Bài tổng quan
Ngũ thanh, thập nhị luật và hơi thở âm dương trong nhạc cổ
Tiếng sóng vỗ bờ, tiếng gió trên thảo nguyên, tiếng lá xào xạc đều đủ cả cương nhu lẫn thanh đục. Người xưa nghe ra trong đó khuôn mẫu cho năm thanh mười hai luật, rồi gắn mỗi âm với một hành, một tạng, một nết người. Vì sao một nốt đàn lại có thể mang cả một tính cách...
Năm thanh, mười hai luật và chiếc cầu sang Dịch học
Tiếng sóng vỗ bên bờ biển có nhịp riêng, tiếng gió lồng lộng trên thảo nguyên có hơi thở riêng, tiếng lá xào xạc có độ run riêng. Nhẹ hay mạnh, những âm thanh ấy đều là thứ "nhạc luật" của tự nhiên, trong đó cương và nhu quấn vào nhau, thanh và đục hòa làm một. Người xưa nghe ra ở đó khuôn mẫu cho nhạc do con người làm.
Cốt lõi của âm nhạc cổ Trung Quốc là "ngũ thanh thập nhị luật". Ngũ thanh là năm bậc Cung, Thương, Giác, Chủy, Vũ. Thập nhị luật là mười hai ống nhạc chuẩn: Hoàng chung, Đại lữ, Thái thốc, Giáp chung, Cô tẩy, Trọng lữ, Nhuy tân, Lâm chung, Di tắc, Nam lữ, Vô xạ, Ứng chung. Mười hai luật ấy do sáu "luật" và sáu "lữ" hợp thành. Sáu luật ở số lẻ thuộc dương là Hoàng chung, Thái thốc, Cô tẩy, Nhuy tân, Di tắc, Vô xạ; sáu lữ ở số chẵn thuộc âm là Đại lữ, Giáp chung, Trọng lữ, Lâm chung, Nam lữ, Ứng chung. Luật là dương, lữ là âm; luật và lữ quyện vào nhau, âm dương hòa hợp, đó là vẻ đẹp tuyệt vời của nhạc luật.
Nền tảng lý luận của ngũ thanh thập nhị luật đều lấy âm dương ngũ hành làm trục, nghĩa là nó chính là chỗ ứng dụng cụ thể của lý luận âm dương trong Kinh Dịch. Nói gọn, mỹ học của nhạc cổ nối với Chu Dịch trên ba phương diện: sự hài hòa âm dương, sự kết hợp cương nhu, và cái trong cái đục. Mỗi phương diện đều có một cách nghe riêng.
Âm dương của luật lữ thông với âm dương của Dịch
Một nốt nhạc nghe thì chỉ là tiếng, nhưng người xưa đặt cho nó cả một hành, cả một mùa khí.
Năm âm Giác, Chủy, Cung, Thương, Vũ lần lượt ứng với Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Trong năm âm ấy có quá trình mạnh yếu của âm dương: Giác và Chủy thuộc Mộc và Hỏa, nghiêng về dương mạnh; Cung và Vũ thuộc Thổ và Thủy, nghiêng về âm mạnh; còn âm Thương thuộc Kim, vừa có dương vừa có âm. Các sách nhạc thư xưa giải thích mỗi nơi một khác, nhưng xét cho cùng đều dựa trên nền âm dương.
Ban Cố trong Bạch hổ thông nói về năm âm bằng những nét rất hình ảnh. Giác là sự nhảy nảy, khí dương động mà trồi lên. Chủy là sự dừng, khí dương dừng lại. Thương là sự mở bày, khí âm mở rộng còn khí dương bắt đầu hạ xuống. Vũ như mái hiên, khí âm ở trên, khí dương ở dưới. Cung là sự chứa đựng, ôm trọn bốn mùa trong mình. Mấu chốt vẫn là điều hòa âm dương, đúng như ông viết: lấy sáu luật và lịch pháp mà điều hòa âm dương.
Âm nhạc ra đời từ sự vận chuyển của âm dương trong tự nhiên, và nhạc luật hài hòa cũng là kết quả từ sự vận chuyển ấy. Tiếng sóng, tiếng gió, tiếng lá, dù nhẹ hay mạnh, đều có cương nhu kết hợp, thanh đục hòa một. Cho nên chính luật lữ là biểu hiện của tác dụng âm dương, gọi là "dương luật, âm lữ". Mười hai luật lữ còn được xếp thành bảng đối chiếu với mười hai quẻ tiêu tức của Dịch. Nguyên lý âm dương trong Kinh Dịch cứ thế thấm vào nhạc luật, ảnh hưởng sâu đến đặc tính âm dương của nhạc cổ.
Một âm một dương gọi là đạo, và nhạc cũng thế
Kinh Dịch nói "nhất âm nhất dương chi vị đạo", ý rằng âm dương luôn tác động lẫn nhau. Vạn vật trong tự nhiên đều như vậy, âm nhạc cũng thế. Dương luật và âm luật vừa nương nhau vừa chế nhau.
Cô dương bất sinh, độc âm bất trưởng.
Dương lẻ loi thì không sinh, âm đơn độc thì không lớn. Vì vậy, cái đẹp nhất của nhạc là sự vận động hài hòa như trong tự nhiên, nơi dương luật và âm luật vừa dựa nhau vừa hạn chế nhau. Tư Mã Thiên viết rằng âm do lòng người sinh, trời với người có chỗ thông nhau, như bóng theo hình, như tiếng vọng đáp tiếng.
Giới hạn cao nhất của cái đẹp âm dương nằm ở sự hòa hợp, gồm sự hài hòa của sức sống, của ngũ hành và của cương nhu. Hán thư, phần Lễ nhạc chí, tả mục đích của nhạc như sau: hòa hợp khí sống, noi theo đạo ngũ thường, khiến dương mà không tản, âm mà không dồn nén, khí cứng không thành giận dữ, khí mềm không thành yếu hèn. Bốn khí thông suốt trong lòng, phát ra ngoài, mỗi thứ yên chỗ của nó mà không giành nhau. Chừng ấy đủ làm lay động tấm lòng thiện của người nghe và khiến tà khí không có đường vào. Đó là phép lập nhạc của các vị vua xưa.
Nói cách khác, nhạc phải cùng nhịp với sức sống, ngũ hành, âm dương của vũ trụ: cứng mà không dữ dội, mềm mà không yếu ớt, thì mới lay động được con người.
Âm dương của nhạc và âm dương của con người
Nhạc sinh ra để người ta nghe, nhạc là do người làm ra, và con người cũng như thế giới tự nhiên, đều do âm dương tạo thành. Vì thế nhạc không chỉ phải thông với âm dương của trời đất mà còn phải thông với âm dương trong thân người. Nhạc điều chỉnh được âm dương của cơ thể, nhưng cũng có thể làm nó rối. Vương Sung trong Luận hành viết rằng nhạc làm loạn được âm dương thì cũng điều được âm dương.
Dịch nói "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu": tiếng giống nhau thì đáp nhau, khí giống nhau thì tìm nhau. Nhạc phải lay động được lòng người là nhờ lẽ ấy. Sử ký chép rằng mọi âm khởi lên đều do lòng người sinh; lòng người động là do vật bên ngoài làm cho động; cảm với vật mà động nên bày ra thành tiếng.
Ngũ âm thuộc ngũ hành và ứng với ngũ tạng. Giác, Chủy, Cung, Thương, Vũ ngoài ứng với Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, trong thông với Can, Tâm, Tỳ, Phế, Thận. Quan hệ giữa nhạc và thân người vì vậy rất khăng khít, và tình trạng sinh lý bệnh lý của ngũ tạng đều có thể kéo theo thay đổi trong tư tưởng. Chu Trường Văn đời Tống, trong Cầm sử, mô tả từng âm bằng một nết người:
- Cung chính thì Tỳ chính, Tỳ chính thì người ưa chữ tín. Hỏi về tiếng Cung thì thấy nó ấm áp, nhuần nhã, rộng rãi và vui.
- Thương chính thì Phế chính, Phế chính thì người ưa chữ nghĩa. Tiếng Thương cương quyết, dứt khoát, gây dựng được việc.
- Giác chính thì Can chính, Can chính thì người ưa chữ nhân. Tiếng Giác là lòng trắc ẩn và sự thương yêu.
- Chủy chính thì Tâm chính, Tâm chính thì người ưa chữ lễ. Tiếng Chủy cung kính, kiệm ước, liêm khiết.
- Vũ chính thì Thận chính, Thận chính thì người ưa chữ trí. Tiếng Vũ là sự suy nghĩ sâu và mưu tính xa.
Cương và nhu quyện vào nhau
Một khúc nhạc hùng tráng đến mấy mà thiếu một chút mềm thì thành gắt, một khúc nhạc dịu đến mấy mà thiếu một chút cứng thì thành rời rạc.
Lý luận cương nhu của Chu Dịch cũng thấm vào nhạc cổ. Năm âm đi từ thấp lên cao, từ đục sang trong, đều có sự hòa hợp cương nhu ở giữa. Từ Dưỡng Nguyên nói rằng âm có cương nhu: Thương thuộc cương mà biết nhu nên hợp với bài hát về sự ngay thẳng mà từ ái, còn có loại âm nhu mà biết cương, nên hợp với bài hát về sự ôn hòa mà quyết đoán.
Khi đánh giá một khúc nhạc, độ hòa hợp cương nhu là điều trọng yếu. Khúc có cái đẹp dương cương, hào hùng vang vang, thì trong cương vẫn có nhu. Khúc có cái đẹp âm nhu thì cũng không thể thiếu khí chất cương, nếu không thì chỉ còn nhạt mà thiếu hài hòa. Lưu Hướng cũng viết đúng ý ấy: dương mà không tản, âm mà không nén, cứng không thành giận, mềm không thành yếu.
Người ta hay phân nhạc thành Nam và Bắc. Lý Cung, trong Học nhạc lục, nhận xét rằng tiếng phương Bắc cũng có chỗ nhu hoãn nhưng phần nhiều khảng khái hào phóng, tiếng phương Nam cũng có chỗ bi tráng nhưng phần nhiều chậm rãi mềm mại. Thiên Nhạc ký thì cảnh báo cả hai đầu: tiếng thô, mạnh, vang rộng thì dân cương nghị; tiếng rộng rãi, ngọt ngào, êm thuận thì dân hiền từ, nhưng cương quá thì thành sát phạt, nhu quá thì thành dâm mị. Ở phương Bắc nhã nhạc là chính, dùng trong lễ lớn, cúng tế, tang lễ nên mang vẻ cương nghị vang vang; phương Nam phát triển nhạc thông thường, hay gặp trong ngày vui, nên dịu dàng du dương. Thế nhưng dù là nhã nhạc hay tục nhạc cũng không thuần cương hay thuần nhu, mà luôn có sự hòa hợp của hai khí.
Những vũ khúc cung đình của ba triều Hạ, Thương, Chu, được gọi chung là "Lục đại chi nhạc", gồm Đại Hạ, Đại Vũ và một bản tán dương Thành Thang diệt Hạ, là mẫu mực của nhã nhạc mang khí chất dương cương. Đại Hạ ca ngợi công trị thủy của vua Vũ, bản của Thành Thang ca ngợi việc diệt nhà Hạ, Đại Vũ ca ngợi Chu Vũ Vương đánh Trụ diệt Thương. Chúng lấy hơi thổi, hơi gõ làm chính, vang vang hào hùng, cảnh tượng hùng vĩ.
Nhạc cụ gõ thời Chu như chuông, trống có cái "cương" của mình. Quẻ Ly trong Kinh Dịch có câu gõ vò mà hát, là hình ảnh của khúc nhạc dương cương. Nhưng tám loại nhạc khí, gọi là "bát âm", gồm kim, thạch, thổ, cách, ti, mộc, bào, trúc, hợp lại thì ngũ âm đủ đầy, cương nhu hòa hợp.
Chuyện Chung Tử Kỳ và Du Bá Nha cũng kể về sự quyện ấy. Bản "Cao sơn" vang vang, khí thế hào hùng như núi cao sừng sững, bản "Lưu thủy" chậm rãi, thấp trầm, nhịp nhàng như dòng nước. Chung Tử Kỳ nghe mà khen: lớn lao thay, ý khúc nguy nga như núi Thái; đẹp thay, tình khúc mênh mang như sông lớn. Khổng Tử cũng vừa giỏi tấu nhạc kim thạch mạnh mẽ, vừa đàn cổ cầm hòa dịu. Chuông Tăng Hầu Ất thời Chiến Quốc đại diện cho nhạc kim thạch. "Cửu ca" của Sở từ là hệ nhạc hòa cương nhu, và bài "Quốc thương" vừa sục sôi vừa bi thương là mẫu mực của hòa hợp ấy. "Hồ già thập bát phách" của Thái Văn Cơ thời Hán có giọng bi tráng thê lương, khí thế bay bổng, trong nhu có cương, trong cương có nhu, xứng với lời khen "thiên cổ nhất tuyệt". Nhạc múa "Nghê thường vũ y" thời Đường nhẹ nhàng uyển chuyển, "Mãn giang hồng" thời Tống mạnh mẽ bi tráng, còn nhạc sáo Giang Nam và nhạc Quảng Đông thì dịu dàng du dương. Tất cả đều là những kiệt tác của sự vận dụng cương nhu.
Tuy nhiên cương nhu cần có mức: quá cương thì "cang", mất đi âm giai hài hòa; quá nhu thì "khuông", mất đi cái chân thực. Trong cương có nhu, trong nhu có cương mới là nhạc hài hòa.
Cái trong và cái đục của tiếng đàn
Âm luật hình thành từ luồng khí âm dương, mà khí thì có trong có đục, nên luật cũng có trong có đục. Trong ngũ âm, âm của dương thường trong, âm của âm thường đục. Đục nhất là Cung, vì Cung thông với thổ khí, thổ thì ẩm, ẩm nặng thì chìm xuống. Vũ đục nhì, vì Vũ thông thủy khí, thủy tính cũng trầm. Ở giữa là Thương, thông với Kim, Kim tính khô, nằm giữa chỗ nổi chỗ chìm. Chủy trong nhất, vì thông hỏa khí, hỏa nóng và nhẹ nên bốc lên. Giác trong nhì, vì thông mộc khí, mộc tính thăng.
Đục thì trầm lắng, nhạc nhiều âm đục hay ngưng đọng, như nhã nhạc. Trong thì nhẹ và cao, nhạc nhiều âm trong hay du dương, như tục nhạc. Về chữ "thanh" tức trong, sách Khê sơn cầm huống viết rằng đất không vắng lặng, đàn không chắc, lòng không tĩnh, khí không đủ thì đều không ra tiếng trong; hoàn cảnh, thể xác, tinh thần lẫn phép gảy đều không được nhiễm một chút ồn tục nào. Tân Đường thư chép hai mươi tám điệu tục nhạc đều đi từ đục đến trong, hạ thì thêm đục, thượng thì thêm trong, nhịp chậm thì quá nhịp, nhịp gấp thì trôi đi.
Dù âm cao hay thấp cũng không đứng một mình. Âm cao nhọn thì cần âm thấp đục điều tiết, giữa hai bên cần một âm trung mượt mà làm cầu nối. Mọi thứ đều cần hài hòa, âm nhạc cũng vậy.
Quý ở chữ hòa
Cuối cùng, nhạc cổ đặt chữ "hòa" lên trên hết. Chịu ảnh hưởng Nho gia, nó lấy "quý hòa" làm tiêu chuẩn thẩm mỹ, và Khổng Tử đã nói: vui mà không dâm, buồn mà không thương tổn. Phép "tam phân tổn ích", tính luật bằng cách bớt một phần ba hoặc thêm một phần ba, cũng dựng trên chữ hòa.
Hòa ở đây là âm dương hài hòa, thăng giáng hài hòa, trong đục thống nhất, tiếng cao tiếng thấp cùng nhau. Chữ hòa không chỉ nằm ở âm giai mà còn là sự hợp nhất giữa nhạc với người, giữa thiên nhiên với người. Nho gia cho rằng nhạc hòa với xã hội là mức hòa cao nhất. Đạo gia cho rằng nhạc dung hòa với tự nhiên mới là điều kiện cao nhất. Nhưng tự nhiên thì dễ điều hòa, xã hội mới khó hợp. Nhạc không thể tách khỏi xã hội, càng không thể bay xa khỏi xã hội. Câu hỏi của Mạnh Tử nói điều ấy rất gọn: vui một mình, hay vui cùng người, bên nào vui hơn? Không bằng vui cùng người. Trang Tử thì nhấn mạnh "cùng trời mà vui", gọi là "thiên nhạc". Quan điểm nhạc của Lão Tử còn xa hơn: không cùng người vui mà cũng không cùng trời vui, hướng đến một thứ nhạc vượt hiện thực, vượt âm hưởng, và ông nói năm âm làm điếc tai người.
Còn trong sáng tác, tôn chỉ "quý hòa" là sự hài hòa âm dương, cương nhu, trong đục. Lễ ký ghi cái đạo ấy: hòa hợp khí sống, noi theo ngũ thường, dương mà không tản, âm mà không dồn nén, cương khí không thành giận, nhu khí không thành yếu, bốn khí thông suốt trong lòng rồi phát ra ngoài, mỗi thứ đều yên ở vị trí của nó mà không giành nhau.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
