng đông đảo tầng lớp trung, hạ lưu, vạch trần sự áp bức của đại địa chủ và đại quan liêu, nên tính nhân dân của Sử ký rất sâu đậm.
Sử ký còn là một bộ lịch sử về các dân tộc ít người của Trung Hoa. Tư Mã Thiên rất coi trọng họ và dành hẳn nhiều bài liệt truyện để ghi chép, gồm "Hung Nô liệt truyện", "Triều Tiên liệt truyện" và "Tây Nam Di liệt truyện". Những bài ấy kể sự kiện, nhân vật của các dân tộc ít người trước thời Hán. Trong "Hung Nô liệt truyện", ông mô tả lịch sử phát triển xã hội của dân tộc phương bắc cùng các cuộc chiến tranh và quan hệ của họ với nhà Hán; "Tây Nam Di liệt truyện" viết về sinh hoạt và tập tục người dân ở Vân Nam và Ba Thục. Nhờ vậy Sử ký cung cấp tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử các dân tộc ít người Trung Hoa.
Bức tranh trọn vẹn của mọi tầng lớp xã hội
Từ vương tướng công khanh đến anh hề lùn xấu, từ hiệp khách giang hồ đến người phụ nữ anh hùng, ai cũng có một chỗ đứng trong dòng lịch sử.
Sử ký vừa là bức tranh lịch sử hoành tráng, vừa là tác phẩm chói sáng về lịch sử xã hội hiện thực. Nhiều bài viết bằng bút pháp ký thực đều mô tả chân thực lịch sử thời đại ấy. Bộ sử không chỉ ghi lịch sử mà còn ghi lịch sử đương đại, nên lịch sử nhà Hán chiếm phân lượng rất lớn: dù chép từ Tam Hoàng Ngũ Đế đến Hán Vũ Đế, khoảng ba nghìn năm, trọng tâm vẫn là lịch sử đời Hán. Đặc biệt, Sử ký dám mô tả chính diện các cuộc khởi nghĩa nông dân, phản ánh chân thực sự đấu tranh của người lao động chống lại chế độ cai trị bạo tàn.
Bằng việc khắc họa nhân vật thuộc mọi tầng lớp, Sử ký phản ánh toàn diện bộ mặt xã hội. Nó không chỉ viết về tầng lớp trên như vương, tướng, công, khanh mà còn ghi chép nhân vật thuộc mọi giai tầng, đặc biệt mở đường cho sử sách viết về tầng lớp trung lưu và hạ lưu. Ngoài các truyện về hoàng tộc, quý tộc, còn có truyện danh sĩ như Mạnh Thường Quân, Tín Lăng Quân, và có cả những trang viết về nỗi buồn vui của một số nhân vật nữ, khắc họa hình tượng người phụ nữ anh hùng thời xưa.
Giá trị lịch sử xã hội của Sử ký còn ở chỗ khai sáng dòng sử học viết về những tầng lớp dưới. Trong "Hoạt kê liệt truyện", ông ca ngợi tài hùng biện của anh chàng xấu xí, bé lùn Thuần Vu Khôn, người trông giống anh hề. Trong "Du hiệp liệt truyện", ông ca ngợi lòng hào hiệp và khí phách của các hiệp sĩ giang hồ sẵn sàng giúp đỡ mọi nhà. Tóm lại, Sử ký là bộ lịch sử chính trị nổi tiếng, mang tư tưởng, tính xã hội và tính nhân dân mạnh mẽ.
Đạo Khổng làm nền: sùng Nho, lấy Lục kinh và Xuân Thu làm chuẩn
Người viết sử có thể đứng ở nhiều chỗ khác nhau, và chỗ Tư Mã Thiên chọn đứng là dưới bóng núi cao mang tên Khổng Tử.
Tư tưởng học thuật của Sử ký thể hiện rõ việc tôn Khổng, sùng Nho, lấy các chữ đức, nhân, nghĩa, lễ, trung, hiếu làm nền. Trong "Khổng Tử thế gia", Tư Mã Thiên đánh giá Khổng Tử rất cao, vì ông như ngọn núi cao, như bậc thánh trí. Tư Mã Thiên hết mực sùng bái Khổng Tử, luôn đề cao tư tưởng Khổng, Mạnh và nhấn mạnh nhân, nghĩa, lễ, trung, hiếu. Sử ký cũng nhấn mạnh sáu bộ kinh của Trung Hoa đều do Khổng Tử chỉnh lý, biên soạn và được các nhà Nho sùng bái. Bằng việc ghi chép lịch sử, ông thuật tư tưởng Khổng Tử từ lúc ra đời cho đến quá trình tiếp nối và phát triển, đồng thời phản ánh sức sống của dòng tư tưởng chủ đạo này.
Tư Mã Thiên tôn sùng kinh điển Nho gia, tức sáu bộ kinh. Qua các câu chuyện tả thực về nhân vật và sự việc, ông đề cao sáu bộ kinh và khẳng định giá trị của chúng ở tầm khái quát cao. Ông lấy Xuân Thu làm mẫu mực, đến mức có thể nói Sử ký là bộ sử nối tiếp Xuân Thu, nên người đời bảo Sử ký tiếp thu tư tưởng học thuật của Xuân Thu cũng là lẽ thường. Ông đặc biệt nhấn mạnh Xuân Thu là chuẩn mực của lễ nghĩa, nêu bật giá trị của Xuân Thu trong việc quan sát và đánh giá con người, sự vật, cũng như ý nghĩa của nó trong việc ca ngợi điều thiện, phê phán điều ác.
Sử ký còn phản ánh sự thật lịch sử về việc đề cao Nho học từ Hán Cao Tổ đến Vũ Đế. Trong "Cao Tổ bản kỷ", Tư Mã Thiên cho rằng Lưu Bang có lòng nhân đức nên yêu mến con người, và mở mang được giang sơn vì lấy nhân đức thu phục thiên hạ. Ông cũng đánh giá cao việc Hán Vũ Đế độc tôn Nho học: trong "Hiếu Vũ bản kỷ", ông kể Vũ Đế hết mực đề cao Nho học và chiêu hiền đãi sĩ khắp nơi. Chủ trương độc tôn Nho học cùng việc thu nạp Đổng Trọng Thư của Vũ Đế có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của Nho học và Dịch học. Ông khẳng định tư tưởng của Đổng Trọng Thư, người đặc biệt đề cao tư tưởng đại nhất thống trong Xuân Thu Công Dương, đặt nền tư tưởng cho sự nghiệp thống nhất giang sơn của Vũ Đế.
Thời đại của Tư Mã Thiên chính là thời Vũ Đế thi hành chủ trương "độc tôn Nho học" của Đổng Trọng Thư, nên bộ sử gây tiếng vang lớn và đó là quy luật tất yếu của lịch sử. Cha ông, Tư Mã Đàm, cũng từng theo học Đổng Trọng Thư, vì vậy việc ông chịu ảnh hưởng sâu của Nho học là lẽ tự nhiên.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.
